THIỀN ĐẠO YẾU HỌC
(Tác phẩm của Pháp Loa)
(34a) I. Lời khuyên người xuất gia tiến tu đạo nghiệp
Kính khuyên tất cả những người xuất gia học đạo hãy xét kỹ những lời này: Chúng ta nghiệp dày, phước mỏng, sinh vào lúc chẳng gặp Chánh pháp, đức Thích Ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sinh, Thánh hiền vắng bóng, tà pháp thịnh hành, than ôi, thương thay!
Những người xuất gia vốn nguyện báo bốn ân (26) sâu, mong cứu giúp ba đường khổ (27), nếu muốn đạt được tâm Phật, ý Tổ, biết rõ lẽ sống chết, thì trước hết phải học hai pháp. Thế nào là hai?
Một, học ba thứ pháp; hai, học pháp cầu Thầy.
-
Ba (34b) thứ pháp là: Trước hết hiểu rõ Tông sư, thứ đến phân biệt chân ngụy, sau hết biết việc thiện ác.
-
Pháp hiểu rõ Tông sư như kinh Bản Hạnh nói: Từ trước đến nay Tổ sư thuyết pháp là những
ai? Có bao nhiêu người đắc đạo, nối pháp truyền tông? Đến nay, Thầy nào Tăng chúng có thể theo học?
-
Pháp phân biệt chân ngụy: Nếu là pháp chân chính thì thường giữ Giới luật, y theo giáo pháp mà tiến tu. Nếu là pháp trá ngụy thì như Đại Tuệ Lục nói: Bàn luận ngoại đạo, ức đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.
-
Biết việc thiện ác: Nếu gần gũi bạn tốt thì được khuyên bảo sám hối, để diệt trừ những tội lỗi (35a) trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn… Nếu gần gũi bạn xấu thì miệng tuy nói xuất gia mà tâm làm việc thế tục, tự làm rồi dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.
Đó là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.
2. Pháp cầu Thầy: Như trong lễ tán nói: Thường ở trong Tùng lâm của thiện tri thức đi sâu vào khuôn vức của Tổ sư.
Đó là chọn bạn, tìm Thầy vậy. Nếu ai đủ cả hai pháp ấy, tức đạt được tâm Phật, ý Tổ, biết rõ lẽ sống chết. Nếu các người bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, mà tự xưng là tu
hành, thế là tu hành cái đạo gì vậy? Các (35b) người hãy xét lời ta nói. Kinh đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “Mười tháng mang thai, ba năm bú mớm” ân nào hơn thế, mà các người còn bỏ được, huống gì người dưng lại khư khư chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ! Thế là không bị trói lại tìm trói, không bị buộc lại tìm buộc, chỉ biết tham cầu lợi dưỡng, chẳng nghĩ đến trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu, không biết, đó đều là bọn vô minh vậy.
Từ trước các Tổ sư hành đạo tu thiền, thênh thanh như hư không, đi lại tùy thích, hoặc Nam, hoặc Bắc tham Thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi (36a) lợi tha. Đó mới thật là Phật pháp.
II. Buổi khai đường thuyết pháp của Trúc Lâm Đại Tôn Giả ([1]) Ngày mồng 9 tháng giêng nhuần, năm Bính ngọ (1306), Trúc Lâm Đại Tôn Giả đến viện Kỳ Lân, lúc mở đầu buổi tham vấn, Ngài chỉ pháp tòa nói:
“ Tòa này là cái giường mây khúc lục (28) vậy. Đó là kim nghê bảo tòa, ngồi lên mà phán đoán lời lẽ của Phật, Tổ thì khó khăn biết chừng nào !”
([1]) Đầu đề do dịch giả thêm
Ngài bèn niêm hương khấn:
- Một nén hương nầy khói lành thơm phức, khí lành tỏa khắp, ngưng động năm phần pháp thân (29), dâng cúng khắp cả mười phương (30). Đốt ở trong lò, ngưỡng mong (36b) mười phương gia hộ, chín miếu (31) ứng linh, ngọc lịch (32) miên trường, ngôi trời bền vững.
Một nén hương này, rễ mầm thanh tịnh, chủng tính ly kỳ, không mượn sức lực điểm tô, toàn nhờ tri kiến huân tập. Đốt ở trong lò, nguyện cầu gió hòa mưa thuận, nước trị dân an, Phật nhật huy hoàng, pháp luân thường chuyển.
Một nén hương nầy, đun sôi không chín, nấu mãi không nhừ, đập vào không vỡ, vo lại không tụ, nhìn đến thì tròng mắt khô kiệt, ngửi đến thì (37a) óc não vỡ tan. Đốt ở trong lò, nguyện dâng lên bậc Vô nhị Thượng nhân Tuệ Trung Đại Sĩ, mưa pháp thắm nhuần, cháu con đều gội.
Đến pháp tòa, bước lên tòa (vị thượng thủ đánh kiền chùy v.v…), Sư nói:
- Nếu đại chúng hướng về đệ nhất nghĩa đế (33) mà nói thì động niệm là sai, mở miệng là lầm, thế thì phải lãnh hội thế nào? Quán sát thế nào? Hôm nay hãy nhắm vào đầu mối thứ hai mà nói, há chẳng được sao?
Rồi ngoảnh nhìn tả hữu nói tiếp:
_ Có người nào trong đây là không đủ con mắt to lớn ấy (37b) đâu. Nếu có thì hai hàng lông mi không mất một sợi. Bằng không thì bần đạo không khỏi mở miệng lảm nhảm đưa ra những lời công bố hủ nát nhàm chán để cho các ông nhận lấy một phần cốt yếu mà thôi. Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe!
Này nhé, đạo lớn cao rộng như hư không, nào có ràng, nào có buộc; bản tánh sáng trong ngưng đọng, không có thiện, không có ác. Bởi do lựa chọn mà sinh ra tắt ngang lắm ngả, lệch một mảy may đất trời xa cách. Phàm thánh vốn chung một lối, phải trái đâu được phân chia. Cho nên biết rằng tội phúc vốn không, rốt cuộc nhân quả chẳng thực. (38a) Người người đều có đủ, ai nấy đã viên thành. Phật tính, pháp thân như hình với bóng, khi ẩn khi hiện, chẳng dính, chẳng rời. lỗ mũi chúc xuống ngay trước mặt, lông mi mọc ngang trên vành mắt, há dễ thấy đâu! Nếu chạy đi tìm thì không thấy đạo. Ba nghìn pháp môn (34) cùng quy về một tấc dạ, hà sa diệu dụng đều tại nguồn tâm. Các môn Giới, Định, Tuệ, các người không thiếu, nên quay về suy nghĩ nơi mình. Phàm những tiếng ho hen, nhướng mày chớp mắt, chân bước tay cầm,
đó là tính gì? Biết được tính ấy, đó là tâm gì?
Tâm tính bừng sáng thì hiểu được cái nào (38b) đúng, cái nào chẳng đúng.
Pháp tức tính vậy, Phật tức tâm vậy, thì tính nào chẳng phải pháp? Tính nào chẳng phải Phật? Tâm tức là Phật, tâm tức là pháp. Nhưng pháp vốn chẳng là pháp nên pháp là tâm, tâm vốn chẳng phải tâm, nên tâm là Phật.
Này các ngươi! Thì giờ thắm thoát trôi qua, mạng sống không hề dừng lại. lẽ nào ăn cháo ăn cơm mà không biết tham cứu công việc chén bát đũa muỗng.?
Bấy giờ có vị Tăng bước ra thưa:
Mặc áo ăn cơm việc rất thường
Cần chi để bụng sinh nghi vấn?
Nói xong, đảnh lễ, đứng dậy hỏi;
Cõi Thiền không có dục thì không hỏi, còn cõi dục không có Thiền, (39a) xin Thầy dạy cho một câu.
Sư giơ tay chỉ vào hư không.
Vị Tăng nói:
_ Dùng đờm dãi cổ nhân làm gì?
Sư đáp:
_ Một lần nhắc lại, một lần mới.
Vị Tăng hỏi:
_ Người xưa đều hỏi: Thế nào là Phật? Thế nào là Pháp? Thế nào là Tăng? Câu hỏi thế nào ấy sự thể như thế nào?
Sư đáp:
_ Thế nào, sự thể thế nào?
Vị Tăng nói:
_ Đàn không dây gãy tri âm ít
Cha tấu con hòa khúc điệu cao.
Một hôm Sư nghe đệ tử tụng kinh, bèn hỏi:
_ Tăng chúng làm gì đó?
Có vị Tăng bước ra thưa:
_ Tăng chúng đang niệm tâm Phật.
Sư nói:
_ Nếu bảo đó là tâm, thì tâm tức không Phật. Nếu bảo đó là Phật, thì Phật (39b) tức không tâm. Vậy gọi cái gì là tâm?
Vị Tăng im lặng.
Sư lại hỏi tiếp một vị tăng khác:
_ Tăng chúng đang làm gì?
Vị Tăng đáp:
_ Niệm Phật.
Sư nói:
_ Phật vốn không tâm, niệm cái gì?
Vị Tăng đáp:
_ Niệm việc đó.
Sư nói:
_ Đó là việc gì?
Vị Tăng đáp:
_ Không biết.
Sư nói:
_ Ông đã không biết thì người nói đó là ai?
Vị Tăng im lặng.
Sư tiếp:
_ Hang kiến làm vỡ đê
Mảy che bụi trần mắt
Một nết đã hỏng rồi.
Trăm nết đều hỏng tất.
Trân trọng.
III. Nói rộng ba sự học Thượng thừa để khuyên chúng
Người học Phật trước tiên cần thấy tính. Thấy tính không phải là thấy những cái (40a) có thể thấy mới gọi là thấy, mà là phải thấy những cái không thể thấy. Cho nên, thấy được cái thấy
không thể thấy, thì chân tính sẽ hiện ra. Tính thấy là vô sinh thì cái thấy sinh chẳng có, cái tính chẳng có là thực nên cái thấy thực không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tính.
Sau khi thấy tính phải giữ gìn Tịnh giới kiên cố. Thế nào là Tịnh giới? Đó là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn nên cảnh đến vẫn an nhàn, mắt không bị thức lôi cuốn mà hướng ra ngoài, thức không bị cảnh níu kéo mà hướng vào trong. Ra vào không giao tiếp nhau nên gọi là ngừng nghỉ. Tuy gọi là ngừng nghỉ mà không phải ngừng nghỉ. Do đó (40b) nên biết tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng đều như vậy. Đấy gọi là giới Đại thừa (35) là giới Vô thượng, cũng gọi là giới Vô đẳng đẳng (36). Tiểu giới này, dù Tiểu Tăng cho đến bậc Đại Tăng đều có thể gìn giữ. Do giữ giới này kiên cố không dao động, mới bắt đầu tu Thiền, thân và tâm đều xả bỏ. vả lại yếu chỉ của Thiền định là trước phải định tâm, thường tự suy nghĩ: thân này từ đâu tới? Tâm này từ đâu có? Tâm không thể có thì do đâu có thân? Thân tâm đều không, thì pháp từ đâu có? Pháp không thực có, vì không có cái có. Cái có là chẳng phải có mà có thì cái có làm sao có được? Cái có (41a) đã là không thì không có pháp có. Pháp là bắt chước cái chẳng phải pháp, thì
pháp dựa vào đâu? Không nương không dựa nên pháp vốn chẳng phải pháp. Pháp này không thật nhưng cũng không phải không thật. Chứng được pháp thật này mới có thể chứng được Thiền định. Người tu thiền không được chấp vào dụng công. Dụng công mà không thấy có dụng công, gọi là Thiền thượng thừa (37). Bên ngoài tham cứu Thoại đầu (38) không cho gián đoạn, miên mật liên tục, cũng không có kẻ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử (39) cũng không hôn trầm (40). Cực kỳ linh hoạt như viên ngọc lăn trên mâm, ánh sáng lung linh như gương trên đài. Đến được chỗ ấy thì đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm (41b) cũng được, nói cũng được mà im lặng cũng được, có chỗ nào là không được? Khi đã được như vậy thì mới khơi dậy “Tam quan ngộ cú (41)”, “Tam huyền tam yếu” (42), “Ngũ vị (43)”, mới xét kỹ về “Tứ liệu giãn (44)” “Tứ tân chủ (45)” “ Tứ chiếu dụng (46)”. Cơ mầu của các Thiền Tổ bảy khe tám lỗ, lật qua trở lại, thấu triệt chân nguyên, mới có thể mượn pháp tòa của bậc Đăng Vương. Nắm sừng thỏ, cầm lông rùa (47), múa may một hồi, làm hoa mắt bốn chúng. Đúng vào lúc ấy, mới phát huy được diệu tuệ vô thượng, chiếu sáng không cùng. Đối với Tứ Vô lượng tâm, Tứ niệm xứ, Tứ Vô úy, Bát chánh (42a) đạo, Thập lực của Phật (48), Mười tám pháp bất cộng (49), cho đến 84.000 môn Đà-la-
ni (50), trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội (51) đều từ nơi mình lưu xuất, tất cả đều đầy đủ. Khi trí tuệ đã đầy đủ, liền bố thí cho chúng sinh, nguyện lực không cùng, tự giác, giác tha, tứ sinh (52) và cửu loại (53), tất cả đều thắm nhuần. Bởi vì có Tuệ mà không Định gọi là Tuệ khô, có Định mà không Tuệ gọi là Thiền si.
Thiền có năm bậc: một là Thiền phàm phu, hai là Thiền ngoại đạo, ba là Thiền Tiểu thừa, bốn là Thiền Đại thừa và năm là Thiền Thượng thừa. Thiền nói ở đây chính là Thiền Thượng thừa vậy. (42b) Thiền này từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na (54) trải qua vô số kiếp không thể kể xiết đến Đức Thích-ca-mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống hai mươi tám vị Tổ Ấn độ và sáu vị Tổ Trung Hoa, Tổ Tổ trao tay, truyền khắp bốn phương, tính không thể hết. Các Ngài đều do Giới này, Định này, Tuệ này mà được chứng ngộ chứ không do pháp nào khác.
Này các môn đệ, nay các ngươi đã vào trong chùa, làm người con Phật, mà lại theo thói phù hoa để cầu danh tiếng, không chịu tham cứu chỗ ấy. Chỗ nào là chỗ hạ thủ của chư Phật, chư Tổ? Chỗ nào là chỗ dụng công của ngoại đạo, Tiểu thừa? Luống để cho tháng lại ngày qua (43) lăng xăng tìm cầu bên ngoài, một phen cái chết đến thì phải làm sao? Nơi nào là chỗ an thân lập mệnh? Vả
lại, ba nghìn oai nghi (55), tám vạn tế hạnh (56), phần của mình không được mảy may nào, ngày đó vua Diêm Vương chẳng tha cho người đâu! Sao các người không chịu xét lại? Chớ lấy việc trong mộng cho là lời nói (thật), rồi bác bỏ nhân quả, hoang mang mờ mịt, chuốc lấy tai ương. Như thế, chẳng những làm suy đồi Tông môn, mà còn khiến cho Chánh pháp điêu tàn!
Ôi! Ta còn biết nói gì hơn!
IV Nói về những điều cốt yếu của Đại thừa
(43b) Nếu nói một cách tóm tắt sự học từ cạn đến sâu thì có thể bao gồm trong ba tuệ là: nghe, suy nghĩ, tu tập. Tóm lại, sách Bát Nhã Sao nói: “ Trước phải nghe pháp mà hiểu biết, gọi là Văn tuệ. Tiếp theo cân nhắc những gì đã nghe, chọn lọc giáo lý phân minh, suy nghĩ để in sâu vào tâm trí, gọi là Tư tuệ. Sau đó, căn cứ vào những điều đã nghe và suy nghĩ mà thực hành, không sai lầm, gọi là Tu tuệ”. Hai việc trước thuộc hữu lậu (57), một việc sau thuộc vô lậu (58). Trước cạn sau sâu, sâu cạn tuy khác, nhưng đều gọi chung là Tuệ. Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu ai được nghe, hiểu, suy nghĩ, tu tập, thì biết người ấy đã gần đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. (59)
(44a) Lại bảo cho biết, sách Giáo Lý Hành
Quả nói: “ Từ giáo mà hiểu rõ lý, nhân lý mà thực hành, thực hành thành tựu sẽ chúng quả vị nên gọi là Giáo Lý Hành Quả”.
Nay lược nêu vài điều để chỉ rõ điểm cốt yếu của sự học. Nếu ai hiểu rõ điều này thì sẽ thông suốt điều kia. Cho nên Cổ đức nói: “Học một kinh thì muôn kinh đều hiểu” là muốn nói nghĩa này. Người học phải xét kỹ để am tường lẽ đó.
V. Cần phải hiểu rõ cách học
Người học đạo trước phải vin theo kinh sách, sau mới tu hành. Kinh có năm bậc, pháp có bốn pháp.
Năm bậc kinh là:
-
Bậc Tư lương, tức Thập (44b) tín (60).
-
Bậc Gia hạnh, tức Thập trụ (61).
-
Bậc Kiến đạo, tức Thập hạnh (62).
-
Bậc Tu đạo, tức Thập hồi hướng (63)
-
Bậc cứu cánh, tức Thập địa (64)
Bốn pháp là:
-
Chọn bạn.
-
Nghe đạo.
-
Giữ đạo.
-
Chứng đạo.
Bậc Tư lương thứ nhất là ruộng phước
chung còn bốn bậc sau là đường lối tu hành riêng. Bốn bậc này phối hợp với bốn pháp vậy.
-
Phép chọn bạn gồm có hai: không nên gần gũi và nên gần gũi.
Không nên gần gũi với bốn hạng Tăng si mê: 1- Tăng tham lam: 2- Tăng độc ác; 3- Tăng dối trá; 4 – Tăng không có niềm tin.
Không nên gần gũi với bốn hạng Thầy lầm lỗi: (45a) 1_ Thầy tà vậy; 2- Thầy ngoại đạo; 3 – Thầy ganh tỵ; 4 – Thầy nhỏ nhen.
Không nên gần gũi với bốn hạng bạn hèn kém: 1- Chấp pháp Tiểu thừa; 2 – Tham cầu phước báo; 3 – Chấp tướng nhân ngã; 4 – Không có trí tuệ.
Những hạng người như vậy không nên gần gũi.
Trái lại nên gần gũi với Tăng chúng, sống theo Lục hòa: Thân hòa cùng chung sống; Miệng hòa không tranh cãi; Ý hòa không nghịch nhau; Kiến hòa cùng tìm hiểu; Giới hòa cùng giữ gìn; Lợi hòa cùng chia xẻ.
Nên gần gũi với bốn hạng Thầy chân chánh: 1- Thầy có Tông phái chân chánh; 2 – Thầy có tâm niệm chân chánh; 3 – Thầy có hành vi chân chánh; 4 – Thầy có lời nói chân chánh.
Nên gần gũi với bốn hạng bạn ưu tú: 1 – Học pháp Đại thừa; 2 – Xem nhiều kinh điển; 3 – Can gián việc trái (45b). 4 – Hoạn nạn giúp nhau.
Những hạng người như vậy nên gần gũi. Đây thuộc về bậc Gia hạnh.
b. Pháp nghe đạo: Nhờ gần gũi Thầy bạn mà giác ngộ được chánh Tông, lìa bỏ pháp tướng, thường gìn giữ nội tâm. Đây thuộc về bậc Kiến đạo.
c. Pháp giữ đạo: Khi đã giác ngộ được chánh Tông, nên chọn nơi mà ở. Nơi núi hiểm, nước độc không nên ở, mà nên ở những nơi có bốn điều kiện: 1 – Nước; 2 – Lửa; 3 – Cơm; 4 – Rau. Đó là nơi có đủ bốn điều kiện. Lại nữa, chỗ ở không nên gần dân chúng, và không nên xa dân chúng. Vì gần thì huyên náo mà xa thì không có người giúp đỡ. Những chỗ như vậy thì nên ở (đây thuộc về Tu đạo).
d. Chứng đạo: Ở đó thì dứt trừ các nghiệp, nuôi dưỡng tinh thần, vun bồi trí tuệ, tâm Bát_(46a) nhã có ký tính, nuôi lớn Thánh thai, chứng được đạo quả. Đây thuộc về bậc Cứu cánh. Đạo pháp đã viên mãn, siêu phàm nhập Thánh vậy.
Phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa dẫn chứng câu nói trong kinh A-hàm rằng: “Lánh xa bốn hạng bạn xấu, gần gũi bốn hạng bạn tốt.
Lánh xa bốn hạng bạn xấu: 1. Bạn xấu làm ra
vẻ thân thiện: Sợ hãi phục tùng, nhưng thực tình không thân thiện; 2 – Bạn xấu có lời nói đẹp: Lời thuận mà ý nghịch; 3 – Bạn xấu tỏ vẻ kính thuận: Lòng tuy kính thuận, nhưng đối với việc làm thiện hay ác của ta đều phục tùng, không có ý can gián nhau; 4- Bạn xấu cùng làm việc ác; hoặc cùng uống rượu, (46b) cờ bạc, dâm đãng, ca múa v.v…
Gần gũi bốn hạng bạn tốt: 1- Bạn tốt ngăn cản điều trái: Khuyên bỏ điều ác; 2- Bạn tốt có lòng nhân từ: Thương xót những nỗi khổ; 3- Bạn tốt làm lợi ích cho người: Chia sẻ những niềm vui; 4 – Bạn tốt đồng sự: Cùng làm việc thiện.
Nay thấy có kẻ học đạo, chưa nghe đạo đã tự xưng là tu đạo. Tu đạo gì vậy? Cổ đức nói: “Ăn được vài cọng rau, đã tự xưng là ăn chay theo đạo Tổ sư”. Lại nói như con trâu suốt đời ăn cỏ mà có thành Phật bao giờ?”. Cho nên Tuệ Trung nói:
“Ăn thịt hay ăn cỏ,
Chúng sinh từng loài đó,
Xuân về trăm cỏ sinh
Tội phước làm gì có!”
(47a) Lý Nguyên (65) nói: “ Ba chục năm qua tìm kiếm khách”. Đó là mong được nghe đạo để mà tu đạo vậy.