Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tam Tổ Thực Lục

Tam Tổ Thực Lục

Tác giả: Thích Phước Sơn dịch và chú. Năm xuất bản: 1995. Số trang: 108.

Chương 9: Những Diễn Biến Về Quyền Tổ Gia Thực Lục (Trang 90 - 107)

NHỮNG DIỄN BIẾN VỀ
QUYỂN TỔ GIA THỰC LỤC (*
)


 
Quyển Tổ Gia Thực Lục này, vào khoảng niên hiệu Tuyên Đức (1426 – 1435) đời nhà Minh, Thượng thư Hoàng Phúc thấy được liền mang về nhà Minh. Trải qua năm tháng, ông thường nằm mơ thấy Sư bảo phải gởi trả sách về bản quốc, nhưng con cháu ông chưa gặp cơ hội thuận tiện đặng gởi trả lại. Do đó, nguyện xin lập (60b) chùa tại làng mình để phụng thờ. Nhân cầu đảo mà được linh ứng, nên đặt tên chùa là “An Nam Thiền Sư Huyền Quang Tự”. Đến khoảng năm Gia Tĩnh (1522 – 1558) nhà Minh, Tô Xuyên Hầu (69) đi sứ sang nhà Minh, tới 19 năm sứ giả mới trở về. Cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa Tổ, làm quan chuyển vận, cũng thường mộng thấy Sư bảo phải gởi trả sách về nước, nên đã gởi cho Tô Xuyên Hầu đem về. Nhân đó, kể lại việc kia. Bấy giờ, ông còn phụng sự triều Minh. Trình Tuyền Hầu (70) nhân đến chúc mừng đoàn sứ giả về nước, bèn nhận sách đem về. Sau đó, Trình Tuyền Hầu có làm văn chú thích sách này.
 

* Đầu đề do dịch giả đặt.
 
CHÚ THÍCH
  1. Đức Biến Chiếu Tôn: Một trong những danh hiệu để gọi đức Giáo chủ của Mật giáo.
  2. Tuệ Trung Thượng Sĩ: Tức Trần Tung (1230 – 1291) tước hiệu Hưng Ninh Vương, là con trai đầu của An sinh Vương Trần Liễu và anh cả của Trần Hưng Đạo. Thiền học của ông rất uyên thâm, siêu việt, Điều Ngự Trần Nhân Tông từng tôn thờ ông làm thầy dạy đạo cho mình.
  3. Mười hai hạnh đầu đà: Tức là 12 Phạm hạnh dùng để đối trị thân tâm, đoạn trừ các phiền não cấu uế: 1. Ở nơi A-lan-nhã; 2. Thường đi khất thực; 3. Khất thực tuần tự, không phân biệt giàu nghèo; 4. Mỗi ngày chỉ ăn một bữa; 5. Ăn uống có điều độ; 6. Sau buổi trưa không dùng các chất bổ dưỡng; 7.Mặc y chấp vá; 8. Chỉ dùng có ba y; 9. Ở những nơi nghĩa trang; 10. Nghỉ ngơi bên gốc cây; 11. Ngồi chỗ khoảng đất trống; 12. Chỉ ngồi chứ không nằm.
  4. Tám chữ: Có nhiều thuyết. Một là: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm ( Nên sinh cái tâm không chấp trước  vào bất cứ điều gì); hai là: Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc ( Sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui); hoặc là tám chữ chân ngôn của Bồ-tát Văn Thù: Om-àh-vi-ra-hùm-kha-ca-rah.
  5. Công án: Những lời nói hợp với cơ duyên của Phật,
Tổ dùng làm phép tắc tham Thiền, tu học cho hành giả gọi là Công án, hay còn gọi là Thoại đầu.
  1. Lục thông: Chỉ sáu năng lực siêu việt thế gian, tự do vô ngại: 1. Thần túc thông: tự do vô ngại, tùy theo ý muốn có thể hiện thân bất cứ nơi nào; 2. Thiên nhãn thông: thấy được mọi sự sinh tử khổ vui của chúng sanh trong sáu đường; 3. Thiên nhĩ thông: nghe được mọi tiếng nói khổ vui, mừng sợ của chúng sanh trong sáu đường; 4. Tha tâm thông: biết được tâm tư của mọi chúng sanh trong sáu đường; 5. Túc mạng thông: biết được các đời sống quá khứ của mình và tất cả chúng sanh trong sáu đường; 6. Lậu tận thông: đã đoạn tận tất cả phiền não lậu hoặc.
  2. Lang gia: Thiền sư đời Bắc Tống, hiệu Tuệ Giác, đắc pháp với Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu, sau về ở núi Lang Gia, xiển dương Tông phái Lâm Tế. Người đời bấy giờ gọi Sư là Lang Gia Tuệ Giác.
  3. Linh Vân: Thiền sư đời Đường, hiệu là Chí Cần, nối dòng pháp của Thiền sư Đại An ở Trường Khánh. Ban đầu ở núi Quy Sơn, nhân thấy hoa đào nở mà giác ngộ. Năm sinh và tịch của Sư không rõ.
  4. A-tỳ-ngục: Từ dịch âm của chữ Phạn Avìci, Hán dịch là Vô gián địa ngục. Nghĩa là tội nhân trong cõi này bị hành hạ đau khổ liên tục, không bao giờ gián đoạn.
  5. Ba mươi hai tướng tốt: Chỉ cho thân ứng hóa của
Phật và Chuyển luân Thánh vương có đầy đủ 32 tướng thù thắng vi diệu: 1. Lòng bàn chân bằng phẳng; 2. Dưới bàn chân có những chỉ nhỏ kết thành hình bánh xe nghìn căm; 3. Ngón tay dài, đẹp; 4. Gót chân rộng, tròn trịa; 5. Kẻ ngón tay, ngón chân đều có màng lưới mỏng; 6. Mu bàn chân cao, bằng và đẹp;.7. Đùi tròn như đùi nai; 8. Đứng thẳng, tay dài quá gối; 9. Tướng mã âm tàng; 10. Thân tròn, thẳng như cây ni-câu-lô-đà; 11. Mỗi lỗ chân lông chỉ có một sợi lông;12. Lông hướng lên và xoay bên phải; 13. Sắc thân sáng như vàng ròng; 14 Hào quang tỏa chung quanh một trượng; 15. Da mỏng đẹp; 16. Bảy chỗ trong thân đầy đặn; 17. Dưới hai nách bằng đẹp; 18. Phần trên thân như sư tử; 19. Thân hình đẹp đẽ, đoan nghiêm; 20. Vai tròn đẹp; 21. Có bốn mươi cái răng; 22. Răng trắng bằng, khít khao, chân răng sâu; 23. Bốn răng cửa trắng và lớn; 24. Má vuông như má sư tử; 25. Trong cổ tiết ra dịch vị thượng hảo; 26. Lưỡi lớn, rộng, dài và mỏng; 27. Giọng nói nghe vang xa; 28. Tiếng nói thanh như tiếng chim Ca-lăng-tần-già; 29. Tròng mắt trong xanh; 30. Lông mi như lông mi trâu chúa; 31. Trên đỉnh đầu có nhục kế; 32. Giữa hai hàng lông mày có lông trắng đẹp, xoay bên phải. (theo Kinh Tọa Thiền Tam Muội).
(11) Tám mươi tướng phụ: Chỉ cho thân của Phật và Bồ-tát có đầy đủ 80 vẻ đẹp: 1. Tướng đặc biệt trên đỉnh đầu, người thường không thấy; 2. Mũi cao, thẳng đẹp, lỗ mũi không bày ra; 3. Chân mày như trăng
lưỡi liềm, xanh như lưu ly; 4.Tai đẹp; 5.Thân khỏe mạnh như lực sĩ Na-la-diên; 6. Xương mắc nhau như dây xích;.7. Khi xoay mình như voi chúa;.8. Khi đi chân cách đất bốn tấc mà vẫn có dấu chân;.9. Móng tay như sắc đồng đỏ, mỏng và bóng; 10. Đầu gối tròn đẹp; 11. Thân sạch sẽ; 12. Thân mềm mại; 13. Thân không khom; .14. Ngón tay tròn, vót; 15. Chỉ tay như bức tranh đẹp;. 16. Mạch máu nằm sâu, không bày ra; 17. Mắt cá không lồi; 18. Thân bóng láng; 19. Thân thăng bằng, không xiêu vẹo; 20. Thân thể đầy đặn; 21. Dung nghi chững chạc;.22. Khi đứng vững vàng; 23. Uy vang khắp nơi; 24. Mọi người đều thích nhìn; 25. Mặt không dài; 26. Dung mạo đoan chánh; 27. Môi đỏ như trái tần bà; 28. Mặt tròn đầy; 29. Giọng nói hùng hồn; 30. Rún sâu, tròn không bày ra; 31. Lông mọi nơi đều xoay bên phải; 32. Chân, tay no tròn;33. Tay chân được như ý; 34. Những đường chỉ ở bàn tay, bàn chân thẳng, rõ ràng; 35. Chỉ tay dài; 36. Chỉ tay không đứt đoạn; 37. Tất cả chúng sanh có ác tâm khi trông thấy Ngài đều lộ vẻ vui mừng; 38. Mặt rộng đẹp; 39. Mặt như mặt trăng; 40. Chúng sanh thấy không khiếp sợ; 41. Lỗ chân lông tỏa hương thơm; 42. Miệng thoảng hương thơm, chúng sanh ngửi được vui suốt bảy ngày; 43. Dung nghi như sư tử; 44. Đi đứng như voi chúa; 45. Cách đi như ngỗng chúa; 46. Đầu không tròn, không dài như trái ma-dà-na; 47. Tiếng nói đầy đủ âm điệu (tiếng nói có 60 âm điệu, Phật đủ cả); 48. Răng bén; 49. Lông mềm và sạch; 50. Lưỡi lớn và đỏ; 51. Lưỡi mỏng;
52. Lông toàn màu hồng, ngời sáng; 53. Con mắt lớn dài; 54. Các lỗ trên thân đầy đặn; 55. Tay chân trắng đỏ như màu hoa sen; 56. Rún không bày ra; 57. Bụng không lồi lên; 58. Thân không động; 59. Thân nặng; 60. Thân lớn; 61. Thân cao; 62. Chân tay sạch sẽ; 63. Khi đi hào quang tỏa ra xung quanh một trượng; 64. Xem chúng sanh bình đẳng; 65. Không tham đắm sự giáo hóa, không ham đệ tử; 66. Tiếng nói vừa đủ hội chúng nghe rõ, không lớn, không nhỏ; 67. Thuyết pháp cho hội chúng tùy theo ngôn ngữ của họ; 68. Nói năng không trở ngại; 69. Thuyết pháp tùy nhân duyên theo thứ lớp; 70. Tất cả chúng sanh dù nhìn kỹ cũng không thể thấy hết được tướng tốt; 71. Ngắm mãi không chán; 72. Tóc dài và đẹp; 73. Tóc xoắn đẹp; 74. Tóc chẳng rối; 75. Tóc không chẻ ra; 76. Tóc mềm mại; 77. Tóc vắt lên trên; 78. Tóc xanh màu lưu ly; 79. Tóc không thưa; 80. Ngực có chữ Vạn, tay chân có chữ Cát (Theo Kinh Tọa Thiền Tam Muội).
(12) Triệu Châu: Thiền sư đời Đường, hiệu Tùng Thẩm (778 – 897), đệ tử đắc pháp của Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện, ở Viện Quan Âm, Xiển dương Thiền Tông hơn 40 năm, rất nổi tiếng trong Thiền lâm, thọ 120 tuổi.
(13) Hằng hà sa số: Số cát sông Hằng, chỉ một số lượng quá nhiều không thể đếm được.
(14) Đập ngói, xoi rùa: ý nói làm những việc sai phương pháp, chắc chắn không đạt được kết quả.
(15) Khắc thuyền mò kiếm: Sách Lã Thị Xuân Thu kể câu chuyện một người đi đò qua sông, giữa chừng đánh rơi cây kiếm xuống nước. Anh bèn đánh dấu vào mạn thuyền, khi thuyền đến bến, anh theo dấu ở mạn thuyền xuống nước để mò kiếm.
(16) Tìm ngựa theo tranh: Bá Nhạc rất rành xem tướng ngựa, ông viết quyển Tướng Mã Kinh. Con ông theo sách đó đi tìm mua ngựa, nhưng chỉ mua được một con ngựa kém. Điển cố này nhằm khuyến cáo những người hay câu nệ vào nguyên tắc mà không có tinh thần linh động.
(17) Nón tuyết hài hoa: Nón làm bằng tuyết, hài làm bằng hoa, chỉ những sự vật giả tạm.
(18) Ôm cây đợi thỏ: Sách Hàn Phi Tử chép câu chuyện, nước Tống có một người đang cày ruộng, bỗng thấy có một con thỏ từ trong bụi chạy ra, va phải gốc cây mà chết. Anh ta nhặt nó, rồi bỏ việc cày bừa, ôm gốc cây ngồi chờ. Nhưng chờ mãi chẳng được con nào, lại bị thiên hạ chê cười.
(19) Quên nguyệt nhìn tay: Kinh Viên Giác có câu: “ Hết thảy giáo pháp giống như ngón tay chỉ mặt trăng. Khi đã thấy được mặt trăng thì liền biết ngón tay chẳng phải là mặt trăng”. Ở đây có ý nhằm khuyến cáo những người lầm phương tiện với mục đích.
(20) Tịnh nhân: chỉ những người vào ở trong chùa, tuy mang hình thức của người cư sĩ tại gia, nhưng sống theo nếp sống của người xuất gia.
(21) Mã Tổ: Thiền sư đời Đường, người đời gọi là Mã Đại Sư hay Mã Tổ (709 – 788), hiệu là Đạo Nhất. Ngài là pháp tự của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng và là Thầy của các Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, Nam Tuyền Phổ Nguyện v.v… gồm 139 người. Rất nổi tiếng với các pháp ngữ “Bình thường tâm thị đạo”, “Tức thân thị Phật”. Ngài Viên tịch năm 80 tuổi, được vua Đường Hiến Tông ban Thụy hiệu là Đại Tịch Thiền Sư.
(22) Tam Hoàng: Chỉ cho ba vị vua đời thượng cổ của Trung Quốc, đó là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng hoặc là Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế. Ngoài ra còn có nhiều cách tính khác.
(23) Ngũ Đế: Chỉ năm vị Thiên đế trong thần thoại cổ đại của Trung Quốc. Đạo giáo tôn các ngài là những vị thần linh.
(24) Phép Quán đỉnh: Một nghi thức Mật giáo, được sử dụng để truyền pháp cho những người muốn kết duyên với Phật giáo. Khi hành lễ, vị Thầy dùng nước rưới lên đầu của người đệ tử và tụng những câu chân ngôn thần chú.
(25) Tát-bà-ha: Từ dịch âm tiếng Phạn Svàhà, nghĩa là cứu cánh, viên mãn, thành tựu, cát tường.
(26) Bốn ân: Pháp số này có nhiều cách tính, nhưng cách tiêu biểu nhất là bốn ân sau đây: 1. Ân cha mẹ; 2. Ân chúng sinh; 3. Ân quốc vương; 4. Ân Tam Bảo.
(27) Ba đường khổ: Chỉ ba cảnh giới khổ đau trong cõi dục giới. Đó là : 1. Địa ngục; 2. Ngạ quỷ; 3. Súc sanh.
(28) Khúc lục: một loại ghế mây hình cong, dùng trong Thiền viện.
(29) Năm phần pháp thân: 1. Giới thân: chỉ cho ba nghiệp thân, miệng, ý của Phật xa lìa tất cả tội lỗi; 2. Định thân: chân tâm của Phật vắng lặng, tự tính bất động, xa lìa tất cả vọng niệm; 3. Tuệ thân: chân tâm của Phật sáng suốt, tự tính không mờ tối, thấu triệt các pháp; 4. Giải thoát thân: Tự thể của Phật không hệ lụy, giải thoát tất cả mọi trói buộc; 5. Giải thoát tri kiến thân: thấu rõ tự thể xưa nay không nhiễm ô, đã thực sự giải thoát.
(30) Mười phương: Đông, Tây, Nam ,Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên và phương dưới.
(31) Chín miếu: Truyện Vương Mãng trong sách Hán thư kể về 9 miếu thờ các vì vua anh minh đời xưa của Trung Quốc. Ngày sau, các vị Đế vương cũng lập ra 9 miếu, để thờ các đấng Tiên vương của mình.
(32) Ngọc lịch: Chỉ cho đạo Phật.
(33) Đệ nhất nghĩa đế: Chỉ cho chân lý tuyệt đối.
(34) Ba nghìn pháp môn: Đây là con số tượng trưng để chỉ tổng quát tất cả các pháp môn.
(35) Giới Đại thừa: Từ Đại thừa chỉ cho cỗ xe lớn, có khả năng chuyên chở chúng sinh từ bờ phiền não
bên này đến bờ giác ngộ bên kia. Từ Đại thừa tương phản với từ Tiểu thừa. Tiểu thừa là cỗ xe nhỏ, thiên về việc tự độ, Đại thừa gồm cả tự độ và độ tha đầy đủ. Giới Đại thừa tức giới của Bồ tát, gồm có 10 giới trọng và 48 giới khinh thành 58 giới.
(36) Giới Vô đẳng đẳng: “Vô đẳng đẳng” là lời nói tôn xưng Phật, hoặc là biểu thị Phật thừa. Quả vị của Phật bình đẳng nên gọi là Vô đẳng đẳng. Giới Vô đẳng đẳng chỉ cho giới của Phật.
(37) Thiền Thượng thừa: Chỉ loại Thiền định đốn ngộ tự tâm. Nếu giác ngộ ngay tức khắc tự tâm mình xưa nay thanh tịnh, không có phiền não, đã đầy đủ trí tuệ vô lậu, biết tâm này là Phật, y theo thứ lớp mà tu tập, tức là Thiền Thượng thừa.
(38) Thoại đầu: Xem chú thích số (5) Công án.
(39) Trạo cử: Thân tâm lăng xăng, dao động không yên, thuộc về một trong 20 tùy phiền não.
(40) Hôn trầm: Một loại phiền não làm cho thân tâm hôn mê, trầm uất, làm mất tác dụng của tinh thần tiến thủ, tích cực hoạt động.
(41) Tam quan ngộ cu: Thiền sư Phổ Giác ở núi Hoàng Long đời Tống thường dùng ba lời nói sau đây để hỏi các học giả: “1. Mọi người đều có sinh duyên vậy sinh duyên của Thượng tọa ở đâu?; 2. Tay tôi vì sao giống như tay Phật?; 3. Chân tôi vì sao giống như chân lừa?”. Những học giả thời bấy giờ
ít ai lãnh hội được yếu chỉ này, nên các Tòng lâm trong thiên hạ gọi là tam quan (3 cửa ải).
(42) Tam huyền tam yếu: Phương pháp tiếp dẫn kẻ hậu học của Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền nhằm mục đích dạy Thiền sinh lãnh hội được công năng của quyền thật, chiếu dụng trong câu nói. Ngài không giải thích rõ nội dung, nhưng các Thiền gia đời sau đã chia Tam huyền, Tam yếu riêng ra để giải thích.
(43) Ngũ vị: Pháp số này có nhiều cách tính. Ở đây muốn đề cập đến hai loại ngũ vị của Thiền tông do Thiền sư Động Sơn Lương Giới, Tổ khai sáng tông Tào Động lập ra. Loại thứ nhất là Chánh Thiên ngũ vị: Chánh trung thiên, Thiên trung chánh, Chánh trung lai, Thiên trung chí, Kiêm trung đáo. Chánh tức là âm, chỉ cho bản thể chân như; Thiên tức là dương, chỉ cho hiện tượng sinh diệt. Chánh trung thiên chỉ cho trong bình đẳng vẫn có sai biệt. Thiên trung chánh chỉ cho sai biệt tức là bình đẳng. Dựa vào đây mà thực hiện công phu tu hành. Động ở trong tịnh thì gọi là Chánh trung lai; còn tịnh ở trong động thì gọi là Thiên trung chí. Gồm cả hai yếu tố trên, đạt đến trạng thái tự do tự tại, gọi là Kiêm trung đáo.
Loại thứ hai là Công Huân ngũ vị: Hướng - biết chúng sinh vốn sẵn Phật tính nên cầu đạt Phật quả. Phụng - nhận có Phật tính mà tu hành. Công - thấy được Phật tính. Công công - tuy đã đạt được giác ngộ tự do, nhưng còn có tác dụng. Công công -
- cuối cùng, siêu việt nhưng trạng thái trước, đạt được cảnh giới hoàn toàn tự do tự tại.
(44) Tứ Liệu giản: Tức bốn pháp giản biệt do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền thiết lập. Vị thầy có thể dùng bốn quy tắc này để ứng cơ, ứng thời, tùy nghi cho hoặc lấy, tự tại tha sống hoặc giết chết, để dẫn dắt người học Thiền. Đó là: 1. Đoạt nhân bất đoạt cảnh: loại bỏ chủ quan chỉ còn lại khách quan, ngoài vạn pháp không thừa nhận tự kỷ, để phá trừ hai sự chấp trước về nhân kiến, và ngã kiến; 2. Đoạt cảnh bất đoạt nhân: loại trừ khách quan, chỉ còn lại chủ quan, vì toàn bộ thế giới đều hiển lộ trong tâm ta, để phá trừ quan điểm cho rằng các pháp là có thật; 3. Nhân cảnh câu đoạt: phủ định cái thấy có chủ quan và khách quan, phá luôn cả chấp pháp và chấp ngã; 4. Nhân cảnh câu bất đoạt: khẳng định sự tồn tại cả chủ quan lẫn khách quan. Đây là những phạm trù của Thiền sư Lâm Tế đã tùy theo câu hỏi và căn cơ của Phổ Hóa và Khắc Phù mà đặt ra.
(45) Tứ tân chủ:  Cả hai Thiền sư Lâm Tế, Động Sơn đều có lập ra thuyết Tứ tân chủ. Ở đây chỉ nói về thuyết của Lâm Tế. Ngài nêu ra mối quan hệ giữa tân (người học) và chủ (vị Thầy), lập thành bốn phạm trù: Tân khán chủ, chủ khán tân, chủ khán chủ, tân khán tân. Dựa vào đây, làm cho học trò tự giác được tà chánh mà hướng đến chánh đạo.
(46) Tứ chiếu dụng: Loại dụng ngữ của tông Lâm Tế,
có thể giải thích theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, sách Nhân Thiên Nhãn Mục quyển I chép: Chiếu chỉ sự nhận thức đối với chủ thể. Căn cứ vào những nhận thức bất đồng của người tham Thiền đối với chủ thể và khách thể mà áp dụng phương pháp dạy dỗ bất đồng, nhằm phá trừ cái quan điểm của người thế tục cho rằng chủ thể, khách thể là có thực. Các nguyên tắc đó là: 1. Trước chiếu, sau dụng: đối với những người chấp pháp nặng, trước phá trừ cái quan điểm cho rằng khách thể là có thực. 2. Trước dụng sau chiếu: đối với những người chấp ngã nặng, trước phá trừ cái quan điểm cho rằng chủ thể là có thực. 3 Chiếu dụng đồng thời: đối với những người chấp ngã và chấp pháp đều nặng, thì cùng lúc phá trừ cả hai. 4. Chiếu dụng bất đồng thời: đối với những người đã phá trừ chấp ngã và chấp pháp thì cơ thể ứng cơ tiếp vật hoặc chiếu, hoặc dụng không câu nệ vào một cách nào.
Nghĩa thứ hai, sách Ngũ Gia Tôn Chỉ Toàn Yếu quyển thượng chép: Chiếu - chỉ Thiền cơ vấn đáp; dụng - chỉ những động tác đánh hét, thuần túy chỉ những phương thức tiếp đãi người tham Thiền. Các nguyên tắc đó là: 1. Trước chiếu sau dụng: trước hướng đến người tham Thiền nêu ra vấn đề; sau đó căn cứ vào tình huống ứng đáp của họ mà hoặc dùng gậy hoặc dùng tiếng hét. 2. Trước dụng sau chiếu: khi gặp ông Tăng đến, vị Thầy liền đánh, liền hét, sau đó mới hỏi ông Tăng: “ Ông nói thử xem đó là ý chỉ gì?”. 3. Chiếu dụng đồng thời:
ngay khi đánh hoặc hét, xem đối phương phản ứng ra sao, hoặc trong khi Thầy hét, Tăng cũng hét thì vừa đánh vừa hỏi. 4. Chiếu dụng không đồng thời: hoặc chiếu, hoặc dụng, không câu chấp một cách nào nhất định.
(47) Sừng thỏ lông rùa: Chỉ những khái niệm hữu danh mà vô thực.
(48) Thập lực của Phật: 1. Biết rõ nhân duyên quả báo trong mọi trường hợp. 2. Biết rõ nghiệp nhân, nghiệp quả của mọi chúng sinh, trong quá khứ, hiện tại và vị lai. 3. Biết rõ tất cả mọi cấp Thiền định cạn sâu, hướng đến giải thoát. 4. Biết rõ căn tính hơn kém và quả báo nặng nhẹ của mọi chúng sinh. 5. Biết rõ những việc thiện ác và các dục vọng khác nhau của mọi chúng sinh. 6. Biết rõ hoàn cảnh, tình huống khác nhau của mọi chúng sinh. 7. Biết rõ sự vận hành của các quy luật thiện ác. 8. Biết rõ các đời sống quá khứ. 9. Biết rõ các đời sống trong vị lai. 10. Biết rõ các lậu hoặc đã dứt sạch.
(49) Mười tám pháp bất cộng của Phật: Theo Kinh Đại Phẩm Bát Nhã, đức Phật có 18 pháp mà các hàng Bồ-tát, Duyên giác và Thanh văn không thể sánh bằng: 1. Thân không lầm lỗi. 2. Miệng không lầm lỗi. 3. Niệm không lầm lỗi. 4. Bình đẳng cứu độ tất cả chúng sinh. 5. Tâm luôn ở trong Thiền định. 6. Tâm luôn vắng lặng, an tịnh trước mọi cảnh khổ vui. 7. Tâm mong muốn cứu độ chúng sinh không nhàm chán. 8. Luôn tinh tấn trong mục đích
độ sinh. 9. Đầy đủ niệm lực. 10. Đầy đủ trí tuệ. 11. Đầy đủ giải thoát. 12. Đầy đủ giải thoát tri kiến. 13. Thân nghiệp luôn sống theo trí tuệ. 14. Khẩu nghiệp luôn sống theo trí tuệ. 15. Ý nghiệp luôn sống theo trí tuệ. 16. Biết rõ các đời sống quá khứ. 17. Biết rõ các đời sống vị lai. 18. Biết rõ hiện tại đã dứt sạch các lậu hoặc.
(50) Tám mươi bốn nghìn môn đà-la-ni: Tức 84.000 thần chú, hay 84.000 pháp môn. 84.000 là hình dung từ tượng trưng một số lượng tối đa. Vì có 84.000 phiền não nên phải dùng 84.000 pháp môn để đối trị.
(51) Tam-muội: từ dịch âm chữ Phạn Samàdhi, nghĩa là Thiền định.
(52) Tứ sinh: Chỉ cách sinh sản của các loài hữu tình trong ba cõi, sáu đường: 1. Loài sinh bằng trứng. 2. Loài sinh bằng thai. 3. Loài sinh từ nơi ẩm thấp. 4. Loài sinh bằng biến hóa.
(53) Cửu loại: Chỉ cho chín hình thái xuất sinh của chúng sinh trong ba cõi. Đó là: 1. Loài sinh bằng trứng. 2. Loài sinh bằng thai. 3. Loài sinh từ nơi ẩm thấp. 4. Loài sinh bằng biến hóa. 5. Loài có sắc. 6. Loài không có sắc. 7. Loài có tưởng. 8. Loài không tưởng. 9. Loài không có tưởng mà cũng không phải không có tưởng.
(54) Đức Phật Tỳ-lô-giá-na: Từ dịch âm chữ (S) Bud-dha-vairocana, chỉ danh hiệu đức Giáo chủ của Mật giáo, gồm có ba nghĩa: đoạn trừ mọi tối tăm,
phát sinh ánh sáng; thành tựu mọi căn lành; ánh sáng không sinh diệt.
(56) Ba nghìn oai nghi tám vạn tế hạnh: Chỉ những oai nghi phép tắc mà đệ tử Phật ngày thường cần phải gìn giữ. Đi đứng nằm ngồi đều phải có phép tắc, uy đức gọi là oai nghi. Dùng 250 giới của Tỳ-kheo phối hợp với bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi thành ra 1.000 oai nghi. Lại kết hợp với ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai (hoặc kết hợp với ba tụ tịnh giới) thành ra 3.000 oai nghi. Đồng thời phối hợp với bảy chi của thân và khẩu là sát, đạo, dâm, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ thành ra 21.000 rồi phối hợp với bốn thứ phiền não tham, sân, si và đẳng phần thành ra 84.000. Nhưng vì các kinh muốn nêu con số chẵn nên gọi là tám vạn tế hạnh.
(58). Hữu lậu, vô lậu: Tiếng phạn là Àsrava, có nghĩa là tiết lậu, rỉ chảy, là tên khác của phiền não. Loài người do phiền não mà sinh ra lầm lỗi, đau khổ, do đó, phải bị lưu chuyển không ngừng trong thế giới mê vọng, khó mà thoát khỏi biển khổ sanh tử, cho nên gọi là hữu lậu. Nếu diệt trừ hết mọi phiền não thì gọi là vô lậu.
(59) Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác: Từ dịch nghĩa của tiếng (S) Anuttara-samyak-sambodhi, phiên âm là A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề, chỉ cho trí tuệ giác ngộ của Phật là bình đẳng, viên mãn. Vì sự giác ngộ của Ngài cao tột nên gọi là Vô thượng.
Sự giác ngộ ấy triệt để, bao hàm tất cả mọi phương diện nên gọi là Chánh đẳng Chánh giác hay Chánh biến tri.
(60) Thập tín, 61) Thập trụ, 62) Thập hạnh, 63) Thập hồi hướng, 64). Thập địa: Các pháp số này có những cách tính khác nhau. Ở đây Thiền sư Pháp Loa trình bày tiến trình tu tập từ thấp đến cao của Bồ tát theo kinh Lăng Nghiêm.
Thập tín: 1. Tín tâm. 2. Niệm tâm. 3. Tinh tấn tâm. 4. Tuệ tâm. 5. Định tâm. 6. Bất thối tâm. 7. Hộ pháp tâm. 8. Hồi hướng tâm. 9. Giới tâm. 10. Nguyện tâm:
Thập trụ: 1. Phát tâm trụ. 2. Trị địa trụ. 3. Tu hành trụ. 4. Sinh quí trụ. 5. Phương tiện cụ túc trụ. 6. Chánh tâm trụ. 7. Bất thối trụ. 8. Đồng chân trụ. 9. Pháp vương tử trụ. 10. Quán đỉnh trụ.
Thập hạnh: 1. Hoan hỷ hạnh. 2. Nhiêu ích hạnh. 3. Vô sân hận hạnh. 4. Vô tận hạnh. 5. Ly si loạn hạnh. 6. Thiện hiện hạnh. 7. Vô trước hạnh. 8. Tôn trọng hạnh. 9. Thiện pháp hạnh. 10. Chân thực hạnh.
Thập hồi hướng: 1. Cứu hộ nhất thiết chúng sinh, ly chúng sinh tướng hồi hướng; 2. Bất hoại hồi hướng; 3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng; 4 Chí nhất thiết xứ hồi hướng; 5. Vô tận công đức tạng hồi hướng; 6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng; 7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết
chúng sinh hồi hướng. 8. Chân như tướng hồi hướng. 9. Vô phược giải thoát hồi hướng. 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng
Thập địa: 1. Hoan hỷ địa. 2. Ly cấu địa. 3. Phát quang địa. 4. Diệm tuệ địa: 5. Nan thắng địa. 6. Hiện tiền địa.7. Viễn hành địa. 8. Bất động địa. 9. Thiện tuệ địa. 10. Pháp vân địa.
  1. Lý nguyên: Người đời Đường, làm quan tham quân tại phủ Hà Nam dưới triều vua Đường Đại Tông. Vì cha bị giặc giết, ông rất đau thương, nên từ quan, không lấy vợ, kiêng rượu thịt, vào ở trong chùa, mỗi ngày chỉ ăn một bữa.
  2. Dương Kỳ: Tức Thiền sư Dương Kỳ Phương Hội (996 -1049), khai Tổ tông phái Dương Kỳ.
  3. Viên Ngộ: Tức Thiền sư Phật Quả Viên Ngộ (1063 – 1135), người đời Tống, thuộc Thiền phái Lâm tế.
  4. Chuyển ngữ: Lối sử dụng ngôn ngữ của Thiền tông, tùy theo cơ nghi, tự do tự tại sử dụng lời nói cho phù hợp với căn cơ của hành giả, gọi là chuyển ngữ.
  5. Tô Xuyên Hầu: Lê Quang Bí, đậu Hoàng giáp năm 1526, làm quan đến chức Binh bộ Thị lang đời Lê.
  6. Trình Tuyền hầu: Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), ông đậu thủ khoa các kỳ thi Hương, Hội và Đình nên người đương thời thường gọi là Trạng Trình. Vua Mạc Phúc Hải vì kính trọng ông, phong ông tước hiệu Trình Tuyền hầu vào cuối năm 1544.
* * *
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »