Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tam Tổ Thực Lục

Tam Tổ Thực Lục

Tác giả: Thích Phước Sơn dịch và chú. Năm xuất bản: 1995. Số trang: 108.

Chương 8: Phần Ba: Bản Hạnh Ngữ Lục - Tổ Gia Thực Lục (Trang 77 - 89)

PHẦN BA
BẢN HẠNH NGỮ LỤC –
(49a) TỔ GIA THỰC LỤC

 
(Bản Thực lục chép về gia thế của vị Tổ thứ ba)
Tổ ở phía Đông Nam chùa Ngọc Hoàng, tại Lang Am, làng Vạn Tải, hạ lưu sông Bắc Giang (khoảng năm Hồng Đức (1470 – 1497) đổi thành huyện Gia Định, xã Vạn Tư, và đổi tên chùa Vân Yên thành chùa Hoa Yên). Thỉ tổ của Tổ là Lý Ôn Hòa làm quan Hành Khiển dưới triều vua Lý Thần Tông (1128 – 1138). Ôn Hòa sinh Lương, Lương sinh Nhượng, Nhượng sinh Minh Doãn, Minh Doãn sinh Khâm, Khâm sinh Quang Dụ (làm quan chuyển vận đời Trần), Quang Dụ sinh 4 người con trai: Người trưởng tên Tráng, người kế tên Tướng, người thứ ba tên Thành và người út tên Tuệ Tổ. Tuệ Tổ là Tổ phụ của Tổ sư. Lúc còn làm học trò, nhân Chiêm Thành sang cướp phá, ông đánh giặc (49b) có công, nhưng không ra làm quan, chỉ vui thú điền viên, ưu du qua ngày tháng, lại thích xem sách hay và chuyện lạ. Mẹ Tổ là Lê Thị, vốn là
người đàn bà hiền đức, chiều chuộng chồng con, kính thờ cha mẹ chồng. Năm bà 30 tuổi mà chưa có con trai nối dõi, nên thường đến cầu nguyện tại chùa Ngọc Hoàng. Chùa này cầu nguyện thường được linh ứng. Đời vua Thánh Tông (1258 – 1278), đất nước mất mùa, nhân dân bị bệnh dịch. Một hôm, Lê Thị đến núi Chu Sơn hái thuốc, vừa tới chùa Ma Cô Tiên thì gặp lúc trời hè nắng gắt, bà liền đến nghỉ dưới bóng chùa. Gió Đông phe phẩy, nhật gác non Tây, chợp mắt mơ màng, bà bỗng thấy một con khỉ lớn, đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo (50a) hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà. Lê Thị kinh hãi thức giấc, thấy lòng rung động, trở về thuật lại với một vị Tôn túc. Vị này bảo: “Trong núi ấy có động Thân Dương, đã làm cho tinh anh của loài khỉ kia không tan biến, nên có điềm mộng ấy, chớ có lấy làm lạ.” Nhân đó, ông suy đoán: Ném mặt trời vào bụng là điềm Lê Thị sẽ có thai. Năm sau, thuộc năm Giáp dần vào ngày đầu năm, Thầy trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Thiền sư Tuệ Nghĩa, sau khi lên chùa tụng kinh trở về liêu phòng, tựa ghế Thiền định, ông bỗng mơ thấy các tòa trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cang long thần la liệt đông đúc. Đức Phật (50b) chỉ Tôn giả A-nan bảo: “ Ngươi hãy tái sinh làm pháp thí Đông độ, và phải nhớ lại
duyên xưa”. Bỗng tiểu đồng từ ngoài vào gõ cửa, Tuệ Nghĩa chợt tỉnh, liền ngâm kệ rằng:
“Người đời học đạo há xa xăm !
Tâm tức Phật chừ, Phật tức tâm.
Trí huệ cát tường gây ảnh hưởng
Kiếp này ắt gặp bạn tri âm”.
Rồi Thiền sư viết kệ ấy lên vách.
Năm ấy (1254) Tổ sinh ra. Khi sinh có tia sáng mờ ảo, mùi hương thơm phức. Người ta gọi đó là đứa hài đồng có mùi hương thanh tịnh. Lê Thị mang thai Tổ đến 12 tháng mà bụng bà không chuyển động, bà nghi mắc bệnh nên uống nhiều thuốc phá thai mà thai không hư. Khi Tổ sinh ra, lại là một đứa bé trai cứng cáp. Đến tuổi đồng ấu, thể (51a) mạo Tổ dị thường, có chí của bậc trác việt vĩ nhân, cha mẹ đều yêu thương, dạy cho học nghề. Tổ nghe một hiểu mười, có tài như Nhan Hồi Á Thánh nên được gọi là Tải Đạo. Năm 20 tuổi, Tổ dự khoa Thi Hương và đỗ đạt. Vì (triều đình) chọn người đều dùng những bậc đại khoa, nên Tổ phải đợi đến khoa thi lớn năm sau. (Khoa thi nhỏ gọi là Hương khoa, khoa thi lớn gọi là Hội khoa), kết quả Tổ đậu được Thủ khoa.
Lại nói về lúc thiếu thời của Tổ, tuy cha mẹ có bàn đến việc hôn nhân, nhưng chưa quyết định
cưới, đến khi ấy vua định gã cô Liễu ( tức công chúa Liễu Nữ), cháu của An Sinh Vương, Tổ từ khước không chấp thuận. Được bổ vào chức quan Hàn lâm, Tổ phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, văn thư qua lại, trích dẫn kinh nghĩa, ứng đối lưu loát. Văn (51b) chương ngôn ngữ hơn cả Trung Quốc và các lân bang.
Lúc Tổ theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Phụng Nhãn, thấy Quốc sư Pháp Loa đang hành đạo liền nhớ lại duyên xưa, bùi ngùi than rằng: “ Làm quan lên Bồng đảo, đắc đạo đến Phổ Đà, trên cõi nhân gian là Tiên, cảnh giới Tây phương là Phật. phú quý vinh hoa nào khác lá vàng mùa thu, mây trắng ngày hạ, há nên lưu luyến mãi mãi!” Nhân đó, dâng biểu đến ba lần xin từ chức để xuất gia học đạo tu hành. Thưở ấy, vua đang tôn sùng Phật giáo, nên người chấp nhận. khi được phép vua, Tổ liền thọ giáo với Thiền sư Pháp Loa, được pháp hiệu là Huyền Quang (*)
Vua (52a) thường lấy làm lạ bảo: “Tướng người này có đạo nhãn, có thể là bậc pháp khí, bậc
 

(* ) Ở đây nói Huyền Quang thọ giáo với Pháp Loa sợ lầm. Theo bản tiểu sử của Pháp Loa thì Huyền Quang là đệ tử của Bảo Phác ở chùa Vũ Ninh.
 
Thánh Tăng chân chánh vậy. Rồi Tổ phụng mệnh vua trụ trì chùa Vân Yên (chùa Vân Yên là tên ngày xưa, đến đời Hồng Đức (1470 – 1497), vua đến viếng cảnh chùa, thấy sắc hoa tươi đẹp, bèn đổi thành chùa Hoa Yên), núi Yên Tử. Tổ đọc nhiều, học rộng tinh thông Phật pháp; Tăng, Ni theo học kể đến hàng nghìn. Từ ấy, Điều Ngự Giác Hoàng cùng Pháp Loa, Huyền Quang, ba Thiền sư đi khắp các chùa danh tiếng trong nước. Điều Ngự ban cho Sư pháp tòa trầm hương để giảng kinh cho đồ chúng, lại ra lệnh cho Sư soạn Chư Phẩm Kinh và Công Văn Tập v.v… và ngự bút phê vào Thích Khoa Giáo: “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn thì không thể (52b) thêm hay bớt một chữ nào nữa”. Rồi sai thợ đem in để truyền cho đời, và ban thưởng vàng bạc vô số.
Ngày rằm tháng giêng năm Quý sửu ([1]) (1313), Sư về kinh thăm vua, rồi đến chùa Báo Ân giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm. Buổi chiều, Sư trở về Tăng phòng Thiền định, bỗng thấy một đôi chim khách trắng từ đâu bay đến, đậu trên cây trước sân, vừa lượn qua lượn lại vừa kêu, dường như có niềm vui. Sư liền ngâm một bài Tây Giang Nguyệt:
 

(*) Ở đây chép lầm là Quý mão.
 
“Chim thước muốn báo điềm chi,
Bay đến kêu vang đầu ngỏ?
Con hiếu ngày xưa có Tăng Sâm
Loài chim ba (* ) chân mi trội nhất”
Và nói riêng với học trò: “Nay ta ở chùa này (53a) thường thấy nhiều điềm lành như thế thật là phù hợp với lời sấm về sự ảnh hưởng của trời đất, khá đáng tin, chẳng ngoa vậy. Cha mẹ, ông bà là Phật, ân nặng nhớ mãi trong lòng”. Sư liền sắm sửa hành trang, dâng biểu xin phép về làng thăm viếng. Nhân đó, lập một ngôi chùa ở phía Tây nhà, nằm ở phía Đông chùa Ngọc Hoàng, đặt tên chùa là Đại Bi, lấy ý từ câu “Đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ-tát cứu độ cha mẹ quay về đạo Phật”, nên có tên là chùa Thầy.
Lại nói về việc Sư khai sơn ngôi chùa ấy, từ Thiên tử đến thứ dân đều góp công đức bằng vàng bạc của cải không thể kể hết. Khi chùa hoàn thành, Sư mở pháp hội lớn, bốn phương vân tập về đó xem hội hàng muôn nghìn người. Sau bảy ngày (53b) đêm hoàn mãn, Sư đem những tiền của còn lại công đức cho Tăng, Ni các đạo tràng và bố thí cho những kẻ nghèo đói thiếu thốn. Lại mở một buổi tiệc nhỏ, mời họ hàng thân thích trong làng và
 

(*) Có lẽ sách in nhầm chữ nhị ( 二) là hai thành chữ tam (三) là ba
 
bạn bè cố cựu, rồi biếu họ vàng bạc vải vóc để biểu lộ mối thân tình. Ngay hôm ấy, Sư khởi hành trở về lại chỗ ở cũ, những bạn bè chí cốt làm thơ đưa tiễn hơn 30 bài.
Lại nói về việc Sư trở về lại chùa Vân Yên, nhằm năm Quý sửu (1313), bấy giờ Sư được 60 tuổi.
Một hôm, vua nói với quan hầu cận, Tăng quan và đạo sĩ: “ Người ta sinh ra trong khoảng trời đất, “cõng âm và ôm dương” thích ăn ngon, ưa mặc đẹp, lòng ham muốn ấy bọn chúng ta đều có. Còn như (54a) gác bỏ một bên lòng ham muốn, dốc lòng phụng sự đạo, là để lo một mặt mà thôi. Vì sao chỉ mỗi một mình Thầy Huyền Quang từ khi sinh đến giờ, vẫn sắc sắc không không, như nước không sóng, như gương không bụi, phải chăng Sư đè nén lòng dục, hay là không có lòng dục?”
Bỗng có một viên quan văn bên cạnh ứng tiếng tâu:
       “Vẽ cọp, vẽ da xương khó vẽ,
       Biết người biết mặt biết đâu lòng!
Xin hãy thử xem vì sao được như thế”.
Mọi người liền nhận ra ngươi ấy chính là bậc Học sĩ lừng danh, Trạng nguyên của hai nước,
họ Mạc tên Đĩnh Chi.
Vua nghe tâu, bèn lặng lẽ sắp đặt cơ mưu, không để tiết lộ một khía cạnh nào, có ý ngấm ngầm chọn người cung nữ tuổi dưới 20, nõn nà chẳng kém gì Phi Yến, (54b) khéo léo còn hơn cả Điêu Thiền. Đó là một cung nhân tên Điểm Bích, hiệu là Tam Nương. Mẹ nàng là người Đường An, nhà nghèo, sống một mình, gặp năm hạn hán, đi ăn xin đến huyện Đông Triều, chùa Quỳnh Lâm, dừng chân một đêm tại đó. Đến canh ba, bầu trời quang đãng, sao sáng, trăng trong, bà thấy một thanh niên không biết tên họ là gì, cũng không trông rõ diện mạo, đến chỗ bà, xin cùng ân ái, xong rồi liền đi. Nhân đó, bà có thai, đủ tháng liền sinh một bé gái. Bà bồng con về làng cũ. Một phú ông trong làng mua bé gái ấy một quan tiền làm con nuôi. Những bé gái cùng lớp thường trêu chọc gọi nó là “Con gái chùa Quỳnh Lâm (55a). Khi nó lớn lên, nhan sắc rất đẹp, lại có tính hiếu học, tam giáo cửu lưu, không thứ gì là không thông hiểu. Khi có lệnh tuyển cung nữ, Điểm Bích vừa được chín tuổi, được tuyển vào trong cung làm cung nữ. Trường thiên, Ngũ ngôn, hễ mở miệng là thành chương, nhưng sở trường nhất là quốc ngữ. Vua nói : “Đó là đứa bé gái thần đồng”. Đến khi ấy vua gọi Điểm Bích vào nội điện, ban cho một thẻ bài cầm tay, và căn dặn: “Vị Tăng ấy vốn không ưa sắc dục, tính tình rất cương trực, giới hạnh lại cao nghiêm.
Ngươi có nhan sắc lại có tài ăn nói, vừa thông hiểu sử kinh, vậy hãy đến thử Thầy ấy. Nếu Thầy còn động lòng quyến luyến tình dục, ngươi hãy dụ lấy cho được kim tử làm bằng chứng. Bằng gian trá sẽ có tội. Ngươi phải (55b) kính cẩn vâng lời”.
Thị Bích vâng lệnh ra đi, đem theo một đứa tỳ nữ tùy tùng, đến chùa Vân Yên gặp một Tỳ-kheo-ni già, tự khai quê quán của mình, cầu xin xuất gia học đạo tu hành, nhờ bà tiến dẫn với Quốc Sư. Vị Tỳ-kheo-ni già thường sai Thị Bích sớm chiều dâng nước trà lên Sư. Sư thấy người ấy đi đứng có cử chỉ lẳng lơ, đùa cợt không phải là người Phật tử chân chính cầu đạo, bèn ra lệnh Tăng, Ni khiển trách vị Tỳ kheo-ni già, bảo Thị Bích trở về nhà lo việc lấy chồng, kiếm nghề sinh sống, đợi đến tuổi già, sẽ cho đến học đạo.
Thị Bích thấy Sư giới hạnh tinh nghiêm, uy nghi lẫm liệt (56a), khó dùng sắc đẹp cám dỗ, chợt nãy ra một kế, ban đêm đến vị Tỳ-kheo-ni già khóc và nói: “Thiếp vốn là con nhà vọng tộc ở Đường An, gia đình nhiều đời đỗ đạt làm quan, từng truyền lại cái học về thi lễ. Cha thiếp được tập ấm theo thứ tự, được làm chức Huyện thừa ở huyện Cảm Hóa, đạo Ninh Sóc, khi thu thuế ruộng hàng năm, tính thành vàng ròng được 115 dật, ông đem cất vào một cái túi, mang về kinh để nạp vào kho
của quan, trên đường đi, ông nghỉ tạm tại phường Toán Viên, phía Bắc phủ, bị bọn gian manh lập mưu cướp sạch, không lấy gì để ứng nạp. Ông bèn làm đơn trình bày rõ với quan bộ Hộ. Quan bộ Hộ thương tình cho hẹn đến cuối năm sẽ mang đủ số vàng (56b) đến nạp. Nếu quá kỳ hạn, quan sẽ tâu mọi việc lên triều đình, và vợ con điền sản sẽ sung công tất cả. Do đó, thiếp mới phổ khuyến thập phương các châu lộ phủ huyện, những nhà giàu có, mong giúp công đức, đồng thời bán gia tài điền sản để góp vào khoản vàng còn thiếu. Nghe Tôn sư đức trọng đạo cao, lòng sẵn từ bi, thiếp mới hỏi chỗ ở, lần bước đến đây. Đợi lúc thung dung nhàn hạ, thiếp mới bày tỏ sự tình, trình thư phổ khuyến, mong được công đức trong muôn một. Nếu được may mắn, chẳng những riêng cha thiếp khỏi bị tội nặng mà nam nữ toàn gia của thiếp cũng được giải thoát. Đó là điều mà người xưa gọi là cái ân “sinh tử cốt nhục” vậy.
Các Tăng, (57a) Ni, môn đồ nghe lời nói ấy, xót thương cho tình cảnh nàng, không ai là không rướm lệ, đồng thưa với Sư góp vàng bạc công đức để cứu tính mệnh của một gia đình.
Sư trầm ngâm hồi lâu, nói: “Ngày xưa Hán Văn Đế cảm thương lời tâu của nàng Đề Oanh mà bỏ nhục hình. Đường Thái Tông trông bản đồ
Minh Đường mà dẹp cấm đài. Hai vua ấy đều thể theo đức hiếu sinh của Thượng đế nên con cháu hưởng lộc trời lâu dài đến ba, bốn trăm năm. Không có ân đức mà được như thế sao? Ta phải vì ngươi mà về triều tâu rõ việc ấy, ngõ hầu quảng bá đức hiếu sinh của Hoàng đế mà cũng là phương tiện cứu khổ tốt đẹp vậy?
(57b) Có một tiểu Tăng đứng bên cạnh ứng tiếng bạch với Sư: “ Pháp luật là việc công của thiên hạ, ông ta không giữ cẩn thận, pháp quan bắt tội là đúng theo luật công vậy. Chúng ta có vàng bạc đem cho là sự giúp đỡ riêng. Nếu vì muốn giúp riêng mà bỏ công pháp thì có nên hay không?”
Sư bảo: “ Tiểu Tăng này nói đúng”, bèn lấy một dật vàng cho Thị Bích để đem về chuộc tội cha nàng. Chư Tăng, Ni cũng lấy tiền của ra cho.
Lại nói, Thị Bích được kim tử, bèn từ biệt về nhà, đến ngay triều đình vào trước vua, quỳ tâu: “Thiếp phụng chỉ tới thử Thiền Sư Huyền Quang, khi đến chùa Vân Yên, nói dối với một Tỳ-kheo-ni (58a) già rằng thiếp là con gái nhà thường dân đến xin làm đệ tử học đạo với Tôn sư. Vị Tỳ-kheo-ni già ấy thường sai thiếp dâng trà nước lên Sư. Trải hơn một tháng, Sư chưa từng ngó thiếp hay hỏi han điều gì. Một ngày kia vào lúc ban đêm, Sư lên chùa tụng kinh, đến canh ba, Sư và Tăng, Ni đều trở về
liêu phòng an nghỉ. Thiếp bèn lẻn đến cạnh Tăng phòng nghe động tịnh, thấy Sư ngâm kệ rằng:
Vằng vặc trăng mai ánh nước,
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh.
Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ
Mâu Thích Ca nào thử hữu tình.
Sư ngâm đi ngâm lại đến ba lần. Thiếp bèn vào phòng, từ biệt Sư (58b), xin trở về nhà thăm cha mẹ, hẹn năm sau sẽ trở lên xin học đạo.
Sư bèn lưu thiếp lại một đêm, tặng thiếp một dật kim tử”.
Vua nghe nói, lòng buồn không vui, than rằng: “Việc này nếu có thực thì đó là cái kế ngang qua cửa mà giăng lưới bắt chim của ta. Còn nếu không, thì ông ta cũng khó tránh mối ngờ “ngồi xỏ giày nơi đám ruộng dưa”. Vua liền mở đại hội Vô già ở phía Tây kinh thành, khiến sứ giả đi mời Sư, bí mật bày trên bàn cúng cà-sa, y bát, pháp khí lẫn lộn với cả đồi mồi, vàng bạc, châu ngọc. Sư thấy sứ thỉnh liền về triều yết kiến. Sáng sớm hôm sau, Sư vào đàn tràng, thấy bốn bên bọc lụa vàng (59a) trên bàn bày các tạp vật cùng hương đăng lục cúng. Sư biết là do việc cung nữ thử mình ngày trước, bèn ngửa mặt lên trời than thầm, rồi lên đàn ba lần, xuống đàn ba lần. Đứng ngay giữa đàn, vọng bái Thánh hiền mười phương. Tay trái cầm
bình bạch ngọc, tay phải cầm nhánh dương xanh, mật niệm và tẩy tịnh trên dưới và trong ngoài đàn tràn. Bỗng thấy một đám mây đen hiện lên từ hướng Đông Nam, bụi bay mù mịt ngất trời. Một lát liền dứt, các thứ tạp vật cuốn bay đi hết, chỉ còn lại hương đăng lục cúng. Các đạo tràng, những người xem hội ai nấy thất sắc kinh hoàng. Vua thấy hạnh (59b) pháp của Sư thấu đến trời đất, liền rời chỗ ngồi, lạy xuống để tạ lỗi. Rồi phạt Thị Bích, bắt làm tỳ nữ quét tước một ngôi chùa trong nội điện cung Cảnh Linh. Từ đó, vua càng thêm tôn kính, gọi Sư là Tự Pháp.
Sau đó, Sư cư trú núi Thanh Mai sáu năm, rồi về trụ trì Côn Sơn đọc tụng kinh điển, và lập ra đài Cửu phẩm liên hoa, để lại cho kẻ hậu học.
Ngày 23 tháng giếng năm Giáp tuất (1334), Sư viên tịch tại chùa Côn Sơn. Đến ngày 24, tin tức mới về tới làng Vạn Tải, nên dân làng lấy ngày này làm ngày giỗ Tổ. Vua Minh Tông cúng mười lượng vàng, bảo Tăng, Ni môn đồ xây tháp (60a) ở bên trái phía sau chùa; và cấp 150 mẫu ruộng gồm nhiều nơi để lo việc kỵ giỗ. Đồng thời ban tên Thụy là Trúc Lâm Thiền Sư đệ tam đại, đặc phong tự pháp Huyền Quang Tôn giả. (Thiền Sư đời thứ ba phái Trúc Lâm được đặc phong để nối dòng pháp là Tôn giả Huyền Quang).
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »