Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 3 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 3 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 128.

Chương 8: Chìa Khóa Đạo Đức Kinh (Trang 69 - 80)

CHÌA KHÓA ĐẠO ĐỨC KINH


THẠCH TRUNG GIẢ
 
(tiếp theo)
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH
CƠ CẤU ĐẠO ĐỨC KINH
Cũng như người mỏi bước chân vào một thành phố phải xem bản đồ, trông toàn cảnh, ta hãy xét cơ cấu Đạo Đức Kinh.
Đạo Đức Kinh cũng như Kinh điển Đông phương thực trái ngược với sách vở Tây phương. Một triết thư Tây phương cấu tứ như một tấn bi kịch với 3 hồi: đầu, giữa và cuối, người đọc phải chờ hạ màn một mới thấy màn hai, chờ hạ màn hai mới thấy màn ba, còn Kinh điển Đông phương kết cấu lối, vòng đồng tâm, đọc phần nào cũng thấy chủ ý, một chủ ý tỏa ra hàm tất cả ở trong một.
Bởi thế cho nên tất cả Phật giáo gói trọn trong 12 chữ Thập Nhị Nhân Duyên, Phật giáo Đại Thừa kết tinh trong

 

 
Bát nhã Tâm Kinh hơn trăm chữ, mà hơn trăm chữ đó rút vào 6 chữ Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn, mà nguyên tiếng Phạn chỉ có 4.
Hệ thống Số Luận (Samkhya) nguồn gốc của Phật giáo, gồm có 25 chữ là Nhị Thập Tứ Đế hay 24 nguyên lý cấu tạo nên thế giới đối với nguyên lý bất chuyển là Giác Thể.
Chỉ có một ít chữ thôi, mà đã gói trọn mà đã đẻ ra thiên kinh vạn quyển. Và không gì ý nghĩa bằng trong buổi cuối cùng.
Sắp dến lúcnhập diệtđứcPhật hỏi lại các đệ tử từ người già cả đến trẻ thơ về Tứ Đế với Thập Nhị Nhân Duyên, về bài thuyết pháp buổi sơ đầu cách nửa thế kỷ. Phải, tất cả chỉ có vậy, đều nằm trong một như một hạt đa gồm đủ cây đa chằng chịt như một khu rừng.
Người Tây phương nhiều khi nản vì điệp khúc trong kinh điển Đông phương, trùng ý, trùng lời phản lại kịch tính trong não trạng. Nhưng cũng có người Tày phương nhận thấy rằng Duy tâm chỉ là một lý thuyết trừu tượng trong đầu óc của triết gia Tây phương nhưng họ vẫn cảm vẫn sống như người phàm tục, nhưng triết gia Đông phương chân chính nhất cử nhất động đều phản ảnh cho Đạo vì họ là Đạo hiện thành xác thịt.
Người ta đã so sánh một Hegel thuyết lý Duy tâm mà vẫn đuổi theo danh lợi của thế gian nhờ nhà nước áp bức triết gia đối lập,với một đệ tửcủa Long Thọ bồ     tát thuyết lý Không đã thể hiện như sau:một kẻ ngoại đạocuồng tín tuốt gươm chém người xổ ruột, đệ tử xô vào, bắt người

 
 
 
 
ngăn lại, ném cho nó tấm áo cà sa của mình và nói rằng:
Thảy thảy là không, không có bạn, chẳng có thù.
Cùng một tư tưởng nhưng người Đông phương đã sống hết, đã thế nhập, đã rung chuyển từng tế bào, đã nhịp từng hơi thở. Mà một trong những kết quả của sự thâm nhập một tư tưởng cố định là sự trùng điệp, là vòng đồng tâm, là Phi-kịch-tính, hay nguyên nhân cũng vậy. Những bộ thần kinh di động như vượn truyền cành không đi đến đâu cả.
Học giả Max Müller ban đầu trong việc nghiên cứu tư tưởng Đông phương đã nhận xét là người Tây phương — không kể vài người đặc biệt — không thể nào tham thiền bởi tim óc đã bị hư vì điện ảnh với báo chí khiến những cảm giác nhập nhoàng biến hiện.
Nhưng nếu đếm hàng trăm hình ảnh trước mặt thì dễ, mà quan sát được sự vận chuyển ở trong lòng nguyên tử, những cái rung, những cái gợn, những đường phóng xạ vi ti, cực kỳ vi ti là một điều khó, khó hơn không biết bao lần mà phải do chuyên viên hết ngày này sang tháng khác, hết năm này sang năm khác, theo dõi, quan sát, rình mò, nín thở với những dụng cụ tối tân ở bên ngoài, với sự tĩnh lặng sâu sắc ở nội tâm — thì việc ghi những suy tư một điệu của Đông phương cũng như vậy. Những sắc thái, những cái không khác chi ở lý luận nhưng chính là những bề sâu, những tầng lớp của đời sống tâm linh bí ẩn.
Người Tây Phương làm thầy người Đông Phương về khoa học vì vào mãi vào mãi, vào mãi cái vi tế, cái bí ẩn của vật chất đã chịu được cái một điệu khi tìm tòi xoáy

 
 
 
 
tâm tư vào nguyên tử, vào điện tử của nguyên tử,vào những vòng sóng bao quanh những điệntử.Lìa vậtgiớiđầu óc họ như vượn truyền cành chơi đùa chắp nối những danh từ trừu tượng.
Bốn chương đầu của Đạo Đức Kinh đã gói trọn những tư tưởng sẽ khai triển trong 77 chương sau, nhưng cũng nên nói ngay là nó không phải cái toát yếu nghèo nàn cằn cỗi vì như thế người Tây phương cũng làm được. Bài tựa 18 trang trong cuốn Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant đã gồm tóm những ý tưởng diễntrong 700 trang dư haymọi cuốn triết sử đã làm liên tiếp   những toát yếu như vậy.
Bốn chương đầu trong Đạo Đức Kinh cũng như Bát Nhã Tâm Kinh của Đại Thừa đã kết tinh tất cả bề sâu, sức mạnh, tiềm năng thần lực của không biết bao nhiêu trang kinh luận Bát Nhã. Mà khai triển cũng không hết, khai triển vẫn còn dư nên đọc xong 77 chương trở lại chương đầu vẫn còn thấy chỉ mới chạm bề mặt của một cái mỏ.
 
PHÂN TÍCH CHƯƠNG I
Đạo khả đạo phi thường Đạo;
Danh khả danh phi thường Danh.
Vô danh thiên địa chi thủy;
Hữu danh vạn vật chi mẫu.
Cố,
Thường vô dục, dĩ quan kỳ diệu;
Thường hữu dục, dĩ quan kỳ kiếu.
Thử lường giả đồng,

 
 
 
 
Xuất nhi dị danh.
Đồng vị chi Huyền.
Huyền chi hựu Huyền,
Chúng diệu chi môn.
Dịch Nghĩa (1)
  1. Đạo (mà ta) có thể gọi được, không (còn) phải làĐạo “thường”; Danh (mà ta) có thể gọi được, không (còn) phải là Danh “thường”.
  2. Không-tên, là gốc của Trời-đất;
Có-tên, là mẹ của Vạn-vật.
  1. Bởi vậy.
Thường không tư dục, mới nhận được chỗ huyền diệu của Đạo; Thường bị tư dục, nên chỉ thấy chỗ chia lìa của Đạo.
  1. Hai cái đó, đồng với nhau;
Cùng một gốc, tên khác nhau.
Đồng, nên gọi Huyền.
Huyền rồi lại Huyền,
Đó là cửa ra vào của mọi huyền diệu trong Trời Đất.
“Đạo khả đạo phi thường Đạo
Danh khả danh phi thường Danh”
 
 

(1)       Chúng tôi dùng bản dịchcủahọc giả ThuGiang NguyễnDuy Cần — xin cảmơntiênsinh và hoan hỉ giới thiệu với độc giả bộ sách đầy đủ81 chương vớitàiphiên chuyển linh động do nhàKhai Trí xuất bản.
 
 
 
Thường là bền mãi không sinh diệt, đời đời, đạo thường là cái chân lý không ở trong thời gian và không gian bao trên cả thời gian và không gian.
Con người sống trong một khoảng của thời gian và không gian nhìn vũ trụ qua lăng kính của mình, súc sinh sống trong một khoảng của thời gian và không gian nhìn vũ trụ qua lăng kính của mình. Trên một địa cầu, trong một thời đại cùng một giống người đã biết bao nhiêu lối hình dung vũ trụ — mà người chỉ là một loài giữa muôn loài, mà trái đất chỉ là một hành tinh xoay quanh thái dương nhưng có hằng hà sa số thái dương hệ trong vũ trụ, mà vũ trụ này cũng chỉ là một giai đoạn trên quá trình vô chung thủy của Hữu thể. Newton đã so sánh sự hữu hạn của cái biết đối với sự vô cùng của chưa biết, Poincaré đã nói nhiều về tương-đối-tính của trí năng con người trong một thái dương hệ chớ nên tưởng là đã nắm được chân tướng của tất cả.
Cái mà ta nghĩ nếu đã biến diện thực tại thì lời ta nói lại biến diện lần thứ hai. Locke, Leibniz đã nhắc đến một điều khôi hài thê thảm là người ta đã phí không biết bao nhiêu giấy mực để tranh luận vì cùng nói một điều nhưng với 2 danh từ nên cứ tưởng là đối lập sâu sắc lắm. Đảo lại, chúng tôi còn thấy nhiều trường hợp người ta đã hoan hỉvì cùng chung một danh từ tuy hai hệ thống khác nhau như nước với lửa.
Bởi cái danh chỉ hiện tượng giới, mà lại còn sai tầng thứ hai.  
Danh khả danh phi thường Danh
Nên
Đạo khả đạo phi thường Đạo
 
 
 
Chẳng những có nghĩa là bản thể của vũ trụ không nói được ra lời mà còn có nghĩa nữa là Đạo đức chân chính không phải là cái đạo đức nói ra được — như nhân, nghĩa, trí, tín của đạo Nho hay mọi tôn giáo xây dựng trên cái Thiện cũng như cái Lợi.
Chân cũng như giả, thiện cũng như ác chỉ là tương đối trong không gian và trong thời gian mà Đạo là vô cực,
Vô danh vạn vật chi thủy
Hữu danh vạn vật chi mẫu
Hiểu theo nghĩa thô thì bắt đầu đạo là vô danh về sau này hóa sinh ra vạn vật thì đạo mới có danh. Nhưng hiểu theo nghĩa tế thì thể của đạo là vô danh dụng của đạo là hữu danh — và trong mọi thời hoặc quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc vị lai cũng có đủ thể dụng, chứ không phải có một thời vô danh nhưng sau đó như bây giờ là hữu danh. Nếu thế thì Lão Tử cũng không hy vọng gì thấy Đạo và ứng đạo.
 
Cố
Thường vô dục, dĩ quan kỳ diệu
Thường hữu dục, dĩ quan kỳ kiếu
Tác giả đã dùng gậy sút đất (1) đã bỏ lý luận mà ta phải tái lập.
Tại sao không thể nghĩ bằng khái niệm, không thể bàn
 
 
 
 
 
 
bằng danh ngôn, tại sao khái niệm và danh ngôn lại không chứng được đạo?
Bởi khái niệm và danh ngôn là bã dư của cảm giác vè những hình trạng trong hiện tượng giới — những ý nghĩa gọi là trừu tượng nếu đem phân chất cũng vẫn tìm ra cái đáng thực nghiệm ấy. Mà nhắm mắt lại không nhìn những hình trạng ấy thì nó vẫn đuổi theo, nó vẫn làm việc dưới tâm để nói tiếng bây giờ là dưới tiềm thức.
Vậy những câu như nhắm mắt bưng tai mà Lão Tử nói rải rác trong Đạo Đức Kinh chỉ có tính cách bóng bẩy tính cách ẩn dụ — điều thực muốn nói là dẹp cái tư dục.
Đông phương và Tây phương có khác nhau nhưng đồng ở điểm thừa nhận tính chủ quan trong nhận thức mà thực thế, nguyên động lực là cái Dục. Người với dục của người, thú với dục của thú nhưng đều cắt xén, biến diện những yếu tố của thực tại. Một ngụ ngôn Ấn Độ kể rằng cũng nhìn một cái cây trong đêm, mà tình lang tưởng tình nương, thằng trộm tưởng lính tuần. Còn cái thừng tưởng con rắn là cái dụ tuyệt diệu đã hóa ra thành ngữ. Nhưng cái lầm của tình lang hay đạo tặc, người bình thường có thể kiểm lại được; chứ cái lầm, cái chủ quan, cái lăng kính của nhân loại, của chúng siuh muôn đời thì khó lòng kiểm lại được phi những bậc đại tri. Vì nặng tư dục nên cắt xẻn lựa chọn lấy cái gì cho mình, thuộc về mình phân biệt bỉ thử, ngã tha, phân biệt như thế làm sao thấy được cái gốc. Một, cái huyền đồng. Và người ta chẳng khác gì con cú trong đêm chi ly đếm từng sợi tóc mà giữa ban ngày không thấy núi Thái sơn lù lù trước mặt.
Vậy tư dục là phân biệt (Thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu). Nhưng nói phân biệt quên gốc. Một là nói tạm, là nghĩa đại khái, chứ cái Một đó chỉ là hình bóng xa xa của Đạo, nó vẫn còn bị tư dục ngăn che, bởi thế cái Một đó được Lão Tử gọi là Vô, cái Vô vừa chỉ tự thể của Đạo, vừa chỉ thái độ của nhận thức, dẹp cái dục, dẹp nó cho đến chỗ cuối cùng, cho đến ngưỡng cửa của cái Một. Chúng ta sẽ trở lại đào sâu điểm này.
Thử lưỡng giả đồng
Xuất nhi dị danh
Đồng vị chi Huyền
Huyền chi hựu Huyền
Chúng diệu chi môn
Tổng kết mọi điều đã diễn, vậy cũng không cần giải lại, chỉ cần nhấn mạnh điểm này.
Huyền chi hựu Huyền
(Huyền lại càng Huyền)
Cái Huyền thêm này ở nhận thức chứ không phải ở Đạo. Đạo chỉ có một Huyền, trí năng của ta mới có nông, sâu – vậy biết Một bằng trí chưa đủ mà phải hội thần, phải cảm ứng, phải thể nhập mà đầu tiên là phải vất ngã, gột sạch hết tư dục.
Nếu đem so sánh chương này với bài thuyết pháp đầu tiên của Chúa Jésus gọi là “Bài thuyết pháp trên núi”, với chương một trong kinh Coran của nhà tiên tri Mohamet, và bài thuyết pháp đầu tiên của Phật Thích Ca ở Bénarès thì ta thấy nổi bật điều này:

 
 
 
 
Ba giáo chủ của 3 tôn giáo bao trùm gần khắp địa cầu đều nhấn mạnh vào luân lý, đều muốn phổ cập cho quảng đại quần chúng còn Lão Tử ngược lại với cái giọng thần kỳ bí hiểm nặng chất siêu hình. Nếu không đi sâu vào đạo Phật nếu không xem hệ thống Thiền định gọi là Cửu thiền, người ta sẽ tưởng Thích Ca chỉ là một nhà luân lý thực tiễn. Đó là chiến thuật của giáo chủ Ấn Độ dắt người ta đi vào chỗ thâm mật, chỗ bất khả tư nghị.
 
PHÂN TÍCH CHƯƠNG II
 
Nếu bản thể của vũ trụ là Đạo, nếu Đạo là tất cả, thì tất cả là đạo mà tất cả đã là Đạo thì cái mà ta gọi là chân giả, thiện ác, có không, khó dễ, dài ngắn, cao thấp, trước sau chỉ là giả danh do trí phân biệt nặng tư dục. Đó chỉ là những phương diện của một cuộc tuần hoàn, đó là những cái tương sinh — chân sinh giả, thiện sinh ác, có sinh không, khó sinh dễ, dài sinh ngắn, cao sinh thấp và đảo lại.
Muốn một thế giới có thiện không ác, có sướng không khổ chỉ là không tưởng. Có cái này phải có cái kia, bỏ cái này là bỏ cái kia. Nên thánh nhân dùng Vô vi mà xử sự, không ngăn cản sự lưu hành của tự nhiên, sống mà không coi là có mình, thành công mà tâm không trụ, tâm không trụ vào cái được thì đâu còn khổ vì cái mất; xử sự bằng Vô vi, dạy dỗ bằng bất ngôn vì dùng lời nói phải phân biệt chân giả thiện ác — mà mình đã không muốn bước vào vòng tương sinh của sự vật, vào ngục tương đối của tri thức thì làm sao lại đẩy người vào. Nhưng đứng ngoài không có nghĩa là làm một cây khô, mà để sống cái sống tâm linh cao

 
 
 
 
hơn, thì bất ngôn để truyền cho người ta cái đạo sống, cái chân lý bất khả tư nghị.
 
Bản Văn
Thiên hạ
Giai tri mỹ chi vi mỹ,
tư ác dĩ;
Giai tri thiện chi vi thiện,
tư bất thiện dĩ.
Cố
Hữu Vô tương sinh
Nan Dị tương thành,
Trường Đoản tương hình,
Cao Hạ tương khuynh,
Âm Thanh tương hòa
Tiền Hậu tương tùy.
Thị dĩ Thánh nhân
Xử Vô vi chi sự
Hành bất ngôn chi giáo.
Vạn vật tác vên nhi bất từ.
Sinh nhi bất hữu
Vi nhi bất thị
Công thành nhi phất củ.
Phù duy phất củ
Thị dĩ bất khứ.
 
Dịch
Thiên hạ đều biết tốt là tốt,
Thì đã có xấu rồi.

 
 
 
 
Đều biết lành là lành
Thì đã có cái chẳng lành rồi.
Bởi vậy,
Có với Không cùng sinh
Khó và Dễ cùng thành,
Ngắn và Dài cùng sánh,
Cao và Thấp cùng chiều,
Giọng và Tiếng cùng họa,
Trước và Sau cùng theo.
Vậy nên, Thánh nhân
Dùng “Vô vi” mà xử sự,
Dùng “bất ngôn” mà dạy dỗ.
Để cho vạn vật nên mà không cản
Sống mà không chiếm đoạt.
Làm mà không cậy công;
Thành công mà không ở lại
Vì bởi không ở lại
Nên không bị bỏ đi.
 
(Lời giải của chúng tôi với lời dịch của Thu Giang tiên sinh ở đây cũng như vài chỗ không hẳn đồng nhau — điều đó thường xảy ra giữa những người nghiên cứu Đạo Đức Kinh)
(còn tiếp)
 
 
THẠCH TRUNG GIẢ

 
 
 
 
/11
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »