NGUYỄN ĐĂNG THỤC
THUYẾT MAYA : TẠI SAO VÔ CỰC ĐI VÀO HỮU CỰC.
(tiếp theo)
Câu truyện thần thoại trên đây mô tả quan niệm của dân tộc A-ry-en về cuộc đời thực tế về sự thực mâu thuẫn, nửa khóc nửa cười, đau khổ với hạnh phúc trà trộn. Và trước sau thái độ của họ như biểu thị trong cái hệ thống triết học là thái độ cầu sự giải thoát ra khỏi cái lưới của Maya, của tuồng ảo hoá. Giải thoát, mà chỉ có giải thoát mới là ý nghĩa đầy đủ của sự sống. Giải thoát khỏi trò Ảo hoá cũng như đi ra khỏi chốn rừng rậm bao la của lục địa xanh, ấy là lý tưởng của nhân loại Ấn từng khao khát.
“Một sự thực kỳ lạ, nó tồn tại bên trong tất cả nỗi vui và nỗi buồn, nỗi sướng và nỗi khổ của chúng ta, trong các vấn đề và các cuộc phấn đấu của chúng ta, ấy là sự chúng ta tiến tới chắc chắn về chân lý. Thực tế mà nói thì vấn đề là: “Vũ trụ này là gì? Từ đâu mà sinh ra,
sẽ đi về đâu? Và câu trả lời là: Từ ở trongtự do nó xuất hiện, nó thiết lập ở trong tự do và nó nhập vào tựdo”. Cái ý tưởng tự do ấy, chúng ta không có thể bỏ qua được. Không có tự do, thì các hành động của chúng ta, các cuộc đời sống còn của chúng ta cũng sẽ mất hết. Bất cứ ở lúc nào Tạo vật đều xác chứng chúng ta là nô lệ chứ không phải tựdo. Vậy mà, cái ý nghĩachorằng mặcdầu thế nào chúng ta vẫn tự do, cái ý tưởng ấyđồng thời vẫn xuất hiện. Người ta có thể bảo rằng trên mỗi bước đường chúng ta lại bị trò Ảo hóa Maya đánh ta ngã gục xuống, để tỏ rằng chúng ta là nô lệ của nó. Tuy có sự vấp ngã ấy, tuy chúng ta có cái cảm tưởng bị trói buộc, mà đồng thời chúng ta cũng lại có cảm tưởng là chúng ta có tự do. Một tiếng nói trong nội tại bảo chúng ta rằng chúng ta tự do. Nhưng nếu chúng ta cố thử thực hành cái tự do ấy, cố làm cho nó hiển hiện ra, chúng ta bèn gặp không biết bao nhiêu trở ngại không vượt được. Tuy nhiên, mặc dù có như thế, cái ýtưởng tự do vẫn tồn tại, vẫn lên tiếng trong thâm tâm: “Ta tự do, ta có tự do” (Vivekananda. Yũanayoga).
Tự do, giải thoát, chẳng phải là tự do muốn làm gì thì làm, tùy theo sở thích vì như vậy thì người ta sẽ lệ thuộc vào sự ngông cuồng. Tự do là vượt lên trên giới hạn của thế lực tự nhiên vượt ra ngoài sức chi phối của tuồng Ảo hoá. Tự do tinh thần là thực hiện đến trình độ tinh thần quân binh, không còn bị ngoại vật làm động lòng. Tự do giải thoát tức là có thể thực hiện được cái cao quí nhất ở mình, vượt lên trên con người già cỗi, rũ sạch vòng hệ lụy của tập tục thành kiến, đến được cái tinh thần bình tĩnh an nhiên, như Goethe đã nói: “Meurs et deviens!”“Hãy chết đi và tiến tới”.
“Hãy lấy ngay cái hình thức thấp nhất của tôn giáo là tôn giáo tổ tiên hay là thờ phụng quỉ thần dữ tợn, hung ác; Cái ý tưởng đặc biệt về quỉ thần hay là về tổ tiên là gì? Là các Ngài cao hơn Thiên nhiên, không bị giới hạn trong vòng thế lực của thiên nhiên. Kẻ sùng tín chắc hẳn quan niệm thiên nhiêu với nhiều trình độ. Chính thân nó không thể vượt qua bức tường hay bay bổng nơi không trung, nhưng các vị thần chúng thờ phụng thì có thể làm được như thế dễ dàng. Như thế nghĩa là các thần có tự do và cao siêu hơn cái thiên nhiên mà nó vốn được biết. Đối với người sùng tín các bậc thần cao hơn cũng như thế. Quan niệm thiên nhiên càng tiến triển thì quan niệm về linh hồn có tính cách cao hơn tự nhiên cũng tiến triển theo, cho đến chừng nào chúng ta đi đến cái mà chúng ta gọi là độc thần giáo, nó dạy ta rằng thiên nhiên là Maya (Ảo hoá) và có một Đấng cai quản cái Maya ấy”.
Song ở tư tưởng đạo học Ấn Độ như ở Vệ Đà người ta còn tiến xa hơn những ý tưởng độc thần. Nếu trong tôn giáo độc thần người ta cầu ngnyện: “Xin được gần gũi Ngài hơn nữa, hỡi Chúa tôi!”, thì ở đạo học Vệ Đà người ta cầu: “Hãy gần lại với tôi hỡi Chúa tôi!”. Như thế nghĩa là Thượng đế ở trên trời trở nên Thượng đế ở thiên nhiên, Thượng đế là thiên nhiên trở nên Thượng đế trên bàn thờ của thân thể, và Thượng đế trên bàn thờ của thân thể chúng ta trở nên chung cục là chính cái bàn thờ ấy, trở nên Linh hồn và trở nên con Người. Đấng Thượng đế mà các hiền triết đã tìm kiếm ở tất cả khắp nơi thì ở tại chính trong tâm chúng ta. Trước sau vẫn một lý tưởng tự do, nhưng một đàng thì phóng nó ra ngoài xa, một đàng thì thấy nó vẫn ở tại nơi mình, và chính là cái Bản ngã của cái ta. Chính cái Bản ngã
phân biệt ấy má chúng ta phải thực hiện, vẫn thực hiện, mỗi người tùy theo trình độ và cảnh ngộ của mình, dần dần mắt lưới Maya mở rộng và chúng ta được giải thoát. Dần dần cửa ngục mở rộng, tường ngục phá tung đẻ chúng ta bỗng nhiên thấy mình đứng ở giữa trời vô hạn, tự do.
Trong lịch sử nhân loại, mỗi dân tộc tùy theo cuộc đời sinh hoạt thực tế trong hoàn cảnh địa lý khí hậu của mình đều có tìm cách điều thích với hoàn cảnh thiên nhiên. Trong sự điều hoà thích ứng ấy nó đã tìm thiết lập nên những giả thuyết nền tảng đặc biệt tùy theo cả tính truyền thống của dân tộc và rút trong kinh nghiệmthực tế. Những giả định then chốt ấy nó dùng làm phương pháp luận cho hành động hiệu nghiệm. Dân tộc Trung Quốc từ cổ thời đã có giả thuyết Dịch quan về vũ trụ, nhìn vũ trụ sự vật ở quan điểm biến hoá Âm Dương. Dân tộc A-ry-en, từ cổ thời Ấn Độ cũng đã thiết lập giả định căn bản của mình là vũ trụ Maya, nhìn sự vật ở quan điểm tương đổi, sắc không và đồng nhất.
Thuyết Maya, theo câu chuyên thần thoại trên kia thì có ý nghĩa cho thế giới và đời người là một giấc mộng kê vàng, một cảnh sắc không. Nhưng sự thực, thuyết Maya không phải là một giáo lý mà chỉ là một sự xác nhận thực tế về sự vật tương đối, nửa thực nửa hư, trôi chảy thay đổi không ngừng đòi chúng ta muốn hiểu cho thấu đáo phải dấn thân vào chính trong dòng thực tại ấy. Đấy là ý nghĩa của Maya trong một câu chuyện thần thoại sau đây; rút ở kinh Purana, do một vị Thánh tên là Vyasa đã kể. Ở đây thì Maya có ý nghĩa pháp thuật đúng với tinh thần ma thuật cổ xưa:
“Có một lần, một hoàng tử trẻ tuổi tên là Kamadamana,
nghĩa đen là “người đã thắng phục được dục vọng”. Để thực hành đúng như ý nghĩa của tên mình, y bèn sống một cuộc đời khổ hạnh rất mực. Nhưng thân phụ y muốn lập gia thất cho y, mới bảo y rằng: “Kamadamana, con ơi, con sẽ đi về đâu? Tại sao con không lấy vợ? Hôn thú đem lại tất cả thoả mãn cho dục tính của người ta, nó cho ta đạt tới hạnh phúc hoàn toàn. Phụ nữ chính là gốc của hạnh phúc và kiện toàn. Vậy con yêu quí của ta ơi, con hãy lập gia thất đi!”
Hoàng tử trẻ tuổi yên lặng, vì cung kính đối với đức vua cha. Nhưng vì vua cha khuyên nhủ và thúc giục nhiều lần, y bèn trả lời :
— “Thưa phụ thân, con thực hành đúng ý nghĩa với chữ tên của con. Sức thiêng nhiên của Thượng Đế (Vishnou) Ngài duy trì và chi phối tất cả sự vật và chúng ta ở thế giới, Ngài đã biểu thị ra cho con như thế”.
Đức vua cha lặng yên một lúc để suy nghĩ về câu trả lời, rồi khéo léo ngài đổi luận điệu từ phương diện khoái lạc sang phương diện bổn phận. Ngài bèn truyền phán:
— “Một người nam nhi phải lấy vợ, thành gia thất để nối dõi tông đường, để cho linh hồn các tổ tiên ở cửu thiên khỏi thiếu đồ cúng bái của con cháu và để khỏi sa đọa vào cảnh khốn khó và vô cùng thất vọng!”
Hoàng tử thưa lại :
— “Thưa cha, con đã sống qua hàng ngàn kiếp rồi. Con đã chịu đau khổ vì cảnh chết, cảnh già hàng trăm lần rồi.
Con đã từng trải sự phối hợp với phu nhân cùng với sự phân ly. Con đã là kiếp cỏ và bụi rậm, dây leo và cổ thụ. Con đã sống giữa súc vật và thú dữ. Hàng trăm lần con đã là một người Bà la môn, một phụ nữ, một nam nhi. Con đã được san sẻ lạc thú của cảnh thiên đường với Çiva. Con đã sống với hạng bất tử. Sự thực không còn một cảnh nào, cả cảnh siêu phàm, mà con không từng hiện thân vào đấy. Con đã là quỉ sử, yêu tinh, người gác kho tàng ở trần gian. Con đã là Thần nước và Thần sông. Con đã là Tiên cô trên trời con cũng đã hiện thân làm vua loài sa tăng. Mỗi lần vũ trụ tan đi để nhập vào bản thể vôhình của Thượng đế, con cũng biến đi theo. Và đến khi vũ trụ lại tái hiện ra, con cũng lại tái sinh để sống một tràng kiếp luân hồi. Luôn luôn con bị lầm lạc về ảo hỏa của cuộc đời, và như thế mãi mãi bởi vì con đã lấy vợ, đẻ con thành gia thất.
Cha hãy nghe con kể lại cha hay việc đã xẩy đến cho con ở một kiếp trước kế ngay với kiếp này của con. Ở kiếp ấy con đã mang tên là Sutapas, nghĩa đen là “kẻ lấy khổ hạnh làm tốt”. Bấy giờ con là nhà tu khổ hạnh. Con nhiệt thành phụng thờ Thần Vishnou vị chúa tể của vũ trụ đáng để con phụng thờ. Thấy con đã làm tròn bao nhiêu lời thệ nguyện rồi, vị Thần này hiện xuống trước mắt trần gian của con, ngự trên mình thiên điểu Garuda và bảo con rằng: “Ta cho nhà ngươi một đặc ân này; cái gì ngươi cầu thì sẽ được!”
Con bèn trả lời với đấng Chúa tể vũ trụ ấy: “Nếu Ngài bằng lòng thì tôi xin Ngài cho tôi hiểu bí quyết của Maya là gì?”
Thiên thần trả lời: — “Ngươi sẽ làm gì bằng sự hiểu biết Maya? Ta muốn ban ơn cho nhà ngươi một cuộc đời
đầy đủ, làm tròn bổn phận của ngươi với xã hội, ngươi sẽ giàu có, mạnh khoẻ, sung sướng và dòng dõi hiển hách!”
Nhưng con trả lời: — “Chính tôi muốn được giải thoát khỏi những điều kiện ấy để đạt tới cái gì ở bên trên nữa!”
Thiên thần bèn nói: — “Không ai có thể hiểu nổi tuồng ảo hóa Maya của ta. Không ai xưa nay đã hiểu được. Chẳng khi nào có ai đã có thế thấu hiểu hết ý nghĩa thần bí ấy. Ngày xưa có một bậc hiền thánh cùng thần tiên, ấy là Narada, con đẻ của Phạm thiên Brakma. Ông ta nhiệt thành phụng thờ Ta. Cũng như ngươi lúc này, ông được lòng Ta lắm, và có một hôm Ta hiện ra trước mắt ông ta cũng như bấy giờ Ta đang hiện thân trước mắt nhà ngươi. Ta cho phép ông ta một điều cầu ước và ông ta cũng cầu ước điều mà ngươi đang cầu. Tuy rằng Ta đã bảo trước ông ta không nên hỏi han gì hơn về bí quyết Maya của Ta, vậy mà ông ta cứ vật nài cũng như nhà ngươi đang vật nài lúc này vậy. Ta bèn bảo với ông ta: “Người hãy lặn vào trong làn nước kia thì rồi ngươi sẽ thấy được bí quyết Maya. Narada bèn lặn ngay xuống ao nước. Khi ngoi lên ông ta hóa ra một ngưòi con gái trẻ.
Narada một khi ra khỏi làn nước thì trở nên nàng Sucila (người có đức hạnh), làm con gái vua thành Bénarès. Khi nàng công chúa này đến tuổi cập kê, vua cha bèn gả cho hoàng tử nước láng giềng Vidarbha. Nhà đạo sĩ khổ hạnh Narada từ đây dưới thân hình nàng công chúa Sucila là vợ một hoàng tử, bấy giờ cảm thấy đời mình đầy đủ lạc thú của ái tình. Đến khi vua Vidarbha già mất đi thì chồng nàng Sucila liền nối ngôi vua. Bà Hoàng hậu xinh
đẹp sinh hạ được nhiều con gái, con trai, và rất mực sung sướng.
Song chẳng bao lâu giữa nước của vua chồng và nước của vua cha của Sucila có sự khởi hấn và biến thành chiến tranh tàn khốc. Trong một trận giao tranh vĩ đại, con cháu, cha và chồng đều bị tử trận. Được tin, ngày làm lễ hoả táng, hoàng hậu bèn dời khỏi kinh đô đến tận bãi chiến trường để được cất tiếng trịnh trọng khóc than. Bà cho dựng một đài củi hoả táng vĩ đại cho chất các tử thi của con, cháu, chồng và cha bên cạnh nhau, và tự tay bà châm lửa vào đài hoả táng. Đến khi ngọn lửa bốc lên cao rồi, bà kêu gào: hỡi con ơi, hỡi con ơi, hỡi chàng ơi, hỡi cha ơi! Khi ngọn lửa rẹo nổ thì bà nhảy ngay vào đống than hồng đang cháy to. Ngọn lửa bỗng trở nên trong mát và tinh khiết, đài hoả táng biến thành một cái ao nước và ở trong nước thấy có Sucila nhưng tái hiện dưới hình đạo sĩ Narada. Thiên thần Vishnou cầm tay đạo sĩ giắt ra khỏi ao nước trong như thủy tinh.
Khi đạo sĩ và Thiên thần đã lên tới bờ rồi, Thiên thần Vishnou mỉm cười tinh quái mà hỏi đạo sĩ : Chứ người vừa khóc than cái chết của đứa con nào thế? Đạo sĩ Narada lúng túng thẹn thùng. Thiên thần bèn nói : Đấy là hình ảnh Maya, tuồng Ảo hoá của Ta đấy, đau khổ u thảm, đáng nguyền rủa. Cả Phạm thiên Brahma sinh ở nơi sen, cả các thần khác như Indra, cả thần Çiva nữa đều không có thể thâm nhập được vào cái vực thẳm không đáy ấy được. Ngươi là thận phận làm người, ngươi làm thế nào mà hiểu nổi cái vật bất khả tri lường ấy được?
Đạo sĩ Narada bèn cúi xin được phép có một lòng tin và một lòng thờ phụng hoàn toàn cũng như có được ân huệ
nhớ lại sự kinh nghiệm ấy mãi mãi về sau. Ông ta còn xin phép cho cái ao trong đó ông đã lặn vào như bước vào một cái suối nhập môn trở nên một chỗ linh thiêng để chiêm ngưỡng. Nước ở trong ao nhờ có sự hiện diện thần bí thường xuyên của Thiên thần đã lặn vào đấy để giắt đạo sĩ ra khỏi pháp thuật thâm sâu, thì trở nên có hiệu lực rửa sạch tất cả tội lỗi. Thiên thần Vishnou bằng lòng ưng thuận cho những điều ước cầu thành tín ấy và tức thì biến đi, trở về cõi Thiên cung của Bể sữa. Và Thần Vishnou, lần này, trước khi từ biệt đạo sĩ khổ hạnh Sutapas, đã kết luận để bảo cho biết rằng bí quyết của tuồng Ảo hoá Maya thì không có thể giải thích được và không có thể để cho người ta đứng ra ngoài mà hiểu nổi. “Nếu ngươi muốn thấu hiểu thì ngươi phải lặn vào trong nước ấy và ngươi sẽ biết tại sao nó lại như thế”.
Đấy cũng là kết luận ở Dịch bên Trung Quốc vậy: “Hoá nhi tài chi, tồn hồ biến, thôi nhi hành chi, tồn hồ thông, thần nhi minh chi tồn hồ kỳ nhân. Mạc nhi thành chi, bất ngôn nhi tín, tôn hồ đức hành “. (Hệ từ)
“Hoá đi mà vun vào cho thì ở tại chỗ biến, thúc đẩy mà hành động thì ở tại chỗ thông. Lấy thần thức mà soi thì ở tại người ta. Yên lặng mà thực hiện, không giải thích mà tin thì ở tại đức hạnh”.
Vậy Vũ trụ Dịch ở Trung Quốc cũng như vũ trụ Maya ở Ấn Độ hay “Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy” ở Việt Nam đều cùng một ý nghĩa là không phải một chủ nghĩa trí thức Duy tâm hay Duy vật, chủ trương lấy một nguyên lý trong nhị nguyên hoặc tâm hoặc vật làm nguyên lý khởi thủy tạo ra thế giới, mà nó chỉ là những nhận định xác thực sự vật
bày ra trước mắt do từng trải kinh nghiệm thực tế mà thấy tính cách tương đối, nửa thực nửa hư. Và trong hoạt động ở cuộc đời thực tế người ta bèn lấy nhận định ấy dựng làm giả định tiêu chuẩn để hướng đạo cho hành động, không có tính cách một chân lý xong rồi chỉ phải khoanh tay chờ đợi như một giáo điều, một chủ nghĩa độc đoán.
Vivekananda, nhà đạo sĩ Ấn Độ cận đại cố giải thích về Maya trong một bài thuyết pháp ở Luân Đôn, nhan đề “Ảo hỏa và Sắc không”, ý nghĩa trọng yếu như sau:
“ Maya không phải là một thuyết lý để giải thích Vũ trụ. Nó chỉ trình bày một cách giản dị sự thực là như thế mà bất cứ ai để ý quan sát đều nhận thấy. Chúng ta như thế nào thì nó là như thế, nó như là cái mà chúng ta nhìn thấy trước mắt và thực nghiệm ở bản thân: chính nền tảng của sự thực tại của chúng ta là mâu thuẫn. Chúng sống trong một cái thế giới đầy mâu thuẫn mà chúng ta không có thể thấu đáo được bằng lợi khí của tinh thần và của giác quan. Giá trị khả năng của lợi khí ấy đáng nghi ngờ. Thế giới này có thực là có thực một cách tương đối với chúng. Nếu chúng thay đổi thì thế giới cũng thay đổi theo. Vậy sự có thực mà chúng ta gán cho thế giới thì không phải là một thực tại cố định, bất dịch,tuyệt đối. Nó phô diễn ra một mớ trà trộn không nhất định vừa thực vừa ảo. Cái này có lẽ đối đãi với cái kia mà có. Và sự mâu thuẫn trái nghịch ấy thì từ cổ lai tất cả các tinh thần sáng suốt về vũ trụ đều đã nhận thấy. Từ Héraclite đến Vệ đà và Dịch kinh. Đây chính là vì những điều kiện của tri thức nó hạn chế chúng ta không cho chúng ta giải quyết được các vấn đề then chốt của tri thức, rất cần thiết đối với chúng ta, ví như tình yêu và
cơm gạo. Tri thức của chúng ta tự căn bản không thể vượt khỏi giới hạn nhất định được. Và sự mâu thuẫn thường trực giữa nguyện vọng của chúng ta với bức tường ngăn cản chúng ta, giữa hai loại sự thực mâu thuẫn không cóchung một mực thước, giữa thực tế phũ phàng và xác nhiên của cái chết với ý nghĩa chẳng kém phần xác thiết, thực tế không chối cãi của sự sống, giữa mệnh lệnh tuyệt đối của một số định luật của trí thức và tinh thần với dòng trôi chảy không ngừng của tất cả những quan niệm của tinh thần và của tình yêu — những sự thay đổi không ngừng của thiện và ác, chân và ngụy, bên này và bên kia đường biên giới của thời gian và không gian — tất cả cái khúc rắn mà tư tưởng nhân loại kể từ đầu đã bị thắt chặt quấn quanh, và kể từ đầu nó không ngừng gỡ mối một đằng để thấy càng thắt chặt ở một đằng khác. Tất cả cái thế giới thực tế ấy là một tuồng ảo hoả, là Maya vậy.”
Và đạo sĩ Vivekananda kết luận Maya là một quan niệm tương đối về vũ trụ:
“Thiện và ác không phải hai sự có hiện hữu phân biệt với nhau. Điều thiện của bữa nay có thể là điều ác sớm mai. Lửa có thể đồng thời nuôi sống và đốt chết. Người ta không có thể đình chỉ điều ác mà không đình chỉ cả điều thiện. Người ta không có thể làm ngừng sự chết mà không cắt đứt cả sự sống. Mỗi một trong hai phương diện trái nghịch là một biểu hiện khác nhau của một cái thực tại. Triết lý Vệ Đà dạy chúng ta rădng chúng ta sẽ đi đến một lúc mà ngoảnh cổ lại đằng sau, chúng ta sẽ tự cười thầm những lý tưởng mà chúng ta đã cố bám chặt lấy một cách thất vọng, sợ mất cái ngã của chúng ta vậy. “Maya et Illusion” (Jnanayoga-Vivekananda).
Tư tưởng Ấn Độ xem như trên đây thì tự cổ sơ đã quan niệm thế giới là một tuồng ảo hoá Maya, đã nhận định sự thực ở ngoại giới và nội giới là một tuồng ảo hoá và đã lấy thuyết Maya rút trong kinh nghiệm thực tế dùng làm kim chỉ nam để hướng dẫn bước đường đi trong rừng rậm của lục địa xanh. Và nhân loại Ấn Độ cũng sớm ý thức nguồn sống miên tục thuần nhất luôn luôn khai triển ngấm ngầm đằng sau tuồng áo hóa, bên trong vạn vật sai thù. Họ ý thức rằng ở tâm hồn nhân loại luôn luôn tự do không bị định luật tự nhiên chi phối, đồng thời họ cũng xác nhậnmạnh mẽ cái định luật đanh thép của tự nhiên nó chi phối tất cảvũtrụ. Để ứng phó với sự thực hiển nhiên ấy một đằng là tự do một đằng là nô lệ, tư tưởng Ấn Độ suốt mấy ngàn năm đã thực nghiệm trong hai thái độ để giải quyết vấn đề mâu thuẫn. Ấy là thái độ của Bà la môn, Ấn Độ giáo vàtháiđộ của Phật giáo, hai tiêu biểu lý tưởng của tinh thần tập thể Brahma và Bouddha. Đứng trước tuồng ảo hóa của thế lực thiên nhiên của cuộc đời tương đối Brahma bảo chúng ta hãy cố thực hiện lấy cái chân thật trong cái huyền ảo, lấy cái có trong cái không, lấy cái thực trong cái hư, tuần tự giác ngộ trong cái đau khổ của hành động thực tế. Còn Phật đà lại bảo chúng ta hãy giác ngộ tất cả cái này đều là ảo. Chúng sinh đang mắc trong cái lưới của hiện tượng, mắc lưới chằng chịt khác nào con cá mắc vào lưới của người đánh cá, giản dị nhất là chúng ta chỉ phải quyết chí, nhất tâm đứng dậy theo con đường của Phật phá tan lưới của hiện tượng, đoạn tuyệt với việc đời, nửa đêm trốn khỏi lâu đài phú quí, vinh hoa, khỏi tình nghĩa gia đình, xã hội cha mẹ, vợ con, vào núi tìm quả quyết tuyên bố: “tất cả ấy không có thực”.