Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 3 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 3 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 128.

Chương 11: Lý Luận Thực Nghiệm & Lý Luận Nhân Minh Trong Vấn Đề Nghịch Kiến (Trang 107 - 128)


LUẬN LÝ THỰC NGHIỆM và
LUẬN LÝ NHÂN MINH
TRONG VẤN ĐỀ NGHỊCH KIẾN


NGÔ TRỌNG ANH
 
  1. “ĐỐI THOẠI VÀ DẤN THÂN”
Phái luận lý thực nghiệm là phái triết học được thế giới khoa học hiện đại tôn sùng, do đó các chính quyền của Đông cũng như Tây, Cộng sản cĩmg như Tư bản tất cả đều đầu tư hay đầu cơ nó để tổ chức xã hội cơ khí ngày hôm nay. Giá trị của nó được đưa lên cao quá mức tưởng tượng là nhờ ở định kiến: Con người là con vật có lý trí được chấp nhận không thắc mắc. Đó là nguyên lý đầu tiên của nền tư tưởng Tây phương. Con người dần dà được thay thế bằng lý trí thành thử thân phận con người đã bị bỏ quên khi nào không hay, nhất là khi Chân lý của con người được thay thế bằng những chân lý của lý trí quá hấp dẫn như chân lý kiểm chứng (vérité-vérification), chân lý mạch lạc (vérité-cohérence), chân lý hữu hiệu (vérité-efficacité).

 
 
 
 
Rủi thay những chân lý này lại thất nhân tâm vì con người phức tạp khôug phải con vật chỉ gồm có lý trí. Một số triết gia Tây phương đã nhận thấy như vậy nhưng phần đông lại thay đổi châm ngôn trên bằng câu: “Lý trí con người là quan hệ bậc nhất” cho nên không giải quyết được vấn đề vì họ cũng đưa đến chỗ suy tôn lý trí tai hại như xưa. Tai hại vì lý trí thường được hiểu là khả năng phân biệt thiện-ác, đúng-sai, đen-đỏ, sáng-tối v,v trên con đường phân hai. Phân hai để mà đối thoại, đối diện, đối địch, kết bè lập phái, gây oán sinh thù. Nếu gặp trở ngại mà không chịu hòa thì quyết dấn thân ăn thua đủ vì đã lựa chọn con đường lý tưởng hay nhất cho mình, và xấu nhất cho kẻ thù.
Trong thế giới lý trí mà nhà Phật gọi là Y tha khởi mọi sự đều tương  đối, đó là thế giới của những ý kiếnvô thưởng, vô phạtnhưng lại chốngđối hoặcliên kết nhau tùy theo cách sử dụng. Mỗi ý kiến phát ra đều gặp phải một ý kiến trái nghịch tương đương giá trị chống lại, không có vấn đề hơn thiệt ở đây. Thế giới luật sư hiểu rõ vấn đề này hơn ai hết vì họ không mấy khi lựa chọn khách hàng và lý đoán của họ hoàn toàn tùy thuộc theo hoàn cảnh đưa đến, họ không có ý kiếnriêng. Tất nhiên khira toà họ sẽ viện tất cả lý lẽ để bênhvực cho ýkiến củakhách. Nhưng nếu đối phương đến thuê họ trước thì họ lại có những ý kiến trái ngược và cũng không kém phần hùng biện.
 
II. NGŨ KIẾN

Nhưng trên trường đời thì tất cả chúng ta đều là luật sư, một thứ luật sư không cần pháp luật, bất chấp hình luật.

 
 
 
 
Và thế giới “đối thoại” sở dĩ gây hận thù chiến tranh là vì y không còn ở trong phạm vi Y tha khởi nữa mà lại ở chốn Biến kế sở chấp.
Nếu biến kế đem lạỉ sự “đối thoại” thì sở chấp đem lại sự “dấn thân” vì theo lý trí con người không có gì quí bằng thân xác.
Trong Ngũ kiến, hay năm ý kiến chấp nệ thiên tà của kinh Phật thì Thân kiến đứng hàng đầu vì ai cũng chấp vào thân xác trước tiên để rồi nương vào đó mà chấp vào cái có ta và những cái của ta. Nếu những cái của ta gồm có ý kiến thì những ý kiến của ta biến thành Biên kiến, hay kiến chấp thứ hai của Ngũ kiến. Biên kiến là ý kiến một bên, thiên vào một đường, chỉ biết ý kiến của ta mà không chấp nhận ý kiến của người khác và vì chỉ biết có một bên cho nên lâu ngày biên kiến biến thành Tà kiến. Tà kiến biết một mà không biết hai trong khi biên kiến biết hai mà chấp một. Biên kiến là liếc mắt nhìn một bên đường còn tà kiến là cận thị chỉ thấy gần mà thôi. Tà kiến nặng hơn biên kiến và không thể chữa được vì tà kiến đã quá xa vòng đối thoại. Biên kiến sau khi đối thoại có thể đổi biên, bỏ đảng theo đối lập hay đổi lý tưởng theo thời, nếu thấy làm vậy có ích cho ta và hợp lý hơn. Biên kiến là ý kiến giai đoạn còn tà kiến là sở kiến suốt đời. Tà kiến khư khư giữ lấy ý kiến mình cho đến chết cho nên bệnh tà kiến là một chứng nan y. Những bậc tu hành cũng đôi khi mắc phải vào tà kiến mà kinh Phật gọi là Giới thủ kiến. Giới luật là quan trọng bậc nhất đối với kẻ xuất gia cho nên phải giữ giới, nhưng nếu quá chấp vào Giới thủ thì cũng là kiến chấp. Muốn thấu triệt thế nào là Giởi thủ kiến trước hết chúng ta

 
 
 
 
phải hiểu thể nào là Giới luật theo tinh thần Phật giáo. Giới luật Phật giáo không phải cấm điều theo tinh thần giáo điều. Giới luật chỉ quan hệ với người giữ giới chứ không quan hệ với Giáo hội nếu rủi có. Không ai bắt ta phải giữ giới ngoại trừ ta nguyện theo sở thích. Giới luật Phật giáo là những giới hạn tu chứng mà tu sĩ đã đạt và nguyện giữ vì tự lượng sức mình rồi. Ôm đồm nhiều giới quá sức để mà giữ không nổi nên mới có chuyện phá giới hoặc chấp vào giới. Chỉ có nhũng vị tu chưa đến nơi mà đã ham khoác áo cao tăng mới mắc vào Giới thủ kiến.
Công án Thiền sau đây chứng tỏ việc này:         
“Trên đường về chùa, hai học tăng gặp một thiếu nữ vướng vũng nước không bước qua được. Một học tăng “bưng” ngay thiếu nữ và giúp nàng bước qua. Khi về chùa học tăng thứ hai thắc mắc hỏi tại sao không giữ giới. Học tăng kia trả lời: Tôi bồng nàng qua vũng nước rồi thôi, chính anh mới không giữ giới vì đã bồng nàng trong óc hơi lâu.”
Theo tinh thần Phật giáo thì chính học tăng thứ hai đã phạm giới vì đã chấp vào Thủ giới kiến, mặc dầu đương sự trên hình thúc không có gì là phạm giới cả. Một số tu sĩ thành cao tăng quá sớm không thể tự ý phá giới vì sợ mất chức tăng nên muốn đánh lạc hướng tinh thần Phật giáo. Họ cho rằng giáo luật lương đương với giáo điều của mấy tôn giáo bạn và Tân tăug được thành lập trong tinh thần “giải giới” là vì vậy. Họ muốn nhờ tay Giáo hội Tân tăng giảm giới luật giùm để cho bản thân bớt thắc mắc. Tất nhiên trong thế giới Biến kế sở chấp của Giới thủ kiến này thì mọi sự hợp lý của lý trí đều được đưa ra để bênh vực cho Giáo hội Tân
 
 
 
 
tăng và ai cũng phải khen là đúng vì Giáo hội Tân tăng rất mạch lạc, rất hiệu năng, và rất khoa học.
Tà kiến là cái thấy lầm của thế gian đầy tội lỗi cho nên mới gọi là tà, còn Giới thủ kiến là cái thấy lầm của tu sĩ quá cao cho nên thế gian không biết gọi như thế nào. Bệnh của thế gian là do vi trùng còn bệnh của tu sĩ là do siêu trùng. Do siêu trùng (virus) nặng hơn vì thầy thuốc mà đau tất bệnh phải nặng lắm. Tô Đông Pha một tu sĩ kiêm thi sĩ đã than:
            Cà sa vị trước hiềm đa sự,
Trước đắc cà sa sự cánh đa.
Cái đa sự khi chưa mặc cà sa là đa sự của thế gian còn cái đa sự khi mặc cà sa rồi là đa sự của tu sĩ, nếu có thì nó nặng hơn cái đa sự của thế gian nhiều lắm.
 
III. KIẾN THỦ KIẾN

Giới thủ kiến chỉ đến với lý trí thích suy luận của học tăng chấp giới cho nên tu sĩ gặp đa sự là vì bản thân còn đa mang với lý trí trong thế giới Biến kế sở chấp. Kiến thủ kiến là Giởi thủ kiến được nới rộng giới hạn không bờ bến. Giới thủ kiến là ý kiến chấp lấy Giới cấm, còn Kiến thủ kiến là ý kiến chấp vào ý kiến về Thủ giới kiến. Đó lả kiến chấp thứ năm của Ngũ kiến, một thứ kiến chấp vô cùng tế nhị của lý trí nhân loại mà chúng ta không thể nào mà phân biệt chân tướng nó như thế nào. Khó nhận diện vì nó được mặc bằng nhièu bộ ảo triết thuyết cao siêu và triết thuyết là những ý kiến về những ý kiến. Kiến thủ kiến là ý kiến
 
 
 
chấp lấy ý kiến, hay nói một cách khác Kiến thủ kiến là ý kiến chấp lấy Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Giới thủ kiến và cả... Kiến thủ kiến nữa...
Nếu Thân kiến là chỉ nhìn bản thân khôug nhìn ai, Biên kiến là nhìn một bên, nhìn phân nửa thế giới, Tà kiến là cận thị không thể nào nhìn xa, và Giới thủ kiến là nhắm mắt không thể nhìn gì, thì Kiến thủ kiến là nhắm mắt để mà nhìn xuống, nhìn một bên, nhìn gần, sống với chiêm bao. Kiến thủ kiến tuy mạnh hơn và hấp dẫn hơn các kiến chấp khác vì tầm nhìn quá rộng lớn nhưng lại thua ở chỗ nhắm mắt mà nhìn thành thử xa vời thực tế để sống với chiêm bao. Lý trí không thích thực tại nhưng lại thích lý tưởng và con người của lý trí là con ngườilý tưởng chứ không phải con người thực tại. Con người  lý tưởng có thể là đạo sĩ khổ hạnh lo hướng về kiếp sau, là vị anh hùng dân tộc hy sinh con để cháu hưởng, hy sinh cháu để chắt hưởng và hy sinh hoài nên không ai hưởng hết kể cả đương sự. Con người lý tưởng cũng có thể là nhà cách mạng lão thành, nhà chính trị uyên thâm hằng mongcải tạo đời sống tương lai bằng cách phá tan hiện tại và sẽ phá tan tương lai khitương lai biến thành hiện tại.
Con người thực tại có thể không nhìn được cái gì trong tương lai nhưng được phước ởchỗ y mở mắt nên không say mê lý luận mà thích ca hát, ngâm thơ, ham cầm kỳ thi họa. Họ là những thiên tài và nhờ không đấu tranh hơn thiệt cho nên thông cảm với những gì trong con người mà lý trí bỏ qua vì phi lý. Thiên tài không thể sống với lý tưởng cho nên thần tượng hóa thiên tài là giết chết họ. Cô đơn hóa, cô lập hóa, bôi nhọ thiên tài là giúp cho thiên tài sáng tác.
 
 
 
Ngài Thảo Đường sáng lập ra một tông phái Phật giáo Việt Nam đã là một tù nhân đầy nghệ sĩ. Bùi Giáng phước lắm mớiđược đưa đi Biên Hoà     và Miên Đức Thắng gặp may nên lãnh phải án mặt trận.  Phước nhất có lẽ là những văn sĩ nhóm Nhân văn nhờ “Nhà nước” lưu tâm đày biệt tăm mất tích ở một nông trường Bắc Việt thời Trăm hoa đua nở. Trong đó có nhà văn Phan Khôi, chuyên viên dùng nghịch kiến để hại biện chứng duy vật. Rất tiếc rằng những sáng tác của họ trong lúc đi đày nay không biết dấu nơi đâu?
 
IV. NGHỊCH KIẾN VÀ MẤY CON CHUỘT CỦA BÁC SĨ MAIER.

Bác sĩ N. R. F. Maier giáo sư đại bọc Michigan có nuôi một bầy chuột trong lồng. Lồng có haicánh cửa. Muốn mở cửa chuột phải nhảy từ một cái bậc để phóng mình vào cửa. Cửa bên mặt không mở được nên chuột sập mũi và rớt vào một cái lưới, cửa bên trái thì mở ra dễ dàng và chuột sa vào chĩnh nếp cỏ món ăn. Khi chuột được huấn luyện thuần thục, giáo sư đổi tình trạng. Bên mặt có thức ăn và cửa mở được còn bên trái thì sập mũi và sa lưới. Sự thay đổi này làm cho nhiều chú chuột phân vân và hoảng hổt vì không biết bên nào sập mũi và bên nào có ăn. Các chú chuột hiện đang ở trong tình trạng nghịch kiến (paradoxe). Nghịch kiến là ý kiến trái lại với định kiến hay thành kiến mình đã chấp nhận vì thói quen. Trước tình trạng nghịch kiến một số đông không chịu lựa chọn mà nhất định nhịn đói, thà chết, đó là tình trạng buồn nôn trước cuộc đời chuột phi lý.
Nếu bác sĩ dùng phương pháp độc tài cưỡng chế hay

 
 
 
 
tuyên truyền chuột phải lựa chọn bằng xịt hơi cay hay quay điện thì bầy chuột liều mình dấn thân theo một định kiến được lựa chọn nào đó bất chấp thành quả mặc dầu có sự thay đổi bất lợi. Nếu đã lựa chọn bên trái có món ăn thì dầu cho bên mặt cửa mở rộngvớithức ăn, chuột vẫn nhảy vào cửa trái để sập mũi và sa lưới. Mỗi lần sập mũi là điên tiết thêm, nhảy bậy tứ tung, chưởi bới rầm rĩ, nằm lăn chết giấc, không ăn không uống. Cuối cùng chuột ta không thiết tha với bất cứ gì trong trời đất, hoàn toàn vô tri giác, sống như máy.
Thế giới tuyên truyền và cưỡng chế ngày hôm nay đã làm cho nhân loại đảo điên, điên đảo. Biểu tình, đình công, bãi thị, nội chiến đảo chính, v.v là những trạng thái của chuột: Trước mặt thì bị nghịch kiến chặn, đứng đàng sau thì áp lực máy móc xổ đẩy. Bác sĩ Maier của nhân loại là những máy tính điện cơ với những công thức tùy theo mộttriết thuyết kinh tế chính trị nào đó.Những công thức này là những định kiến được toán học hóa gồm đầyđủ Ngũ  kiến của Phật giáo. Thân kiến thì  ở Mỹ với những  cơ quan thương mại ích kỷ buôn súng bán xương. Biên kiến thì ở Pháp với sự phân hoá xã hội tự do dân chủ thiên tả thiên hữu lung tung, Tà kiến thì ở Nga Hoa với sự huấn luyện cán bộ hận thù sùngsục, đấu tranh giai cấp. Giới thủ kiến lại ở Nhật với những Giáo hội lạ lùngvừasuy tôn giáo chủ vừa ẩn định giáo điều.
Phân chia như vậy cũng là một định kiến vì trong thế giới hiện tại đầy cả nghịch kiến, thì ở đâu cũng có ít nhiều các loại Ngũ kiến. Ví dụ, Do thái là một quốc gia có thể nói là có nếp sống cộng sản hơn cả Nga Hoa mà lại được tư

 
 
 
 
bản chống cộng Mỹ giúp. Các nước Ả rập thì phong kiến hết mình lại được Nga Hoa tuy bài phong mà vẫn ủng hộ.
Ở Việt Nam chiến tranh không dứt được là vì dân chúng nhất là ở Bắc Việt hiện đang ở trong tình trạng bầy chuột bị dồn ép lâu ngày, sập mũi sa lưới quá quen thuộc, nên một số chỉ biết thà chết thì thôi chứ không chịu để ý đến hòa bình. Hòa bình là một danh từ không có trong từ điển Việt Nam suốt ba mươi năm nay nên quá xa lạ đối với họ nên họ có thể đâm ra điên dại nếu có hòa bình thật sự. Cánh cửa hòa bình Ba lê để trống nhưng không ai chịu vào và tất cả đều xô nhau vào cánh cửa chiến tranh Campuchia.
 
V. NGHỊCH KIẾN THỰC NGHIỆM VÀ NGHỊCH KIẾN LUẬN LÝ

Vì lẽ định kiến có nhiều hạng cho nên nghịch kiến cũng có nhiều thứ. Rắc rối nhất là những nghịch kiến thuộc vào phạm vi luận lý học hay nghịch kiến luận lý hết sức trừu tượng và rất chuyên môn. Còn những nghịch kiến khác chúng tôi xin tạm gọi là nghịch kiến thực nghiệm vì phái thực nghiệm quan niệm rằng họ có thể dàn xếp với những biện pháp khoa học thích nghi.
Trong khuôn khổ tờ Tư tưởng số 3 tôi chỉ bàn về nghịch lý thực nghiệm này với vài thí dụ khá“thời tượng”. Chúng tôi xin đểdành vấn đề Nghịch lý luận lý cho Tư tưởng số 4 cùng với những luận sư tên tuổi Tây phương như Hussell, Wittgenstein, Carnap, Ayerv.v hay Đông phương

 
 
 
 
Thế kỷ thứ 9-12 với Long Thọ, (Nagarjuua), Pháp Xứng (Dharmakirti), Thượng yết la chủ (Karnakagomin) v.v...
 
V. 1. NGHỊCH KIẾN THỰC NGHIỆM.
            Những nghịch kiến này thường xảy ra trong lĩnh vực xã hội cho nên làm điên đầu một số đông quần chúng rất tai hại cho trật tự và an ninh công cộng. Những nghịch kiến luận lý tuy là then chốt nhưng quá cao siêu thành thử chỉ làm mệt óc những luận sư mà thôi không cỏ ảnh hưởng trực tiếp với đời sống hàng ngày. Nghịch kiến thực nghiệm thành tựu khi một định kiến của toàn thể không đem lại kết quả mong muốn trong khi không thể nào khước từ định kiến ấy. Tình trạng sống với nghịch kiến có thể ví như tình trạng đứng trước sông sâu sau lưng giặc đuổi; đàng nào cũng chết. Tình trạng này cũng như phong trào SVHS Việt Nam ngày nay. Ngưng đấu tranh khi chưa thắng là chểt tự ải anh hùng cách mạng nhiều lắm, còn tiếp tục đấu tranh bỏ thi đễ “nhỏ không học lớn làm CSDC” thi nghĩ cũng kỳ cục. Thanh niên Việt Nam từ Bắc chí Nam hiện đang ở trong những tình trạng nghịch, kiến, rộng lớn hơn nghịch kiến SVHS nhiều. Ở miền Nam trốn quân dịch phải chạy tránh cảnh sát, quân cảnh có cờ. Trốn quân dịch là chết đói vì không làm ăn gì được. Còn tòng quân thì phải ở tại ngủ quá lâu và chiến tranh dầu thắng hoài cũng vẫn mệt vì nếu không chết nạn thì cũng chết mòn. Con người không phải cái máy, ái quốc dài hạn cũng ngán, anh hùng cả đời cũng nhàm, nhất là bình sinh không phải ai cũng thích làm võ tướng. Mà muốn đi từ binh nhì đến cấp tướng thì dầu cho ởViệt Nam cũng vẫn là chuyện khó. Còn muốn miễn

 
 
 
 
dịch bằng khoa bảng thì lại bị ràng buộc vào điều kiện: Thi đâu đậu đó, quá khó cho cái thân già khai sanh gian không được.
Nghịch kiến này dân miền Bắc cũng vướng phải nhưng nặng hơn vì ở Bắc không có chuyện trốn khỏicặpmắtcông an của các đảng viên bí mật. Hơn  nữa ởnhàcựchơn đi bộ đội nên họ thích chết trận hơn chết đói. Chết đói với hai nghĩa: đói thiếu cơm và đói thiếu tư tưởng. Ở miền Nam dầu sao cũng có thể đấu láo với nhau qua ngày đôi chút thôi chứ ở Bắc nói bậy thì bị đưa đi công trường tẩy não ngay. Tờ Tư Tưởng tuy ra đời một cách khó khăn (bị một ông giám đốc bộ thông tin thời tướng Trị từ khước với một văn thư khôi hài đại khái rằng: Đại học thiết tưởng không cần tư tưởng trong giai đoạn này...). Nhưng cũng vẫn ra đời được sau hai năm chờ đợi. Ở Bắc làm gì có Đại học tư mà bàn đến chuyện tư tưởng lôi thôi. Cơ quan thông tin nhà nước mạnh chừng nào thì nghịch kiến càng nghẹt thở chừng ấy.
Một nghịch kiến khác mà dân Huế hồi trận Mậu thân được chứng kiến một cảnh đau thương như sau. Vì một số quân quốc gia có lẽ ít lương sợ vợ con đói nên khi lâm trận vào nhà đồng bào hay hôicủabắt gà.Khiquâncộng sản chiếm đóng thì của còn gà còn nên ai nấy cùng tin tưởng rằng họ là bạn dân. Sau một thời gian hầu hết đều ngã ngửa vì tất cả của cải và số gà đều bị kiểm soát chìm. Dần dà vì mất ăn mất ngủ trong bầu không khí sợ sệt nên của cũng dâng đồng chí và gà cũng cúng đồng chí để khỏi mang tiếng tư sản mất mạng. Với lính quốc gia mất gà mà được thành nguyên cáo ăn ít ngủ yên,
 
 
 
với lính cộng sản tuy còn gà mà thành ra bị cáo, ăn không vô mà ngủ cũng không yên. Do đó phần đông đành theo phe quốc gia với triết lý tương đối cho rằng trên đời này không có đất nào lý tưởng cả. Nam thiệm bộ châu (Jambudvipa) là tên nhà Phật đặt cho vũ trụ này. Đó là thế giới của sự phân hai và đấu tranh không cùng. Nam thiệm bộ châu là thế giới của nghịch kiến.
Tất cả cái gì cũng biến thành nghịch kiến, sinh đẻ thành nghịch kiến với nạn nhân mãn, tăng thuế thành nghịch kiến với nạn thất thâu, khoa bảng cũng thành nghịch kiến vởi nạn từ chương v,v. Nhưng có hai nghịch kiến quan hệ nhất cho chúng ta là nghịch kiến Hòa bình và nghịch kiến Dân chủ vì hiện nay Cộng hòa dân chủ miền Nam và Dân chủ cộng hòa miền Bắc đang cùng nhau hội đàm hòa bình tại Balê và đang cùng nhau kịch chiến ở Cao mên.
 
V. 1. a. Nghịch kiến hòa bình.
Kỹ nghệ chiến tranh phát triển khủng khiếp và sự tuyên truyền nhồi sọ ý thức hệ quảá mạnh trên toàn khắp thế giới đã đi đến chỗ nghịch kiến như sau: Hòa bình cũng chết mà chiến tranh cũng chết.
Bên khối tự do thì chú trọng mạnh vào kỹ nghệ sản xuất còn bên khối cộng sản thì lại thích tuyên truyền nhồi sọ nhiều hơn. Nếu rủi ro có một thiên tai tâm lý chặn đứng chiến tranh thì cơ cấu xã hội của hai bên đều sập đổ toàn diện. Bên tự do thì cổ đông và tín phiếu sụt giá, thất nghiệp lung tung. Bên cộng sản thì truyền đơn, học tập vô dụng, chủ nghĩa hết thời. Hòa bình thật sự là loạn to trên khắp thế

 
 
 
 
giới. Thống chế Boris Chapochnikov, Tham mưu trưởng Hồng quân tuyên bố: “Hòa bình là tiếp tục chiến tranh với những phương tiện khác.” cũng với mục đích tránh sự kiện binh sĩ nổi loạn vì thất nghiệp. Theo quyển “Report from iron mountain on the possibility and desirability of peace” của Leonard C. Levin thì hòa bình có thể thực hiện được nhưng không đáng mừng vì nó sẽ đem lại những kết quả hết sức tai hại trên mọi phương diện như kinh tế, văn hóa, khoa học, tương sinh học (ecological) và nhất là trong lĩnh vực chính trị và xã hội vì không còn lý do để cưỡng chế quần chúng được nữa. Ở trang 89 tác giả có trích lời Hubert Humphrey như sau: “Những ý niệm mới, đặc biệt những ý niệm tỏ ra đi ngược lại những định kiến thông thường, bao giờ cũng đau đớn cho tâm hồn say tư”. Nghịch kiến không những đau đớn cho tâm hồn suy tư mà nó còn giết chết dân chúng vì loạn óc. Muốn đi từ chiến tranh đến hòa bình phải có những biện pháp “thất nhân tâm” mà dân Việt Nam đã bao phen lãnh đủ. Nếu chịu không nổi và chống đối thì biện pháp chiến tranh lại được đem ra xài qua ngày. Kiệm ước và phân suất quân bình làm tăng giá đô la vùn vụt, dân chúng la hoảng, thì chiến tranh Cao mên đã đem lại sự xuống giá mong muốn. Nghịch kiến hòa bình là như vậy đó. Ở đây không có vấn đề lựa chọn trước sự tiến thoái lưỡng nan mà là một vấn đề do sấm Trạng trình: “mười phần chết bảy còn ba chết hai còn một mới ra con người”. Con người ở đây là con người duy lý. Và con người duy lý sống sót phải chấp nhận những định kiến của tiên tri G. Orwell trong quyển “Nineteen eighty four” như sau: Chiến tranh làhòa bình, Tự do là nô lệ, Ngu dốt là sức mạnh.

 
 
 
 
V. 1. b. Nghịch kiến dân chủ.
Định kiến về nền dân chủ ngày hôm nay cũng phải theo đà Orwell mà biến thành công thức: Dân chủ là độc tài cho hợp thời trang. Độc tài thì chết mà dân chủ cũng chết. Tinh thần dân chủ là điềm quan trọng chứ không phải hình thức dân chủ của thể chế. Hơn nữa tinh thần dân chủ phải nằm trong mọi người chứ không riêng gì cấp lãnh đạo, do đó nếu đấu tranh chống độc tài mà hăng say dùng những biện pháp cưỡng chế người khác là đi đến chỗ: Độc tài là dân chủ. Thường thường Dân chủ chỉ thực hiện trên hình thức với sự bầu cử. Ai cũng đinh ninh rằng mình đã làm chủ số phận mình với một lá phiếu dân chủ chứ có biết đâu mình đã hợp pháp hóa độc tài. Dân chủ tập trung theo danh từ cộng sản là độc tài được che đậy với tỷ lệ đắc cử 99%. Nhưng nếu đắc cử với tỷ lệ tương đối quá nhỏ thì lại mất công bằng vì đa số phiếu thua thiếu số phiếu (trường hợp nhiều liên danh ứng cử) trái với tinh thần dân chủ. Một khi bầu xong thì ai nấy đều sáng mắt: mình chỉ được tự do một cách hạn chế trong khi bầu; bầu xong là mất tự do, vì người đại diện đã thay mặt cho mình mà định đoạt số phận mình rồi. Với nền cộng hòa miền Bắc thì nền dân chủ được tập trung vào Bác, Bác chết thì tập trung vào di chúc Bác, khỏi cần bầu bán gì cho nó lôi thôi. Với nền cộng hòa miền Nam thì nền dân chủ trên hình thức là vô địch thế giới. Mỹ có Chánh phó Tổng thống không có Thủ tướng. Pháp có Tổng thống không có phó mà lại có Thủ tướng. Việt nam thì vừa Tổng thống vừa Phó tổng thống mà còn có cả Thủ tướng nữa.
Đài Loan có Giám sát viện thì mình cũng có không thua,
 
 
 
Đại hàn có Tối cao pháp viện thì mình cũng có cho vui. Thế giới có lưỡng viện thì mình cũng có đầy đủ. Đó là không kể Toà án mặt trận và Thẩm chánh viện có đã từ lâu. Việt Nam thích dân chủ đến nỗi không ai chịu định đoạt cái gì, lui tới có mấy ông Tổng trưởng mà thành lập hàng chục Ủy ban. Đụng cái gì cũng thành lập Ủy ban và Hội đồng. Bốn chục cơ quan tự trị với bốn chục hội đồng quản trị gồm vỏn vẹn lui tới có bấy nhiêu ông Tổng giám đốc hay Giám đốc vừa làm chủ tịch và hội viên. Một mình coi trăm chuyện cho nên tình trạng kinh tế được tiến triển mạnh mẽ theo chiều hướng vô định ngày hôm nay. Nền dân chủ Việt Nam phải theo vô định chế mới phù hợp với máy điện cơ phân phát cấp sổ bất thường từ Bạch Ốc. Nếu ra Bắc thì lại khác hẳn, nền dân chủ được đặt trên độc hướng chế mọi sự đều được sắp đặt theo di chúc của Bác và chương trình Đảng do Bắc kinh ấn định từ lâu. ỞNam cũng chết mà ở Bắc cũng chết, khác nhau chăng là ở chỗ dân miền Nam không biết mình chết lúc nào nên có ảo tưởng tự do, còn dân miền Bắc thì biết rõ chỗ chết và nơi chết nên có ảo tưởng bình đẳng, hoàn toàn bình đẳng.
 
V. 1. c Phái Thực nghiệm Luận lý và và Nghịch kiếnThực nghiệm.
Có một phong trào hiện đang phát triển mạnh mẽ trong giởi triết học và khoa học, đó là phong trào ngôn ngữ học. Phái thực nghiệm luận lý đã mở đường cho phong trào này vì cho rằng sở dĩ triết học gặp nhiều ý kiến khác nhau hay nghịch kiến là vì thiếu sự minh bạch trong ngôn ngữ. Nói một cách khác triết học cần phải được khoa học hóa mới

 
 
 
 
hòng tiến lên. Ngôn ngữ học tuy vậy cũng chia ra nhiều môn vì nghịch kiến có nhiều loại. Sau đây là ba môn chính :
—        Đối với những vấn đề thuộc về tâm lý rắc rối, hay về sự thông cảm giữa người và người thì có môntừ nghĩa luận (sémantique)
—        Đối với những vấn đề thuộc về phương pháp lý luân, hay về những điều kiện để các dấu hiệu trở thành hữu nghĩa thì có môn luận lý toán học (logique mathématique)
—        Đối với những vấn đề về văn phạm và hệ thống dấu hiệu hoàn toàn hình thức thì có môn từ ngữ học (linguistique).
Những môn học này tương quan mật thiết nhau cho nên nhiều khi giới hạn giữa các môn ấy khó lòng mà mình định được. Ngôn ngữ học tuy hướng về triết học nhưng đôi khi vì vô tình đã tạo ra nghịch kiến cho các giới chính trị và thương mại và đã có lần bị chống đối kịch liệt. Từ nghĩa luận phân tích quá kỹ giátrị của mỗi danh từ trong sự thông tin đã làm giảm giá trị tuyên truyền chính trị và quảng cáo thương mại, do đó tờ New York Times đăng trên ba cột lớn khẩu hiệu “Từ nghĩa luận, một khí giới Cộng sản trong chiến tranh chống Kinh doanh tự do!” (Semantics, a Red weapon in War on Free Enterprise). Luận lý toán học thì lại có những định đề khác với luận lý cổ điển, đã làm khó dễ nền tảng của biện chứng duy vật. Vì vậy mà quyển Luận lý của V. F. Asmus bị Nga sô khai trừ bởi “tính chất vô chính trị và duy khách quan của nó”. (La philosophie contemporaine en Europe. Bochenski trang 58). Còn từ ngữ học thì trái lại, không ai ngăn cản mà lại còn được nâng đỡ

 
 
 
 
bành trướng mau lẹ vì tính chất duy hình thức của nó. Được nhiều cơ quan thuộc hệ thống quốc phòng lo đài thọ ngân sách vì nó là nền tảng của chiến tranh trong bóng tối. Chiến tranh chớp nhoáng căn phải có một ngôn ngữ đặc biệt để dể truyền tin mau lẹ và an toàn. Thế giới mật mã đã khai thác triệt để những khám phá mới của từ ngữ học để săn tin địch và dấu tin bạn. Máy tính điện cơ sở dĩ đã giúp rất nhiều trong việc phiên dịch những tài liệụ mật viết bằng ẩn số cũng nhờ ở các công thức rút ở từ ngữ học.
Tuy nhiên Từ ngữ học được phát triển mạnh mẽ chừng nào thì triết học phải lu mờ bấy nhiêu. Hình thức che lấp nội dung là phương pháp hay nhất để giết chết tư tưởng. Tư tưởng không còn thì con người biến thành bầy chuột của bác sĩ Maier trong giai đoạn chót: Nói như vẹt để mà không hiểu gì ráo. Những tổ chức duy giáo điều rất thích từ ngữ học, nhất là ở Đông Âu.
Một khi con người hóa máy sống với định kiến một chiều thì không còn có nghịch kiến vì nghịch kiến là con người đứng trước hai chiều; (một chiều giải lụa đào, một chiều chén thuốc độc). Tình trạng nghịch kiến làm rối loạn xã hội còn tình trạng định kiến một chiều đem lại an toàn xã hội và trật tự công cộng. Ngôn ngữ học loại trừ được triết học duy lý dễ dàng vì tột đỉnh của duy lý là thực nghiệm luận lý. Ngôn ngữ học khai trừ triết học duy lý bằng cách thâu phục họ nhưng không thể nào nắm được triết học nghịch lý, thủ phạm của sự đem ra ánh sáng những nghịch kiến tai hại. Đố ai mà thâu phục được Schopenhauer khi ông nói: “Tôi hoàn toàn không có một chút trực giác duy lý”. Thâu phục không nổi vì tác phẩm: “Bốn căn nguyên túc lý” của
 
 
 
ông đã nắm được thể tánh của chân lý một cách gián tiếp bằng cách phân tích nhiều loại chân lý khác nhau tùy vào lý trí con người: Nhiều chân lý quá là không có chân lý nào thật là chân cả.
 
V. 1. d Mười điều Tâm niệm của phái Tổng Từ Nghĩa Luận
Tổng từ nghĩa luận do Korzybski tạo ra cũng với mục đích loại trừ nghịch kiến nhưng thay vì huấn luyện dân chúng theo định kiến một chiều họ lại tìm cách phá tan mọi định kiến. Do dó phương pháp Korzybski rất gần với nhân minh luận lý Phật giáo trong giai đoạn phá chấp bằng tỷ lượng suy luận.
Mười điều tâm niệm của Tổng từ nghĩa luận là (Theo Language in thought and action của Hayakawa trang 292):
1.  — Họa đồ không phải đất ruộng mà là biểu tượng; từ ngữ không phải sự vật.
2.  — Ý nghĩa của từ ngữ không ở trong từ ngữ mà ở trong chúng ta.
3.  — Văn mạch (contexts) ấn định ý nghĩa.
4.  — Coi chừng từ ngữ LÀ đem lại những lầm lẫn ý nghĩa.
5.  — Đừng tìm cách qua cầu khi cầu chưa được bắc. Phân biệt giữa những câu hướng dẫn và những câu thông tin (directive and informative statements)

 
 
 
 
6 - Phân biệt ít nhất bốn nghĩa cho chữ “đúng” (true). Có một số nấm độc (phúc trình này đúng nếu được chứng nghiệm đúng) Sally là cô gái tuyệt thế nhất (câu này đúng nếu chúng ta ai cũng cảm thấy như vậy)
Mọi người đều sinh ra bình đẳng (câu hướng dẫn này đúng nếu chúng ta tôn trọng nó sau khi tin vào nó).
(x + y)2 = x2 + y2 + 2xy là đúng nếu phù hợp với một hệ thống ngôn ngữ đặc biệt gọi là đại số học.
7.  — Khi muốn thử “dùng lửa để trị lửa” nên nhớ rằng sở cứu hỏa chữa lửa bằng nước.
8.  — Sự phân hai là do con người chứ không phải do máy móc điều khiển con người.
9.  — Cẩn thận với định nghĩa, đó là những từ ngữ về từ ngữ. Nên suy luận bằng thí dụ thay thế cho định nghĩa nếu được.
10. — Dùng bản ghi cấp sổ và ngày tháng để nhắc rằng không một từ ngữ nào có thể dùng hai lần cùng nghĩa một cách chính xác.
Mười điều tâm niệm hay ho như vậy áp dụng có thành công hay không lại là một chuyện khác. Hồi đầu năm 1968, trong khi ởViệt Nam nạn Mậu thân đang tiếp diễn thì ở Mỹ phong trào nổi loạn của sinh viên hoành hành, mạnh nhất là ở Californie. Ông Hayakawa, tác giả của mười điều tâm niệm nói trên được mời làm Viện trưởng. Từ nghĩa luận của ông

 
 
 
 
không đem lại kết quả gì cả vì không ai nghe. Phá tan định kiến rất khó nếu thiếu phương pháp thích nghi. Phật giáo tuy cũng chú trọng về sự phá chấp bằng tỷ lượng nhân minh nhưng cho rằng suy luận suông không đem lại kết quả. Tu đạo Phật truớc hết là hành trì theo phương pháp tham thiền nhập định kèm với sáng tác nghệ thuật. Một phương pháp tuy không rõ ràng trước mắt như khoa học nhưng là phương pháp của Đông phương (ngày xưa) để phá tan nghịch kiến (phiền não chướng và sở tri chướng). Muốn theo phương pháp này chúng ta phải bắt chước người đi câu đời nhà Tấn có vui chân lạc bước đến khe Võ lăng mới biết thế giới thần tiên của dân tránh nạn bạo Tần ngàn năm trước, họ sống không liên lạc gì với thế giới bên ngoài.
Thượng sĩ Huệ Trung có làm hai câu thơ như sau:
Di!
Nhược giã bất nhân mê địch ngạn
            Hồ vi đắc đáo Võ lăng khê?
 
Trúc Thiên dịch:
Ôi!
Giá chẳng mê theo bờ lau lách
Làm sao đến được bến Võ lăng?
Bờ lau lách ởViệt Nam hiện có rất nhiều nhưng mấy ai dám liều mình lạc bước để đi mê các cốc cô đơn, chùa hoang, cảnh vắng, ở đấy không còn nghịch kiến mà là chánh kiến,

 
 
 
 
Tất nhiên óc duy lý sẽ chống đối kịch liệt phương pháp này vì họ tự trói mình trong khuôn khổ quá lâu ngày đến nỗi ở tù mà không hay biết. Thế giới của ngôn ngữ học không bao giờ biết thưởng thức thi ca, kịch nghệ. Đó là thế giới của chuyên viên chứ không phải của văn hào. Nếu trong thế giới văn chương nghệ thuật rủi mà có nghịch kiến tranh chấp thì tại vì có chuyên viên trá hình xâm nhập hàng ngũ: Nhạc công phánhạc sĩ, thợ sơn phá hoạ sĩ, phối trí nghệ thuật làm quẩn trí nghệ thuật. Thế giới văn nghệ trung thực nếu đã chánh danh tất phải chánh kiến.
NGÔ TRỌNG ANH
(còn tiếp)
 
 
CA DAO đã phát hành,
MẶT TRỜI và DÒNG SÔNG
thơ Phạm Nhuận
 
TRÍ NHỚ HOANG VU và KHÓI
tập truyện của Hoài Khanh Bìa Định Cường
 
 

 
 
 
 
MỤC LỤC
  1. PHẬT GIÁO ĐỐI MẶT
VỚI THẾ GIỚIHIỆN ĐẠI
Tư Tưởng
trang  3
  1. MỘT CƠ SỞ GIÁO DỤC
PHẬT GIÁO VN ĐỐI MẶT
VỚI THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI
Thích Minh Châu
13
  1. TIẾNG NÓI CỦA
CON NGƯỜI TRÊN MẶT ĐẤT
Thạch Trung Giả
19
  1. TIỀM NĂNG CỦA
Ý THỨC THẦN THOẠI
Lê Tôn Nghiêm
23
  1. TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
ĐỐI DIỆN VỚI HƯ VÔ
Tuệ Sỹ
33
  1. VŨ TRỤ NHÂN SINH QUAN
TRONG VĂN HÓA HIỆN ĐẠI
Thạch Trung Giả
45
  1. TINH THẦN ĐẠO HỌC ẤN ĐỘ   
Nguyễn Đăng Thục
57
  1. CHÌA KHÓA ĐẠO ĐỨC KINH
Thạch Trung Giả
69
  1. SỰ THẤT BẠI TRONG VIỆC
GIẢI THÍCH SCHOPENHAUER
Phạm Công Thiện
81
  1. TÔN GIÁO ĐÔNG TÂY: khi hai
người quân tử và thượng trí gặp nhau
Tôn Thất Thiện
89
  1. LUẬN LÝ THỰC NGHIỆM và
LUẬN LÝ NHÂN MINH...
Ngô Trọng Anh
107
 
giá 70$
 
 
 
 
 
Giấy phép số: 521/BTT/NBC/HCBC cấp ngày 20-4-1970
In tại nhà in THĂNG-LONG 20 chợ Trương Minh Giáng — Saigon.

 
 
 
 
/11
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »