Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 3 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 3 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 128.

Chương 9: Sự Thất Bại Trong Việc Giải Thích SCHOPENHAUER (Trang 81 - 88)

SỰ THẤT BẠI TRONG VIỆC
GIẢI THÍCH SCHOPENHAUER
Phê bình luận đề của CLÉMENT ROSSET
về triết lý SCHOPENHAUER
 

PHẠM CÔNG THIỆN
 
  1. CLÉMENT ROSSET MỞ LẠI MẶT SÁNG SCHOPENHAUER
Người ta thường quen biết mặt tối sầu não của Schopenhauer, chứ ít ai quay lại nhìn ra mặt sáng Schopenhauer. Schopenhauer có hẳn là một triết gia bi quan không? Không hẳn là thế, mà có thể trái ngược nữa. Clément Rosset, trong một thiên khảo cứu nhan đề “cảm thức về cái Phi lý trong Triết lý Schopenhauer” (Le Sentiment de l’ Absurde dans la philosophie de Schopenhauer), đăng trong Revue de Métaphysique et de Morale, số 1, tháng I-III, 1964, trang 41-78, dã xảc định lại vài suy nghĩ mới mẻ về Schopenhauer, những suy nghĩ này không hẳn là triệt để, nhưng ít ra cũng đưa người đọc bước ra ngoài con đường mòn quen thuộc. Điểm đặc biệt của Clément Rosset là đã nhấn mạnh vào tính cách “vô căn” (grundlos) trong triết lý Schopenhauer ; chính linh cách “vô

 
 
 
 
căn “ở đây đã quyết định thế đứng độc đáo của Schopenhauer trong con đường căn để của truyền thống triết lý Tây phương.
 
  1. SỰ NỐI KẾT GIỮA “VÔ” VÀ “HỮU”
Dù nghiêng hẳn về vô, nhưng Schopenhauer cũng vẫn cột vô với hữu. Đó là điểm son phi lý, nhưng chính cái phi lý này đã được Clément Rosset tôn trọng đề cao, đây là chỗ nhược của cái nhìn ở Clément Rosset và cũng chính nơi chỗ nhược này mà tôi cho rằng Clément Rosset thiếu hẳn tính cách triệt để. Nhưng trước khi để cho ý nghĩ triệt để được triệt để hẳn, chúng ta hãy xem Clément Rosset trình bày về Schopenhauer như thế nào. Chúng ta hãy bắt đầu bằng điểm cuối cùng mà Clément Rossel đã đặt lên, tô đậm nét, để gợi lại chung điểm của triết lý Schopenhauer. Điểm cuối này là ý niệm “tính cách tất yếu không lý do” (nécessité sans cause). Sự vật vừa có tính cách tất yếu mà lại vừa không có tính cách tất yếu, nghĩa là tính cách tất yếu điều động thế gian mà vẫn luôn luôn không có lý do để khai giải biện minh thế gian. Đó là điều phi lý. Nói khác đi, tất yếu tính (la nécessité) là nền tảng của tất cả mọi sự mà đồng thời không có nền tảng gì cả, tức là một nền tảng không nền tảng, khiến cho đời sống trở nên nặng nề, nghẹt thở, bị áp chế ngột ngạt. Ý tính (le vouloir) có tính cách cưỡng bức, chính là sự cưỡng bức (la contrainte même), hạ tầng cơ thể (substratum) tác động chi phối mọi sinh hoạt. Con người không tự do, không thể có ý chí độc lập bên ngoài ý tính đại đồng. Tất cả sinh hoạt của con người từ con người nghệ sĩ sáng tạo cho đến kẻ ngu muội dễ dãi đều bị trói trong tất yếu tính. Con người “tự do” thường

 
 
 
 
nghĩ rằng mình có ý chí độc lập nhưng theo Schopenhauer thì chính ýchí này mới là chỗ nô lệ của con người. Con ngườithườnghaynói “nếu tôi muốn” nhưng nói thế thực ra có nghĩa là gì? “Nếu tôi muốn” có nghĩa là “nếu tính tình tôi muốn thế”, mà tính tình của tôi chính là tổng cộng lại tất cả ý chí của tôi, thực ra chỉ là thể cách sở thuộc mà ý tính đã thể hiện trong tôi, tính tình tôi chính là nơi mà tất yếu tính đã cột buột tôi với ý tính. Tất cả mọi sự tôi làm đều lệ thuộc vào tính tình tôi. Muốn xác định rõ thêm sự lệ thuộc kín đáo này, Schopenhauer dưa chúng ta đến việc phân tích lòng ăn năn, hối hận. Mình tưởng rằng đáng lẽ ra mình có thể làm khác đi, đáng lẽ ra mình không nên làm thế, đáng lẽ, đáng lẽ, nhưng thực ra, dù là đối với quá khứ hay đối với tương lai, sở dĩ những cái đáng lẽ ra hiện lên là vì tôi chưa thực sự hiểu bản tính, thực chất, thực tính của mình, tôi chưa hiểu được chân tướng của con người tôi, vì thế cho nên mới có đáng lẽ. Tôi xin ngừng lại nơi đây một chút để đề cập tính cách độc đáo của ngôn ngữ  Việt Nam: trong cách nói “vì thế.., cho nên…    đáng lẽ”  đã chứa đựng sự nhất trí liên tục của lý luận: “vì thế” có nghĩa là “vì lẽ ấy”, “cho nên” có nghĩa là “cho nên lẽ ấy” và “vì lẽ ấy và nên lẽ ấy” thành ra mới “đáng lẽ”; “đáng lẽ” là “đáng” cái lẽ ban đầu, nhưng cái lẽ ban đầu là “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”, thành ra tình luôn luôn đến muộn, chúng ta vẫn luôn luôn là những kẻ đến sau, những kẻ trễ tàu. Muôn đời, mình vẫn là người thứ hai, thứ ba, thứ tư, người đến sau. Mối tình đầu vẫn muôn đời là mối tình đáng lẽ. Đối với sự tự do cũng thế, Clément Rosset rập bước theo nhịp chân của Schopenhauer và nói : “con người vẫn luôn luôn sẽ là quá muộn đối với sự tự     do” (il seratoujours trop tard pour la liberté).

 
 
 
 
Tất cả mọi sự đều nằm trong một lẽ duy nhất, lẽ tất yếu. Con người hay nói những cái đáng lẽ là vì con người bị trói buộc vào lẽ tất yếu ấy, nhưng điều khó hiểu là cái đáng lẽ lại không đáng lẽ chút nào, vì cái đáng lẽ mà lại đáng lẽ thì mọi sự quá dễ dãi đi, không còn gì đáng nói. Cái đáng lẽ thực ra không đáng lẽ gì cả, không có lẽ gì cả: chữ Đức gọi là “grundlos” nghĩa “không có lý do, không có căn bản, không có nền tảng, không có cơ sở”, nói gọn lại là “vô căn”, “vô để”. Tất cả mọi sự đều không có lẽ, không có nguồn gốc, không có nguyên lý, không có thực tại đầu tiên, “grundlos”. Tất cả mọi sự đều có lý do, có tính cách tất yếu, nhưng tất yếu tính này lại là “tất yếu tính không lý do” (nécessité sans cause). Có một điều đáng lưu ý nhất : tại sao chúng ta lại mải miết băn khoăn tìm kiếm lý do, duyên do, lý lẽ của mọi sự? Phải chăng vì muốn trấn áp tính cách vô căn của đời sống, che đậy phủ lấp “cái không nền tảng, cái không lý do” (grundlos)? Clément Rosset nhấn mạnh: “cơn bệnh tác hại gặm nhắm trái tim của Schopenhauer chính là cái grundlos”. Điều ác, đối với Schopenhauer, chính là sự vắng mất lý do. Một câu khác của Clément Rosset đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Cả sự nghiệp trọn đời của Schopenhauer và từ ngay tác phẩm đầu tiên, Schopenhauer vẫn là kẻ bị ám ảnh bởi ý tưỏng về lý do, nguyên do”. Mọi sự ở đời này có thể là vô ích, nhưng nếu sự vô ích này có lý do thì mọi sự vẫn chưa hẳn là ngột ngạt. Sự nhục nhã làm mình khó thở cũng vì xuất phát từ cảm thức về sự vắng thiếu duyên do. Bất mãn, chán chường, bất an, ưu tư, xao xuyến, tất cả cảm thức băng hoại đều xuất phát từ tính cách “grundlos” của mọi sự. Con người muôn đời vẫn đói khát, vẫn bất mãn, vẫn đau khổ, không phải

 
 
 
 
vì không đạt được đối tượng của khát vọng mình mà vì không thể đạt được bản thể tự thể của chính mình, không hiểu được tham vọng ham muốn của mình, giống như Ixion và Tanlale trong thần thoại Hy Lạp, những kẻ muôn đời bị quay cuồng trong vòng tròn xoay chuyển bất lận, troug sự đói khát trường cửu. Ăn rồi lại đói, uống rồi lại khát; không ăn không uống thì đói khát, mà ăn uống thì rồi cũng đói khát: đó là điều phi lý, khó hiểu, kỳ dị nhất mà con người phải chịu đựng suốt một đời đau khổ.
 
3. KHÔNG CỨU CÁNH

Diễn qua một bình diện khác, không nền tảng cũng có nghĩa là không mục đích, không cứu cánh. Tất cả mọi sự đều không đi đến đâu cả mà tất cả mọi sự vẫn phải đi. vẫn phải đi, đó là điều khó hiểu. Tại sao mọi sự, mọi sự thể trên đời đều làm như, giả vờ như đeo đuổi một mục đích nào đó?
Tận nơi căn để thì chẳng có cứu cánh gì hết mà mọi sự, mọi việc đều được dọn bày để hướng tới một cứu cánh nào đó. Mâu thuẫn nghịch lý hoàn toàn thì chẳng có gì là mâu thuẫn nghịch lý cả. Chỉ có mâu thuẫn là mâu thuẫn thuận lý, cũng như chỉ có nghịch lý là nghịch lý thuận lý. Nếu mọi sự hoàn toàn không cứu cánh thì không còn vấn đề, chỉ có vấn đề duy nhất là sự không cứu cánh này lại nằm dính liền với một thế giới mà tất cả mọi sự đều di động không ngừng hướng tới cứu cánh. Điều phi lý chính là, như Clément Rosset giải thích, sự phối hiệp lạ lùng giữa cứu cánh tính và sự ngẫu nhiên mù quáng. Bánh xe quay mòng của Ixion là hình ảnh của thời gian. Sự buồn chán
 
 
 
khôn nguôi chính là mọi sự di dộng không ngừng mà sự di dộng này vẫn là dẫm lại nơi bước khởi hành. Không có tiến bộ, chỉ có ảo tưởng là tiến bộ, còn thực tại chỉ là sự vận hành trong vòng lẩn quẩn. Con bệnh thời gian là cơn đau đứng lại một chỗ. Cái gì đang xảy ra hay sẽ xảy ra thì đều đã xảy ra rồi. Tất cả đều chỉ là lặp lại cái đã lặp lại từ lâu rồi; sáng tạo thực ra chỉ là tạo lại cái đã tạo ra trước rồi. Di động liên tục, nhưng thực ra chỉ là bất động. Chết đi thực ra không là chết hẳn mà chỉ là sống lại bằng cách khác. Con người không phải là chủ nhân ông của ý chí như hắn lầm tưởng, trái lại là kẻ nô lệ của ý chí, đeo đuổi chạy miết săn đón “một mục đích không mục đích”.

5.  Ý TÍNH BAO PHỦ

Tận nơi căn để tấtcả mọisự ở đời đều là ý     tính. Ý tính, trong ý nghĩa đặc biệt của Schopenhauer, baophủ hếtmọi lĩnh vực, cả lĩnh vực ý thức, tiềm thức, hạ thức, vô thức. Chữ Wille của Schopenhauer không có ý nghĩa như chữ Volonté của Pháp ngữ. Dịch Wille của Schopenhauer là ý chí dễ đưa đến ngộ nhận, vìchí đặt căn bản nơi ý, chứ ý không nằm nơi chí; chỉ cần đảo lộn trật tự giữa ý và chí thì chúng ta đã hiểu sai hoàn toàn triết lý Schopenhauer. Chữ Hán A (chí) còn có nghĩa là đích, chuẩn đích, mũi tên mà chữ Wille của Schopenhauer hoàn toàn có nghĩa là vô chuẩn đích, không hướng, không nhắm vào một cái đích đặc thù nào cả. Chữ Hán A (ý) mang một ý nghĩa rộng rãi bao quát. Tất cả những gì có tính cách đặc thù, cá biệt, chỉ là ảo tưởng, mọi sự chỉ là sự phát hiện của một ý

 
 
 
 
tính duy nhất. Tất cả ý chí, đều nằm trong lòng ý tính. Ý tính không phải là lý do để cắt nghĩa hết mọi sự, mà là cái không lý do. Chính ý tính được coi như cái không lý do đã lật đổ toàn thểtruyền thống triết lý Tây phương từ Platon, Descartes, cho đến Hegel. Schopenhauer vạch ra cho chúng ta thấy rằng con người nô lệ ý tính và ý tính thì vốn không có lý do, lý lẽ, mục đích, cứu cánh. Số phận làm người có tính cách phi lý, vì con người phải nối kết sự tất yếu với điều vô căn, vô lý, vô duyên.
 
5. MẤT ĐẤT ĐỨNG

Sự ngạc nhiên cùa Schopenhauer là sự sửng sốt của một con người thất thế. Mình sống thoải mải, khoan khoái, vì mọi sự đều có lý do, có lý lẽ, hợp lý, cần thiết. Nhưng khi bỏ mọi tất yếu tính, mọi nhân quả, mọi duyên do lý lẽ, con người không còn nhận ra mặt mày hắn nữa, mọi sự bỗng trở thành xa lạ. Thế giới quen thuộc là thế giới của lý do và duyên cớ, nhưng thế giới căn để vẫn là vô căn, xa lạ. Trong Pareiga et Paralipomena, Schopenhauer viết: “Tất cả mọi nền khoa học đều thiếu sót, không thỏa lý, không phải vì hoàn cảnh bất ngờ mà vì tận nơi bản chất”. Mọi giải thích đều là ảo tưởng.
 
6. SỰ THẤT BẠI CỦA CLÉMENT ROSSET

Clément Rossetđã cố gắng lật ngược lại mọi giải thích từ trước cho đến nay, lật ngược lại mọi giải thích truyền thống về triết lý Schopenhauer. Giải thích truyền thống về

 
 
 
 
Schopenhauer là dựng lên một nét mặt đen tối bi quan của Schopenhauer, nhưng Clément Rosset giải thích lại bằng một giải thích mới: sở dĩ có triết lý bi quan của Schopenhauer là vì có một trực giác đầu tiên của Schopenhauer và triết lý bi quan của Schopenhauer chỉ là hậu quả cuối cùng của hệ thống Schopenhauer. Clément Rosset bận tâm đến nguồn gốc hơn là hậu quả. Ông cho rằng muốn đánh giá đứng đắn Schopenhauer thì điều trọng yếu là phải quay trở về trực giác đầu tiên của Schopenhauer.
(Mais il est peut - être plus intéressant d’apprécier un philosophe à son point de départ qu’à son point d’arrivée.) p. 44. Nhưng tôi muốn đặt lên một câu hỏi: cái việc đi tìm trực giác đầu tiên ấy phải chăng chỉ là hậu quả của sự nô lệ vào tất yếu tính, vào lý lẽ, duyên do, nền tảng? Vì trực giác đầu tiên chính là lý do đầu tiên. Như vậy sự thất bại của Clément Rosset chính là ở điểm mâu thuẫn này: thể cách đi đến (méthode d’approche) Schopenhauer của Clément Rosset đã đi ngược lại chính cái điều Clément Rosset muốn hướng đến. Thế là Schopenhauer vẫn mất đất đứng trong mọi sự giải thích. Hay nói khác đi, mọi giải thích về Schopenhauer đều muôn đời vẫn có tính cách “vô căn”, “vô để”, nói gọn lại là phải chịu thiếu tính cách “triệt để” (grundlos).

 
PHẠM CÔNG THIỆN
 
 
 
 
/11
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »