|
VŨ TRỤ NHÂN SINH QUAN
TRONG VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
|
THẠCH TRUNG GIẢ
Cái vũ trụ khách quan ở ngoài ta chỉ có một nhưng cái vũ trụ ta quan niệm bao giờ cũng tùy thời tùy chốn mà thay đổi.
Bởi thế cho nên ta phải nói: có hằng hà vũ trụ bởi có hằng hà quan niệm về vũ trụ.
Mặc dầu muốn hay không muốn, có ý thức hay không có ý thức, chúng ta tất cả đều là triết nhân mà tất cả mọi loài có cảm giác đều là triết nhân cả. Một người đàn bà quê mùa quỳ trước một cây đa đã có một vũ trụ quan mà không biết, người tiền sử sùng bái lửa có một vũ trụ quan mà không biết, con dế con giun nhìn vũ trụ dưới một hình thức nào có một vũ trụ quan mà không biết. Triết nhân chỉ khác chúng sinh là ở chỗ không những cảm giác thực tại mà còn tư tưởng thực tại và biết mình tư tưởng.
Nhưng tất cả đều trông thực tại dưới những hình thức nhất định, đều có nhĩrng quan niệm về thực tại.
Sống trong một vũ trụ mà chúngta tạo ra, chúngta phải tìm một lối sống thích hợp bởi thế cho nên muốn biết nhân sinh quan hãy tìm biết vũ trụ quan, bởi thế cho nên tất cả mọi luân lý đều là những bộ phận trong toàn bộ siêu hình. Ngay đến bây giờ, một nền chính trị, kinh tế như chủ nghĩa Mác cũng suy ra từ một vũ trụ quan duy vật.
Mỗi thời đại, mỗi quần chúng, có một vũ trụ quan của nó. Người Ấn Độ sống trong bầu không khí nhất nguyên thầnbí, người Do Thái sống trong bầu không khí nhất thần, người Hi Lạp sống trong bầu không khí đa thần,ngườiCộng sản sốngtrong bầu không khí duy vật.
Vũ trụ quan thoạt tưởng không có tác dụng lớn lao trong đời sống nhưng thực ra sâu mạnh vô cùng.
Nếu vũ trụ quan là tác động của tinh thần con người thì dĩ nhiên phải căn cứ vào văn hóa để tìm hiểu mộtvũ trụ quan, tìm hiểumột thời đại, một lớp người.
Có người nghĩ: Sao không riêng tìm hiểu ở triết học mà ở khắp văn hóa? Nhưng triết học chỉ là kết tinh của một vũ trụ quan chứ không phải bước đầu khi vũ trụ quan đó chưa thành hình rõ rệt. Mà đến khi nó đã thành hình, triết học cũng không gồm tóm được hết sự phong phú linh động. Triết học Ấn Độ bắt nguồn từ thi ca Vệ đà, những bài tụng ca mà tình cảm là yếu tố lớn nhất, mà tất cả mọi triết học đều bắt nguồn tự thi ca.
Bởi thi sĩ sống bằng tình cảm mà lẫn vào tình cảm là trực giác, mà trực giác là những lằn chớp đầu tiên của mọi triết học. Trong khi diễn tả những xúc động, thi sĩ đã diễn tả cả những nhận thức thần diệu, những nhận thức mà chính thi sĩ cũng không có Ý thức. Bởi thế thi ca bao giờ cũng là một mớ phức tạp gồm những tình cảm phi lý và những trực giác hợp lý. Hội họa và âm nhạc cũng vậy. Nhưng hội họa và âm nhạc khác thi ca là chỉ diễn tả được trong một phạm vi nhỏ hẹp.
Thế giới của chúng ta hiện đương trải qua một thời kỳ thay đổi. Biết bao nhiêu đạo lý bị lật nhào, biết bao nhiêu vũ trụ quan sụp đổ hay ít nhất cũng bị đem ra thử thách. Cuộc chiến tranh vĩ đại ở khắp nơi chỉ là phản ảnh nhạt mờ của cuộc chiến tranh trong lòng người, tiếng nổ kinh hoàng của nguyên tử chỉ là liệng vang yếu ớt của tiếng nổ trong lòng người. Không có một chỗ nào yên ổn.
Người bi quan bảo đó là chiến Iranh tận thế, người lạc quan bảo đó là chiến tranh vì tiến bộ nhưng không ai có thể chối cãi được tính cách khủng hoảng chưa từng có trong lịch sử.
Không phải chỉ có cuộc chiến tranh giữa nước này với nước khác mà còn cuộc chiến tranh vì chủ nghĩa. Cuộc chiến tranh này đã gồm tóm nhiều quốc gia ở hai bên phòng tuyến và đã chia xẻ một quốc gia ra làm nhiều mảnh.
Nhưng thế cũng chưa đủ. Cuộc chiến tranh cùa nhân loại đi tìm một lối sống phức tạp lắm mà những cuộc chiến tranh vị chủng tộc và giai cấp chỉ mới là những khía cạnh, những biểu tượng.
Muốn được biết rõ hơn, hay nhìn vào văn hóa từ thế kỷ XIX đến bây giờ, cảm tưởng đầu tiên của chúng ta? Phải chăng đó làmột cơn mê sảng? Một thế giới sấm sét, một thế giới tranh tối tranh sáng mà những hình thù biến hiện, hóa sinh ra thiên hình vạn trạng.
Một thế giới đương oẳn oại, đương rên xiết, đương khát khao, đương hằn học. Nhân loại cần phải được giải thoát, nhân loại phải tìm thấy một lối sống, nhân loại đương muốn một vũ trụ, nhân loại đương đau khổ, nhân loại đương điên cuồng. Mỗi thời đại mỗi quẫn chúng có một vũ trụ nhân sinh quan. Nhưng thời đại ta đương sống có rất nhiều vũ trụ nhân sinh quan, những vũ trụ nhân sinh quan chưa sinh mà đã diệt nhưng vẫn còn đương thai nghén không ngừng.
Người trung cổ bên Tây phương có vũ trụ quan của người trung cổ bên Tây phương, người trung cổ bên Ấn Độ có vũ trụ quan của người trung cổ bên Ấn Độ, người trung cổ Việt Nam có vũ trụ quan của người trung cổ Việt Nam. Sự nhất trí đã có bên Tây phương, bên Ấn Độ, ở Việt Nam, ở khắp thế giới mặc dầu nó không phải là một sự nhất trí mà là những sự nhất trí.
Những nghệ sĩ của mỗi thời đại ở trong một cương vực đều có một vũ trụ chung mà chỉ khác ở cách cảm xúc vũ trụ đó.
Nghệ sĩ đời Đường, đời Tống lấy cái hồn của Thiên nhiên làm đối tượng, nghệ sĩ trung cổ bên Tây phương lấy Đấng Cứu Thế làm đối tượng.
Nhưng bây giờ? Có bao nhiêu đối tượng? Mà có bao
nhiêu nghệ sĩ trọn đời thờ một đối tượng? Khẩu hiệu của nghệ sĩ là tìm tòi, tìm tòi một lối sống, tìm tòi một kỹ thuật.
Xưa kia, nghệ sĩ sinh ra đã có sẵn một lý tưởng, một vũ trụ mà hắn chỉ có việc là nhận lấy để phụng sự và sinh tồn. Đến bây giờ hắn sinh ra với hai bàn tay trắng.
Chưa có một thời nào mà người ta lại chứng kiến một cuộc xung khắc quyết liệt của những lý tưởng, những vũ trụ quan như bây giờ.
Bên những tác phẩm tả thực đến cực đoan của những nhà văn Emile Zola, Maxime Gorki, Vũ trọng Phụng, ta thấy những tác phẩm có khuynh hướng thần bí như của Edgar Poe, Baudelaire. Cái vũ trụ của Emile Zola, Maxime Gorki, Vũ Trọng Phụng là cái vũ trụ của quần chúng. Ai cũng trông thấy, cũng nghe thấy, cũng cảm thấy như vậy. Cái vũ trụ của Edgar Poe, Baudelaire, Mallarmé là cái vũ trụ huyền diệu mà tất cả muôn loài từ người cho đến cỏ cây đều có linh hồn, đều cảm thông như chỉ có một linh hồn. Cái thế giới chúng ta đương gọi là thực đây chưa chắc đã là thực mà chỉ là biểu tượng của thế giới huyền diệu. Ở giữa thời đại cơ khí này, Edgar Poe, Baudelaire, Mallarmé đã đẩy chúng ta lùi lại hàng ba mươi thế kỷ đắm chìm trong thế giới của một tinh lực thấm nhuần cả vũ trụ. Cái vũ trụ của Maeterlinck cũng là một vũ trụ thần bí, những nhân vật trong kịch của người chỉ là những bóng khói sương để mặc cho những trận gió phũ phàng của một mãnh lực mà ta không biết rõ là thế nào và tự đâu đến.
Nhưng cái thế giới của Edgar Poe, Baudelaire, Maeterlinck còn có thể hiểu được chứ cái thế giới của Rimbaud thực
khó hiểu. Muốn diễn cái khó hiểu đó Rimbaud đã đi đến chỗ dùng âm thanh của ngôn ngữ chứ không dùng nghĩacủa ngôn ngữ, và những hình ảnh phối hợp thông thường. Nghệ sĩ ghê sợ trốn tránh cái thế giới thường vẫn diễn bởi cú pháp thường với những nghĩa thường.
Chớ nên nghĩ họ lập dị. Họ là những người thành thực nhất đời, thành thực quá nên vượt qua biên cương của ý thức. Linh cảm thấy một chân lý sâu xa, họ cố đuổi theo bắt lấy cho kỳ được, đoạn tuyệt với ngôn ngữ thông thường đã che phủ cái tâm trạng thực của mình. Họ thành công hay không đó lại là một chuyện nhưng chúng ta hãynghiêng mình trước những nhà thám hiểm anh dũng đó. Mà chúng ta cũngnên biết thi cahọ là tiếng sấm báo sinh học thuyết Bergson.
Ảnh hưởng của Edgar Poe, Baudelaire, Rimbaud, Mallarmé thực vĩ đại. Cùng với ảnh hưởng của tiểu thuyết tâm lý của Dostoïevski, Tolstoï, nó đã bao trùm cả văn học Pháp, văn học Âu châu và văn học Ihế giới.
Những thi sĩ, tiểu thuyết gia tiêu biểu của thếhệ trước bên Việt Nam như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nhất Linh, Thạch Lam đều chịu ơn của những bậc thầy đó. Những bậc thầy đó đã gây được ảnh hưởng như vậy là bởi vì họ sớm có ý thức về những nguyện vọng chung của loài người chứ không phải của riêng họ. Những người công kích họ là những người không chịu cúi xuống lòng mình.
Hội họa không phơi bày được như văn chương bề rộng và bề sâu của cuộc thay đối lớn lao nhưng lại kích thích ta ngay, khiến ta nhận thấy ngay rằng có sự thay đổi. Như
thế là bởi vì nó đã dùng đến những hình ảnh cụ thể.
Quan niệm về hội họa, đề tài cùng kỹ thuật đều thay đổi. Và mỗi thiên tài xuất hiện là một cuộc khủng bố. Nghệ sĩ đã đi trước quần chúng nên bị cô lập với quần chúng. Trong vòng một thế kỷ không biết bao nhiêu họa phái đã sinh và đã diệt. Cái vũ trụ duy nhất được diễn ra, được giải thích bằng muôn ngàn cách khác. Tất cả, đều là những cuộc phá phách và những cuộc xây dựng kinh hoàng với cái cảm tưởng đau đớn của người xây dựng là chưa đạt được. Còn đâu là cái vững vàng của Giotto, Michel-Ange, Greco và những họa sĩ đời Đường đời Tống. Họ đã tìm thấy lý tưởng và vũ trụ quan của họ.
Có những nghệ sĩ sống bê tha trụy lạc hoặc tự sát vì không tìm thấy một lối thoát. Người ta bảo đó là vì nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật chứa đựng cái gì nếu không phải sự sống? Vậy họ đau khổ vì nghệ thuật tức là cái sự sống vậy.
Phân tích cái hỗn mang của văn hóa hiện đại, ta tìm thấy nét chính:
SỰ BÁ CHỦ CỦA TÌNH CẢM.
Chưa có một thời nào mà tình cảm lại được đề cao như bây giờ. Tình cảm là thước đo giá trị của một tác phẩm. Tình cảm đã thành một hệ thống tư tưởng của nghệ sĩ. Nghệ sĩ không thiện, không ác mà phi thiên ác. Nghệ sĩ lắng nghe tiếng nói của lòng mình, cái gì thâm thiết nhất tức là chân lý. Chân lý đó có thể thiện có thể ác. Điều đó
không quan hệ nhưng nó phải là cái gì thâm thiết nhất để phát huy bản ngã của con người.
Mục đích của tiểu thuyết tâm lý là tìm hiểu con người. Cái tính chất luân lý của những tác phẩm của một Tolstoï cũng vẫn phải rút ra ở tình cảm. Nhân vật của Tolstoï trước khi đạt cái thiện đã trải qua cái ác và cái thiện tìm thấy cũng chỉ là chung cục tất hữu của cuộc tiến triển của tình cảm. Không phải luân lỷ từ trên trời rơi xuống mà từ trong lòng mọc lên. Lý tính chỉ là sản phẩm của tình cảm.
Thi ca tượng trưng là sự thực hiện quan niệm đó dưới hình thức khác là đã tạo ra — hay đã tìm thấy — một thế giới ngoài phạm vi của lý tính. Mà cái thế giới đó thiện hay ác, không ai có thể nói được bởi nó chỉ là huyền diệu. Cõi huyền diệu đó, quỷ hay thần ngự trị, thi sĩ không cần biết. Chàng chỉ đòi hỏi sự huyền diệu để mê ly ngụp lặn giữa vô cùng.
Mà đến thi ca tượng trưng thì tình cảm không còn là tình cảm. Nó là một cái gì phi-lý-tính tình cảm. Nó là tinh thần trước lý tính và tình cảm hay một thứ tình cảm khác tất cả mọi thứ tình cảm mà ta thường quan niệm.
Đọc tôn giáo sử ta thường thấy những chuyện đợi chờ. Trước khi Thích Ca ra đời, dân Ấn Độ đã đợi chờ, trước khi Giê-Su ra đời, những nhà tiên tri Do thái đã đêm đêm chờ xuất hiện một vì sao. Chúng ta bây giờ cũng sống trong một tình trạng đợi chờ.
Tại sao mà nghệ sĩ đoạn tuyệt với lý tính để trông vào tình cảm?
Ấy là bởi vì lý tính chỉ là sản phẩm của một tín ngưỡng đã thành và hóa thành một công cụ đúc người ở trong tay xã hội. Cái gì hợp với thành kiến là hợp lý, cái gì trái là phi lý. Trước khi Cơ đốc giáo, Hồi giáo thành hợp lý thì đã có thời phi lý bởi thế đã có bao nhiêu người tử vì đạo.
Nghe theo tình cảm có nghĩa là chống lại những tín ngưỡng hiện hành. Nhưng nghe theo tình cảm tức là lao mình vào một cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Tình cảm có thể đưa ta đến một đạo lý cao siêu vi thâm thiết nhất nhưng cũng có thể đưa ta xuống vực sâu của thú dục đê hèn. Biết bao nhiêu Thượng đế đã từ Đại dương của tình cảm mọc lên nhưng cũng biết bao nhiêu ác quỷ mọc lên từ đó. Bởi thế cho nên trong văn hóa hiện đại hay có khi trong một con người có đủ hai mãnh lực. Với André Gide thì phi lý tính là tất cả và đọc tác phẩm của ông người ta đã có nhiều quan niệm khác nhau: Người thì thấy một luân lý, kẻ thấy phi luân lý, sự thực ông chỉ là một kẻ tìm tòi qua tất cả mọi biên thùy.
Sang thời hậu chiến thì tính cách phi lý tính đã trở thành một hệ thống tư tưởng lan tràn khắp thế giới với chủ nghĩa Hiện sinh. Trước Đại chiến, tư tưởng Hiện sinh đã được đưa ra nhưng từ 1945 mới thực phổ biến mãnh liệt. Người ta thường cho Hiện sinh khởi từ Nietzsche, chúng tôi thấy từ Goethe. Và Goethe nói tiếng đầu tiên nhưng đến bây giờ, ngưòi hiện sinh vẫn chưa tìm được một nửa cái Goethe đã thấy.
Nói hệ thống và chủ nghĩa với Hiện sinh chỉ là mượn danh từ để gởi cái quyết liệt và rộng lớn của một trào lưu. Vì thực chất của Hiện sinh là vượt ra ngoài mọi hệ thống,
mọi chủ nghĩa, nó là một thái độ, một ngã ba đường, đến đó người ta có thể đi về tất cả. Có một thứ hiện sinh hữu đạo, có một thứ hiện sinh vô đạo, và mỗi loại lại chia ra làm nhiều tiểu loại như: Khuynh Cơ đốc, khuynh Ấn giáo, khuynh Phật giáo, khuynh Cộng sản, hay khuynh Dân chủ. Ở lĩnh vực siêu hình, nó chủ trương cái hiện sinh trước cái bản thể, một vũ trụ quan động mà đối lượng không phải là hòn đá bất di dịch đễ nhận thức chụp lại, mà nó sáng hóa, biến diện với chủ thể. Ở lãnh vực nhâ sinh, nỏ chủ trương tự tạo luân lý, cá nhân tự do, tự do theo mình, tự do bắt mình theo một cái gì. Tôn giáo được nhìn dưới ánh sáng mới: Thượng Đế thành một phương tiện để kích phát sự sống của cá nhân lên đến tột độ.
Tìm tòi, thắc mắc, lo lắng, hi vọng, chán chường là tất cả Hiện-sinh-Thái-độ.
Có những người đi bằng đường lối khác và đến một cứu cánh khác nhưng cùng một chủ trương là thế giới này không thể sống được, như nhà văn Lỗ Mã Ni tác giả những cuốn “Giờ thứ 25”, “ Dịp may thứ hai” (La seconde chanse). Đối với ông Quốc xã, Cộng sản, Tư bản là kết quả tất hữu của một nền văn minh nặng lý trí, nhẹ tình cảm, quên phắt con người, coi người như máy với giá trị năng suất. Nhân loại hiện ở trong “Giờ thứ 25”, không còn là cuối cùng, mà sau cái cuối cùng. Sự thắc mắc tìm tòi, hi vọng không còn, chỉ còn một tiếng kêu thảm thiết và bây giờ, thành thực can đảm nhất là những kẻ nhận rằng nhân loại chết rồi.
Không quá bi quan như nhà văn Lỗ Mã Ni, có người nhận thấy rẳng cái tim tòi hi vọng của Gide trước chiến tranh, của Hiện sinh sau chiến tranh có bề ngoài là sáng
tạo một cái gì nhưng văn minh đương hết. Nó không sáng tạo một cái gì vì muốn sáng tạo phải vượt lên cái đương hết nhưng mà cái văn minh này sở dĩ phá sản là bởi nó đặt nền tảng trên sự vị kỷ, và phái hiện sinh nhìn tất cả qua lăng kính cá nhân; tôn giáo cũng chỉ cónghĩa khi đưa đến cho cá nhân nhiều sự sống hơn. Và nếu nhân loại muốn còn thì nó phải còn với Tình cảm, với cái Yêu, cái Thương vượt ra khỏi cái tôi hữu hạn, vì những xã hội hiện chỉ là những tổng số của những đơn vị vị kỷ, cả nhân loại chỉ là một khối vị kỷ khổng lồ làm khổ mình, lẩn thẩn tìm nguyên nhân cái khổ, và luẩn quẩn gỡ cái khổ bằng cách thắt chặt nó vào.
Chúng ta là những kẻ đợi chờ.
Người xưa chờ giáo chủ, chúng ta đương lắng nghe tiếng nói của tâm linh nhưng cũng do một động lực.
Tất cả mọi tôn giáo, mọi luân lý, mọi chế độ đều rung chuyển, tất cả mọi người đều thắc mắc lo âu. Ngày mai đây là Bình minh hay cũng là Tăm tối đời đời?
Điều đó ta có thể mà cũng không có thể. Với lòng tin thì cái gi cũng phải có, với lòng tin thì chân lý nếu chưa có cũng phải ra đời.
Nhưng nếu thiếu lòng tin thì cái đã có cũng hóa ra hư ảo.
THẠCH TRUNG GIẢ
|
SÁCH DO NHÀ AN TIÊM XUẤT BẢN
*Tôn Giáo là gì
của John Yale
(viết theo lời của Vivekananda)
* SaMạc TrườngCa
Thơ của Bùi Giáng
* Ta Đợi Em Từ BaMươiNăm
Thơcủa Vũ Hoàng Chương
* Nói chuyện với Krishnamurti
do Carlo Suarès thực hiện. Nguyễn Minh Tâm dịch
|
|
VIỆT LÝ TỐ NGUYÊN
của KIM ĐỊNH
Đây là công trình của một cuộc khảo cổ khác thường, không dừng lại ở khảo cổ, ở bác học nhưng phóng tầm mắt ra bên ngoài, bên trên, bên dưới khảo cổ, lịch sử, bác học để cố tìm ra những nét căn bản chạy ngầm xuyên qua lịch sử nước nhà, những tính chất có ngay từ đầu và sẽ còn lại mãi với dân tộc, nên gọi là Tố theo nghĩa “bản lai cố hữu”.
Độc giả sẽ nhận ra lối khảo cổ như trên chiếu rất nhiều tia sáng kỳ lạ vào con đường chúng ta phải đi để đến đợt văn minh chân thực. Như thế sự quay về học lại nguồn gốc nước nhà với mọi khía cạnh văn minh, văn hóa, định chế, sử địa, văn chương... không còn lả một việc khảo cổ suông trong thư viện nữa nhưng chính là giúp vào việc kiến quốc, tìm ra và củng cố tinh thần dân lộc, đặt nền tảng vững chắc nhất cho nền quốc học ngày mai vậy.
|