Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 27 - Bộ Bát-Nhã X - Số 220 (Quyển 451 - 500)

Đại Tập 27 - Bộ Bát-Nhã X - Số 220 (Quyển 451 - 500)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 969.

Chương 3: Kinh Đại Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa - Quyển 452 - Phẩm 59: Tập Cận (Trang 21 - 38)

KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 452

Phẩm 59: TẬP CẬN

 
Khi ấy, Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn, khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế các bậc Đại Bồ-tát phải làm sao để thân cận pháp Không? Làm sao để vào Tam-ma-địa Không? Làm sao để thân cận Vô tướng? Làm sao để vào Tam-ma-địa Vô tướng? Làm sao thân cận Vô nguyện? Làm sao vào Tam-ma-địa Vô nguyện? Làm sao thân cận bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo? Làm sao tu bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo? Làm sao thân cận mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng? Làm sao tu mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng?
Phật bảo:
–Này Thiện Hiện, khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế, các Đại Bồ-tát nên quán sắc là không, nên quán thọ, tưởng, hành, thức là không; nên quán nhãn xứ cho đến ý xứ là không, nên quán sắc xứ cho đến pháp xứ là không; nên quán nhãn giới cho đến ý giới là không; nên quán sắc giới cho đến pháp giới là không; nên quán nhãn thức giới cho đến ý thức giới là không; nên quán nhãn xúc cho đến ý xúc là không; nên quán các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra đều là không; nên quán địa giới cho đến thức giới là không; nên quán vô minh cho đến lão tử là không; nên quán Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa là không; nên quán pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh là không; nên quán chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn là không; nên quán Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo là không; nên quán bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc là không; nên quán tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ là không;
nên quán bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo là không; nên quán pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện là không; nên quán ba thừa và mười địa Bồ-tát là không; nên quán tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa là không; nên quán năm loại mắt, sáu phép thần thông là không; nên quán mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng là không; nên quán ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Phật là không; nên quán pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả là không; nên quán trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng là không; nên quán quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề là không; nên quán tất cả hạnh của Đại Bồ-tát là không; nên quán quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật là không; nên quán các pháp hữu lậu, vô lậu là không; nên quán pháp thế gian, xuất thế gian là không; nên quán pháp hữu vi, vô vi là không; nên quán pháp quá khứ, vị lai, hiện tại là không; nên quán pháp thiện, ác, vô ký là không; nên quán pháp cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc là không.
Này Thiện Hiện, lúc quán như vậy Đại Bồ-tát đó không được để cho tâm rối loạn, nếu tâm không rối loạn thì không thấy có pháp nào, nếu không thấy pháp thì không có chứng đắc. Vì sao vậy?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát này khéo học tự tướng các pháp đều là không, không pháp nào có thể tăng, không pháp nào có thể giảm, vì vậy đối với các pháp không thể thấy và không thể chứng. Vì sao vậy?
Này Thiện Hiện, ở trong Thắng nghĩa đế, tất cả các pháp chủ thể chứng, đối tượng chứng, nơi chứng, lúc chứng, nguyên nhân chứng ngộ, hoặc hợp hoặc tan đều không thể thấy, chẳng thể nắm bắt được.
Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn, như Ngài đã nói, các Đại Bồ-tát nên quán các pháp là không và không cầu chứng đắc. Vì sao các Đại Bồ-tát nên quán các pháp là không và không cầu chứng đắc?
Phật bảo:
–Này Thiện Hiện, khi các Đại Bồ-tát quán các pháp là không, trước tiên phải nghĩ rằng: “Ta nên quán tướng của các pháp đều là không, không nên cầu chứng đắc. Vì sự học hỏi, ta quán các pháp là không, không phải vì sự chứng ngộ mà ta quán các pháp là không.
Nay là lúc học, chẳng phải lúc chứng.”
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát này chưa vào định vị nên phải buộc tâm vào đối tượng, lúc đã vào định thì họ không cần buộc tâm vào cảnh nữa.
Này Thiện Hiện, vào lúc như vậy, Đại Bồ-tát không thoái lui việc Bố thí ba-la-mật-đa không chứng lậu tận, cho đến không thoái lui Bát-nhã ba-la-mật-đa không chứng lậu tận; không thoái lui pháp không bên trong không chứng lậu tận, cho đến không thoái lui pháp không không tánh tự tánh không chứng lậu tận; không thoái lui chân như không chứng lậu tận, cho đến không thoái lui cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, không chứng lậu tận; không thoái lui Thánh đế khổ không chứng lậu tận; không thoái lui Thánh đế tập, diệt, đạo không chứng lậu tận; không thoái lui bốn Tĩnh lự không chứng lậu tận, không thoái lui bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc không chứng lậu tận; không thoái lui tám Giải thoát, không chứng lậu tận, không thoái lui tám Thắng xứ chín Định thứ đệ, mười Biến xứ không chứng lậu tận; không thoái lui bốn Niệm trụ không chứng lậu tận, cho đến không thoái lui tám chi Thánh đạo không chứng lậu tận; không thoái lui pháp môn giải thoát Không, không chứng lậu tận, không thoái lui pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện, không chứng lậu tận; không thoái lui ba thừa và mười địa Bồ-tát không chứng lậu tận; không thoái lui tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa không chứng lậu tận; không thoái lui năm loại mắt, sáu phép thần thông không chứng lậu tận, không thoái lui mười lực của Phật không chứng lậu tận, cho đến không thoái lui mười tám pháp Phật bất cộng không chứng lậu tận; không thoái lui tướng hảo, không chứng lậu tận, không thoái lui pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả không chứng lậu tận; không thoái lui trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng không chứng lậu tận; không thoái lui việc làm của Đại Bồ-tát không chứng lậu tận, không thoái lui quả vị Giác ngộ cao tột không chứng lậu tận. Vì sao vậy?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát đó thuần thục trí tuệ vi diệu to lớn như thế, khéo trụ vào pháp không và tất cả các pháp phần Bồ-đề. Vị ấy thường nghĩ: “Lúc này nên học chớ không phải lúc chứng đắc.” Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thường
nghĩ như vầy: “Đối với Bố thí cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, lúc này ta nên học chớ không nên chứng đắc. Đối với pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, lúc này ta nên học chớ không nên chứng đắc. Đối với chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, lúc này ta nên học chớ không nên chứng đắc. Đối với Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo lúc này ta nên học không nên chứng đắc. Đối với bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với ba thừa và mười địa Bồ-tát, lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với năm loại mắt, sáu phép thần thông lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với tướng hảo lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với tất cả hạnh của Đại Bồ-tát lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Đối với quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật lúc này ta nên học chẳng nên chứng đắc. Hôm nay, vì học trí Nhất thiết nên ta học quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề một cách khéo léo mà không cần chứng đắc.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát này thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên thân cận pháp không, nên an trụ ở pháp không, nên tu hành pháp Không Tam-ma-địa và không nên chứng đắc đối với thật tế; nên thân cận vô tướng, nên an trụ nơi vô tướng, nên tu hành Vô tướng Tam-ma-địa và chẳng nên chứng đắc đối với thật tế; nên thân cận vô nguyện, nên an trụ vô nguyện, nên tu hành Vô nguyện Tam-ma-địa và chẳng nên chứng đắc đối với thật tế; nên đến gần bốn Niệm trụ, nên an trụ ở bốn Niệm trụ, nên tu hành bốn Niệm trụ và chẳng nên chứng đắc đối với thật tế; nên thân cận bốn Chánh đoạn cho đến tám chi Thánh đạo, nên an trụ nơi bốn Chánh đoạn cho đến tám chi Thánh đạo,
nên tu hành bốn Chánh đoạn cho đến tám chi Thánh đạo và chẳng nên chứng đắc đối với thật tế; như vậy cho tới nên thân cận mười lực của Phật, nên nương tựa mười lực của Phật, nên tu hành mười lực của Phật và không chứng đắc đối với thật tế; nên thân cận bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, nên nương tựa bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, nên tu hành bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng mà không nên chứng đắc đối với thật tế.
Này Thiện Hiện, tuy thân cận Không, Vô tướng, Vô nguyện, an trụ nơi pháp Không, Vô tướng, Vô nguyện, tu hành Tam-ma-địa Không, Vô tướng, Vô nguyện nhưng Đại Bồ-tát này chẳng chứng đắc quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề. Dù thân cận bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, an trụ vào bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, tu hành bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo nhưng vị ấy chẳng chứng quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề. Do đó, vị ấy không vướng vào quả Thanh văn và Độc giác mà mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Này Thiện Hiện, như có tráng sĩ hình dáng đoan nghiêm, oai phong lẫm liệt mạnh mẽ vô cùng, làm cho ai thấy cũng vui mừng; vị ấy có đầy đủ các việc thù thắng, quyến thuộc thanh tịnh, học thông thạo các binh pháp, cầm khí giới, gậy gộc rất vững chắc, rành rẽ tất cả sáu mươi bốn nghề, mười tám minh và tất cả các kỹ thuật, mọi người đều kính phục và ngưỡng mộ vị ấy. Vì giỏi nhiều việc nên vị ấy bỏ công ít mà được lợi nhiều. Do đó vị ấy luôn luôn được mọi người cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen. Lúc đó vị ấy càng thêm vui mừng gấp bội và làm cho những người thân cũng vui mừng yên ổn. Vì có lý do, người đó phải dẫn cha mẹ, vợ con quyến thuộc đi tới nơi khác, phải đi qua đồng trống nguy hiểm có nhiều ác thú, giặc cướp, kẻ thù, rình rập và những việc đáng sợ khác làm cho quyến thuộc của họ từ lớn đến nhỏ đều kinh sợ. Ỷ mình có nhiều tài nghệ, oai đức và sức mạnh, với thân tâm thư thái, người ấy an ủi cha mẹ và quyến thuộc rằng: chớ có lo sợ, con sẽ không để cho ai chịu khổ cả. Lúc ấy, người đó dùng tài nghệ khéo léo đưa quyến thuộc đến nơi an ổn, thoát khỏi tai nạn nguy hiểm và vui mừng hưởng lạc. Vì sao ở giữa đồng trống mà tráng sĩ ấy không sợ bị thú dữ và giặc thù làm hại? Bởi vì nhờ vào oai đức, sức
 mạnh và đầy đủ các tài nghệ nên vị ấy không sợ gì cả. Này Thiện Hiện, ông phải biết các Đại Bồ-tát cũng như vậy. Vì thương xót các hữu tình phải chịu nỗi khổ sinh tử nên Đại Bồ-tát phát nguyện hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột, kết duyên rộng khắp với tất cả hữu tình, phát tâm cùng họ thực hành bốn Vô lượng, trụ vào bốn Vô lượng, mạnh mẽ tu tập Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa làm cho mau được viên mãn. Ở vị trí chưa viên mãn đối với sáu pháp Ba-la-mật-đa này, vì muốn tu học trí Nhất thiết trí, Đại Bồ-tát đó không chứng lậu tận. Tuy trụ ở pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện nhưng vị ấy không thay đổi theo thế lực đó, cũng không bị chướng ngại đó dẫn dắt cướp đoạt, cũng không mong chứng đắc đối với cửa giải thoát. Do không chứng đắc nên họ không bị vướng vào quả Thanh văn, Độc giác và chắc chắn hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột.
Này Thiện Hiện, như cánh chim vững mạnh bay liệng trên không, tự do bay lượn thật lâu vẫn không rơi xuống, tuy nương hư không để bay nhưng nó không chiếm lấy hư không và cũng chẳng bị hư không làm trở ngại. Này Thiện Hiện, ông nên biết, các bậc Đại Bồ-tát cũng vậy, tuy thường gần gũi an trụ, tu hành ba pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện nhưng họ không chứng đắc các pháp ấy. Do không chứng đắc nên họ không đọa vào Thanh văn và Độc giác. Khi tu mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng, pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng và vô lượng, vô biên Phật pháp khác, nếu chưa được viên mãn thì họ quyết chẳng nương vào ba Tam-ma-địa Không, Vô tướng, Vô nguyện để chứng lậu tận.
Này Thiện Hiện, như có tráng sĩ rất giỏi việc bắn tên, vì muốn trổ tài của mình, người ấy ngước lên bắn vào hư không, để mũi tên đó ở mãi trên hư không, không rơi xuống đất, người ấy lại đem mũi tên sau bắn vào đuôi mũi tên trước, cứ như vậy sau một thời gian dài các mũi tên nương vào nhau không bị rơi xuống đất. Nếu muốn những mũi tên ấy rơi xuống, người đó chỉ việc ngừng bắn thì các mũi tên liền lập tức rơi xuống. Này Thiện Hiện, ông nên biết, các
bậc Đại Bồ-tát cũng giống như vậy. Họ nhờ phương tiện thiện xảo hộ trì để thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cho đến khi thuần thục quả vị Giác ngộ cao tột. Khi thực hành căn lành chưa được thành thục thì họ quyết không chứng thật tế ở giữa đường vì chỉ cầu quả vị Giác ngộ cao tột… Khi đã thành thục tất cả căn lành, bấy giờ Bồ-tát mới chứng thật tế và liền được quả vị Giác ngộ cao tột. Vì thế này Thiện Hiện, khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát nên quan sát thật kỹ thật tướng của các pháp như đã nói trước.
Khi ấy Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn, các bậc Đại Bồ-tát thật là hiếm có, có thể làm được những việc khó làm, tuy học các pháp thật tế của chân như, pháp giới, pháp tánh, tuy học các pháp rốt ráo đều không cho đến tự tướng không, tuy học Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, tuy học bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, tuy học pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện nhưng giữa đường họ không bị vướng vào quả Thanh văn và Độc giác, không đánh mất quả vị Giác ngộ cao tột.
Phật bảo:
–Này Thiện Hiện, vì đã thề không xả bỏ hữu tình nên các Đại Bồ-tát phát nguyện: “Nếu các hữu tình chưa được giải thoát, ta quyết chẳng bỏ các giới hạnh đã phát khởi.”
Này Thiện Hiện, do nguyện lực thù thắng các bậc Đại Bồ-tát thường suy nghĩ: “Nếu các hữu tình chưa được giải thoát, ta quyết chẳng bỏ rơi họ. Nhờ phát sinh tâm rộng lớn như vậy nên chắc chắn họ không bị thoái lui giữa đường.” Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát thường suy nghĩ: “Ta không nên xả bỏ tất cả hữu tình mà phải làm cho tất cả đều được giải thoát.” Nhưng các hữu tình thực hành pháp bất chánh, để cứu độ họ ta phải thường xuyên chỉ dẫn cho họ pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện và tuy nhiều lần chỉ dẫn nhưng ta không nắm giữ sự chứng đắc. Này Thiện Hiện, nhờ thuần thục sức phương tiện khéo léo nên tuy nhiều lần hiện ra ba pháp môn giải thoát nhưng Đại Bồ-tát không chứng thật tế ở giữa chừng, nếu như chưa được trí Nhất thiết trí. Đến khi được quả vị Giác ngộ cao tột vị ấy mới nắm giữ sự chứng đắc.
Lại nữa này Thiện Hiện, chỗ thâm sâu mà Đại Bồ-tát muốn quán
sát là muốn quán sát pháp không bên trong, pháp không bên ngoài, pháp không cả trong ngoài, pháp không không, pháp không lớn, pháp không thắng nghĩa, pháp không hữu vi, pháp không vô vi, pháp không rốt ráo, pháp không không biên giới, pháp không tản mạn chẳng đổi khác, pháp không bản tánh, pháp không tự tướng cộng tướng, pháp không nơi tất cả pháp, pháp không chẳng thể nắm bắt được, pháp không không tánh, pháp không tự tánh, pháp không không tánh tự tánh. Vị ấy cũng thích quán sát bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Đẳng giác, tám chi Thánh đạo, pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện và thấy tất cả đều không có tự tướng.
Này Thiện Hiện, sau khi quán như vậy rồi, Đại Bồ-tát suy nghĩ: “Do sức lôi cuốn của bạn ác, đã từ lâu các loài hữu tình phát sinh ý chấp tưởng về ngã, chấp tưởng về hữu tình cho đến chấp tưởng về cái biết, cái thấy. Do sự chấp tưởng này và cho việc làm của mình đều có chỗ sở đắc, nên họ luân hồi sinh tử chịu đủ loại khổ. Để đoạn trừ tưởng chấp như vậy của hữu tình, ta phải hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột, thuyết pháp vi diệu sâu xa cho họ nghe để giúp họ trừ bỏ tưởng chấp và thoát khỏi nỗi khổ sinh tử.” Này Thiện Hiện, lúc ấy, tuy học pháp môn giải thoát Không nhưng Đại Bồ-tát này không dựa vào đó để chứng thật tế, tuy học pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện nhưng vị ấy không dựa vào đó để chứng thật tế. Do không nắm giữ sự chứng đắc đối với thật tế nên họ không bị vướng vào quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán và Độc giác Bồ-đề. Này Thiện Hiện, do nhờ nghĩ và thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thành tựu căn lành không chứng thật tế, tuy không lấy thật tế làm chỗ chứng đắc nhưng Đại Bồ-tát đó không thoái thất bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; cũng không thoái thất bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Đẳng giác, tám chi Thánh đạo; cũng không thoái thất tám Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ; cũng không lui mất pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, không lui mất pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; không lui mất chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; không lui mất Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; cũng không lui mất Bố thí ba-la-mật-đa cho
đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; cũng không lui mất tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; cũng không lui mất năm loại mắt, sáu phép thần thông; cũng không lui mất mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; cũng không thoái thất pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; cũng không lui mất trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; cũng không lui mất vô lượng, vô biên các pháp khác của Phật.
Này Thiện Hiện, lúc ấy, Đại Bồ-tát đó thuần thục tất cả các pháp phần Bồ-đề cho đến chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột và các công đức của họ không bị giảm bớt. Này Thiện Hiện, khi Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, nhờ được phương tiện thiện xảo hộ trì nên pháp lành tăng thêm trong từng niệm, các căn bén nhạy hơn hẳn tất cả Thanh văn, Độc giác.
Lại nữa này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào thường nghĩ rằng: “Đã từ lâu, do bị lệ thuộc vào bạn ác, các loài hữu tình thường làm theo ba cách với bốn loại điên đảo. Đó là thường tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo. Hoặc là lạc tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo. Hoặc là ngã tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo. Hoặc là tịnh tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo. Vì các hữu tình này, ta nên hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột, tu các hạnh của Đại Bồ-tát. Khi đã chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, ta sẽ thuyết pháp không điên đảo cho các hữu tình nghe như là thuyết pháp sinh tử, vô thường, vô lạc, vô ngã, bất tịnh, chỉ có Niết-bàn là vi diệu, là vắng lặng, là đầy đủ các công đức chân thật Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.” Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát thuần thục tâm niệm đó, là nhờ có phương tiện thiện xảo nhiếp thọ, hộ trì, trong khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Vì nếu đối với mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng và vô lượng, vô biên Phật pháp khác mà chưa được viên mãn hoàn toàn thì Đại Bồ-tát đó không thể chứng nhập vào định thù thắng của Như Lai. Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát lúc ấy tuy đang tu học pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện ra vào tự tại nhưng Đại Bồ-tát đó vẫn chưa vội chứng đắc đối với thật tế cho đến quả vị Giác ngộ cao tột. Vì nếu thực hành công đức chưa được viên mãn hoàn toàn thì vị ấy không chứng đắc thật tế và các công đức khác. Đến khi đắc được quả vị Giác ngộ cao tột, vị ấy mới có thể chứng đắc thật tế
này… Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát lúc ấy, tuy tu hành chưa viên mãn các công đức khác nhưng Đại Bồ-tát đó đã tu tập viên mãn pháp môn Tam-ma-địa Vô nguyện.
Lại nữa này Thiện Hiện, nếu Đại Bồ-tát nào thường nghĩ rằng: suốt thời gian dài, vì bị lệ thuộc vào bạn ác nên các loài hữu tình làm việc gì cũng cho là có sở đắc, chấp có mình hoặc có hữu tình cho đến chấp có người thấy người biết; hoặc chấp có sắc, thọ, tưởng, hành, thức; hoặc chấp có nhãn xứ cho đến ý xứ; hoặc chấp có sắc xứ cho đến pháp xứ; hoặc chấp có nhãn giới cho đến ý giới; hoặc chấp có sắc giới cho đến pháp giới; hoặc chấp có nhãn thức giới cho đến ý thức giới; hoặc chấp có nhãn xúc cho đến ý xúc; hoặc chấp có các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra; hoặc chấp có địa giới cho đến thức giới; hoặc chấp có vô minh cho đến lão tử; hoặc chấp có mười nghiệp đạo lành, hoặc chấp có bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, bốn Nhiếp sự. Vì các hữu tình này, ta sẽ hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột, tu các hạnh của Đại Bồ-tát. Khi chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột ta sẽ làm cho các loài hữu tình vĩnh viễn trừ bỏ các việc chấp trước đó. Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát thuần thục được tâm niệm này là nhờ phương tiện thiện xảo hộ trì khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Vì nếu đối với mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng và vô lượng, vô biên Phật pháp khác mà chưa được viên mãn hoàn toàn thì Đại Bồ-tát đó không thể chứng nhập vào định thù thắng của Như Lai. Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát lúc ấy tuy học và ra vào tự tại pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện nhưng Đại Bồ-tát đó chưa vội chứng đắc thật tế cho đến quả vị Giác ngộ cao tột. Vì nếu thực hành công đức chưa được viên mãn hoàn toàn thì vị ấy không chứng đắc thật tế và các công đức khác. Đến khi đắc được quả vị Giác ngộ cao tột vị ấy mới có thể chứng đắc thật tế này. Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát lúc ấy tuy tu tập các công đức khác chưa được viên mãn nhưng Đại Bồ-tát này đã tu tập viên mãn đối với pháp môn Tam-ma-địa Không.
Lại nữa này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào thường nghĩ rằng, suốt thời gian dài vì bị lệ thuộc vào bạn ác nên các loài hữu tình thường
chấp chặt các tướng, đó là chấp tướng nam, tướng nữ, hoặc chấp tướng sắc, tướng âm thanh, hoặc chấp tướng hương, tướng vị, hoặc chấp tướng xúc chạm, hoặc chấp tướng pháp, hoặc chấp các tướng khác ở trong đó. Vì các loài hữu tình này ta sẽ hướng về quả vị Giác ngộ cao tột tu các hạnh của Đại Bồ-tát. Lúc chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột ta sẽ làm cho các loài hữu tình vĩnh viễn đoạn trừ sự chấp trước các tướng như vậy. Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát thuần thục được tâm niệm này là nhờ phương tiện thiện xảo hộ trì khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa. Nếu đối với mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng và vô lượng, vô biên Phật pháp khác mà chưa được viên mãn hoàn toàn thì Đại Bồ-tát đó không thể chứng nhập vào định thù thắng của Như Lai. Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát lúc ấy tuy học và ra vào tự tại pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện nhưng Đại Bồ-tát đó chưa vội chứng đắc thật tế cho đến quả vị Giác ngộ cao tột. Vì nếu thực hành công đức chưa được viên mãn hoàn toàn thì vị ấy không chứng đắc thật tế và các công đức khác. Đến khi đắc được quả vị Giác ngộ cao tột vị ấy mới chứng đắc thật tế này. Này Thiện Hiện, lúc ấy tuy tu tập các công đức khác chưa được viên mãn nhưng Đại Bồ-tát này đã tu tập viên mãn đối với pháp môn Tam-ma-địa Vô tướng.
Lại nữa này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào đã khéo tu học Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; đã khéo an trụ vào pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; đã khéo an trụ vào chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; đã khéo an trụ vào Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; đã khéo tu học bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; đã khéo tu học pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; đã khéo tu học bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; đã khéo tu học tám Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ; đã khéo tu học việc làm của mười địa; đã khéo tu học tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; đã khéo tu học năm loại mắt, sáu phép thần thông; đã khéo tu học mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; đã khéo tu học pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; đã khéo tu học trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; đã khéo tu học tất
cả các hạnh của bậc Đại Bồ-tát, đã khéo tu học quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, thì này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát ấy thuần thục công đức, trí tuệ như thế, chắc chắn vị ấy sẽ không phát sinh ý tưởng vui thích hoặc nói có vui thích đối với sinh tử, hoặc là an trụ chấp trước đối với ba cõi.
Lại nữa này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào đã khéo tu hành pháp phần Bồ-đề, tất cả các pháp của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác và các Đại Bồ-tát thì nên hỏi thử vị ấy rằng: “Nếu muốn chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột thì Đại Bồ-tát phải làm sao để tu học pháp phần Bồ-đề mà không chứng đắc thật tế của không, vô tướng, vô nguyện, không sinh, không diệt, không tạo tác, không hành động, không tánh, nhờ không chứng pháp ấy nên không đắc quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, Độc giác Bồ-đề mà siêng năng tu tập Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thường không chấp trước điều gì.”
Này Thiện Hiện, khi được hỏi như vậy, nếu Đại Bồ-tát ấy đáp rằng: “Nếu muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột, các bậc Đại Bồ-tát chỉ cần tư duy về thật tế của không, vô tướng, vô nguyện, không sinh, không diệt, không tạo tác, không hành động, không tánh và tất cả các pháp phần Bồ-đề khác chớ không cần tu học,” thì này Thiện Hiện, ông nên biết, Đại Bồ-tát đó chưa được Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thọ ký không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột. Vì sao vậy? Này Thiện Hiện, bởi vì Đại Bồ-tát này chưa được khai thị, thọ ký, không thể phân biệt rõ ràng pháp tướng tu học của bậc Đại Bồ-tát đang trụ ở địa vị không thoái chuyển.
Này Thiện Hiện, khi được hỏi như vậy nếu Đại Bồ-tát ấy đáp rằng: “Nếu muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột thì Đại Bồ-tát phải tư duy chân chánh về thật tế của không, vô tướng, vô nguyện, không sinh, không diệt, không tạo tác, không hành động, không tánh và tất cả các pháp phần Bồ-đề khác và cũng nên phương tiện, khéo léo tu học mà không chứng đắc như đã nói ở trước, thì này Thiện Hiện, ông nên biết, Đại Bồ-tát này đã được Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thọ ký không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột. Vì sao vậy? Này Thiện Hiện, đó là vì Đại Bồ-tát này đã được khai thị, thọ ký, hiểu rõ việc và tu học pháp tướng của bậc Đại Bồ-tát trụ ở địa vị không thoái chuyển.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào chưa được khai thị, thọ ký và hiểu rõ pháp tướng tu học của bậc Đại Bồ-tát trụ ở địa vị không thoái chuyển thì nên biết Đại Bồ-tát ấy chưa khéo tu học sáu pháp Ba-la-mật-đa và tất cả các pháp phần Bồ-đề, chưa nhập vào bậc Bạc, chưa được như các bậc Đại Bồ-tát khác đã ở địa vị không thoái chuyển, những vị đã được khai thị, thọ ký, hiểu rõ và an trụ vào tướng không thoái chuyển.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào đã được khai thị, thọ ký và hiểu rõ pháp tướng tu học của bậc Đại Bồ-tát trụ ở địa vị không thoái chuyển thì nên biết Đại Bồ-tát ấy đã khéo tu tập Bát-nhã ba-la-mật-đa và tất cả các pháp phần Bồ-đề khác, đã nhập vào bậc Bạc, đã giống như các bậc Đại Bồ-tát khác đã ở địa vị không thoái chuyển, những vị đã được khai thị, thọ ký, hiểu rõ và an trụ vào tướng không thoái chuyển.
Khi ấy Thiện Hiện thưa:
–Bạch Đức Thế Tôn, có Đại Bồ-tát nào chưa đạt được không thoái chuyển mà có thể đáp như thật như vậy được không?
Đức Phật dạy:
–Này Thiện Hiện, có Đại Bồ-tát tuy chưa được không thoái chuyển nhưng có thể đáp như thật về việc đó. Này Thiện Hiện, tuy chưa được không thoái chuyển nhưng Đại Bồ-tát này có thể tu học và đã thành thục sáu pháp Ba-la-mật-đa và tất cả các pháp phần Bồ-đề khác. Vị ấy có tuệ giác bén nhạy, có thể đáp như thật về những điều đã được nghe hoặc chưa nghe như là Đại Bồ-tát ở địa vị không thoái chuyển.
Lúc đó, Thiện Hiện lại thưa:
–Bạch Đức Thế Tôn, có nhiều Đại Bồ-tát tu hành quả vị Giác ngộ cao tột nhưng ít có thể đáp như thật như bậc Đại Bồ-tát ở địa vị không thoái chuyển là bậc đã khéo tu tập. Bởi vì họ chưa khéo tu tập mà đã an trụ.
Phật dạy:
–Này Thiện Hiện, đúng vậy, đúng như lời ông nói. Vì sao vậy? Này Thiện Hiện, ít có Đại Bồ-tát được thọ ký không thoái chuyển và có trí tuệ vi diệu như vậy. Nếu có người nào được thọ ký như vậy thì đều có thể đáp như thật về việc này. Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào
có thể đáp như thật về việc đó thì nên biết vị ấy có căn lành sáng suốt, trí tuệ sâu rộng, Trời, Người, A-tố-lạc… không thể sai khiến.

Phẩm 60: TĂNG THƯỢNG MẠN (1)
Khi đó Phật dạy Cụ thọ Thiện Hiện:
–Đại Bồ-tát nào cho đến trong mộng cũng không thích khen ngợi quả Thanh văn và Độc giác, cũng không sinh tâm thích khen ngợi các pháp trong ba cõi, thường quán các pháp như mộng, như tiếng vang, như hình ảnh, như huyễn hóa, như bóng nắng, như bóng râm, như việc biến hóa, như thành Càn-thát-bà, tuy quán sát như vậy nhưng không chịu chứng thật tế thì nên biết Bồ-tát ấy có tướng không thoái chuyển.
Lại nữa này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào nằm mộng thấy Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có vô số trăm ngàn ức, muôn ức chúng đệ tử cung kính vây quanh để nghe thuyết pháp, nghe xong họ hiểu rõ ý nghĩa; đã hiểu rõ ý nghĩa rồi, họ tinh tấn tu hành pháp tùy, pháp hành, hòa kính hành và tùy pháp hành, thì nên biết Bồ-tát đó có tướng không thoái chuyển.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào nằm mộng thấy Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp viên mãn trang nghiêm, thường có ánh sáng rộng một tầm soi sáng chung quanh. Ngài cùng với vô số chúng đệ tử vọt lên hư không, hiện đại thần thông thuyết trình điều cốt yếu của chánh pháp, dạy họ làm Phật sự, làm cho họ đến vô số cõi Phật ở phương khác để làm Phật sự thì nên biết Đại Bồ-tát đó có tướng không thoái chuyển.
Này Thiện Hiện, nếu Đại Bồ-tát nằm mộng thấy giặc dữ phá hoại thành phố, xóm làng; hoặc thấy lửa hừng hực đốt cháy xóm làng; hoặc thấy sư tử, cọp, sĩi, thú dữ rắn độc, rít độc muốn đến làm hại thân mình; hoặc thấy kẻ thù muốn chặt đầu mình hoặc thấy cha mẹ, anh, chị, em, vợ con, bạn thân sắp chết; hoặc thấy thân mình bị lạnh, nóng đói, khát và các việc khổ khác bức bách, khi thấy những việc đáng sợ như vậy vị ấy không kinh sợ cũng không buồn rầu áo não. Khi tỉnh mộng vị ấy tư duy: “Ba cõi không thật như những việc được thấy trong
mộng, lúc chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột ta sẽ nói cho các hữu tình biết tất cả các pháp trong ba cõi đều hư dối như cảnh ở trong mộng, làm cho các hữu tình không sinh chấp trước thì nên biết Bồ-tát đó có tướng không thoái chuyển.”
Lại nữa này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào cho đến trong mộng thấy có cõi địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, các loài hữu tình liền nghĩ rằng: “Ta sẽ siêng năng tu Bồ-tát hạnh để mau chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, ở trong cõi Phật ta sẽ không có tên các đường ác như địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ…” Khi đã tỉnh mộng vị ấy cũng nghĩ như vậy. Này Thiện Hiện, ông nên biết, sau này khi Đại Bồ-tát ấy thành Phật, trong cõi Phật ấy chắc chắn sẽ không có đường ác. Vì sao vậy? Bởi vì hoặc mộng hoặc tỉnh, các pháp là không hai, không khác. Nên biết Bồ-tát ấy có tướng không thoái chuyển.
Lại nữa này Thiện Hiện, nếu ở trong mộng Đại Bồ-tát thấy lửa thiêu đốt các loài hữu tình ở trong địa ngục, hoặc thấy lửa thiêu thành ấp, xóm làng liền phát thệ nguyện: “Nếu ta đã được thọ ký không thoái chuyển sẽ chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột thì nguyện cho lửa lớn này lập tức dập tắt và trở thành mát mẻ.” Nếu ở trong mộng, sau khi phát lời nguyện này, Đại Bồ-tát ấy thấy lửa liền tắt hết thì nên biết vị ấy đã được thọ ký không thoái chuyển. Nếu Đại Bồ-tát này đã phát nguyện rồi mà lửa thấy trong mộng không lập tức tiêu diệt thì nên biết vị ấy chưa được thọ ký không thoái chuyển.
Lại nữa này Thiện Hiện, nếu lúc thức Đại Bồ-tát thấy lửa lớn thình lình phát sinh đốt các thành ấp hoặc đốt xóm làng liền nghĩ rằng: “Lúc nằm mộng hoặc lúc thức ta đã từng thấy mình có tướng không thoái chuyển, không biết là thật hay giả. Nếu điều tôi thấy là có thật thì nguyện cho lửa lớn này lập tức bị tiêu diệt và trở thành mát mẻ.” Nếu lúc Bồ-tát này lập thệ nguyện, phát ra lời chắc thật mà lửa lớn liền lập tức tiêu diệt thì nên biết vị ấy đã được thọ ký không thoái chuyển. Nếu Bồ-tát này lập thệ nguyện, phát ra lời chắc thật mà lửa lớn không lập tức tiêu diệt thì nên biết vị ấy chưa được thọ ký không thoái chuyển.
Này Thiện Hiện, nếu lúc thức Đại Bồ-tát thấy lửa thiêu đốt thành ấp hoặc xóm làng liền nghĩ rằng: “Ở trong mộng hoặc lúc thức ta đã từng thấy mình có tướng không thoái chuyển. Nếu điều ta thấy
là có thật, chắc chắn sẽ đạt được quả vị Giác ngộ cao tột thì nguyện cho lửa lớn này lập tức tiêu diệt và trở nên mát mẻ.” Sau khi Đại Bồ-tát này đã lập thệ nguyện và phát ra lời chắc thật mà lửa lớn này không lập tức tiêu diệt lại thiêu một nhà, vượt qua một nhà, lại thiêu một nhà, hoặc đốt một xóm, vượt qua một xóm, lại đốt một xóm, lần lượt như thế, lửa ấy mới tắt thì Đại Bồ-tát ấy nên tự biết rõ rằng: chắc chắn mình đã được thọ ký không thoái chuyển. Còn chúng sinh bị thiêu là do hữu tình ấy tạo ra nghiệp phá hoại chánh pháp ngày càng nhiều. Do nghiệp ấy, trước tiên họ bị đọa vào đường ác, chịu quả khổ chánh báo trong vô số kiếp, nay sinh làm người lại chịu quả khổ còn sĩt lại, hoặc do nghiệp này họ phải đọa vào đường ác trải qua vô số kiếp chịu quả khổ chánh báo, nay ở trong cõi người trước tiên hiện ra tai họa nhỏ.
Lại nữa này Thiện Hiện, dựa vào các nhân duyên đã nói ở trước, ta biết được ai là Đại Bồ-tát không thoái chuyển. Ngoài ra còn có các tướng trạng khác được thuần thục thì ta biết đó là Đại Bồ-tát không thoái chuyển, ta sẽ phân biệt giải bày cho ông nghe. Ông hãy chú ý lắng nghe và suy nghĩ kỹ.
Thiện Hiện đáp:
–Xin Ngài dạy cho con nghe!
Đức Phật dạy:
–Này Thiện Hiện, nếu Đại Bồ-tát thấy có người nam hoặc người nữ đang bị phi nhân làm mê hoặc, chịu các khổ não không thể thoát được, liền nghĩ rằng: “Nếu Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác biết ta đã có được ý muốn thanh tịnh nên thọ ký cho ta không thoái chuyển quả vị Giác ngộ cao tột; nếu từ lâu ta đã phát sinh ý nghĩ trong sạch cầu chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, lìa xa ý mong cầu quả Thanh văn, Độc giác, không đem ý nghĩ của Thanh văn, Độc giác để cầu chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột; nếu về sau chắc chắn ta chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột ta sẽ làm lợi ích an lạc cho các loài hữu tình suốt đời vị lai; nếu khắp các thế giới ở mười phương trong hiện tại thật có vô số Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đang thuyết pháp vi diệu làm lợi lạc hữu tình, các Bậc Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác không có điều gì là không thấy, không có điều gì là không biết, không có điều gì không hiểu, không có điều gì không chứng
ngộ, các Ngài hiện đang thấy, biết và hiểu ý thích khác nhau của tất cả hữu tình, xin rủ lòng soi xét tâm niệm và lời nói chắc thật của con; nếu con thật sự có thể tu Bồ-tát hạnh, chắc chắn đạt được quả vị Giác ngộ cao tột, trở thành người cứu vớt nỗi khổ sinh tử của hữu tình thì nguyện cho người nam hoặc người nữ này không bị phi nhân làm não loạn và phi nhân đó theo lời con bỏ đi ngay lập tức.” Lúc Đại Bồ-tát nói lời này, nếu phi nhân kia không bỏ đi thì nên biết vị ấy chưa được thọ ký không thoái chuyển. Lúc Đại Bồ-tát nói lời này nếu phi nhân kia bỏ đi ngay lập tức thì nên biết vị ấy đã được thọ ký không thoái chuyển.
Lại nữa này Thiện Hiện, có Đại Bồ-tát chưa khéo tu học Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; chưa khéo an trụ vào pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; chưa khéo an trụ vào chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; chưa khéo an trụ vào Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; chưa khéo tu học bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; chưa khéo tu học bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; chưa khéo tu học tám Giải thoát, tám Thắng xứ, chín Định thứ đệ, mười Biến xứ; chưa khéo tu học pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; chưa khéo tu học tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chưa vào Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát; chưa tu tập đầy đủ tất cả các pháp của Phật, xa lìa phương tiện thiện xảo của Bồ-tát; chưa khỏi bị ác ma làm rối loạn, chưa có thể hiểu biết các việc ma; không tự lường xét căn lành của mình nhiều hay ít, lại bắt chước các vị Bồ-tát phát lời chắc thật, nên liền bị ác ma lừa dối. Khi thấy có người nam hoặc người nữ đang bị phi nhân làm mê hoặc chịu các khổ não không thể thoát được, Đại Bồ-tát này liền khinh suất phát lời thành thật: “Nếu ta đã được chư Phật trong quá khứ thọ ký không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột thì hãy khiến cho người nam hoặc người nữ này không bị phi nhân làm rối loạn và phi nhân đó theo lời tôi lập tức bỏ đi.” Khi Đại Bồ-tát ấy nói xong lời này, lúc đó để lừa dối người ấy, ác ma liền xua đuổi phi nhân đi nơi khác. Vì sao vậy? Bởi vì ác ma có thế lực lớn hơn thế lực của phi nhân kia, cho nên khi nghe ác ma dạy phi nhân liền lập tức bỏ đi. Sau khi thấy việc này, Đại Bồ-tát đó vui mừng hớn hở nghĩ rằng: “Hôm nay phi nhân đã bỏ đi là nhờ oai lực của ta, vì sao vậy? Bởi vì phi nhân theo lời
phát nguyện của ta liền thả người nam người nữ này chớ không có lý do nào khác.”
Vì không thể hiểu biết việc làm của ác ma và cho là nhờ sức mình nên Đại Bồ-tát đó vui mừng một cách hư dối, ỷ vào việc đó coi khinh các Bồ-tát khác, tự nói: Ta đã được chư Phật quá khứ thọ ký không thoái chuyển nơi quả vị Giác ngộ cao tột, các thệ nguyện đã phát ra đều không uổng phí. Các ông chưa được chư Phật thọ ký không nên bắt chước ta phát ra lời nói chắc thật, giả sử các ông có cầu mong điều gì thì chắc chắn không có kết quả. Vì dựa vào chút ít tài năng hư dối, Đại Bồ-tát đó khinh chê chửa mắng các Bồ-tát, vì sinh ra nhiều thứ tăng thượng mạn đối với các công đức nên vị ấy xa lìa quả vị Giác ngộ cao tột, không thể chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Do không có sức phương tiện khéo léo, do sinh nhiều loại tăng thượng mạn, do khinh chê mắng chửi các Bồ-tát, nên dù siêng năng tinh tấn, Bồ-tát đó vẫn đọa vào địa vị Thanh văn, Độc giác. Do ít phước đức nên khi Bồ-tát ấy tạo nghiệp lành phát ra lời nói chắc thật thì cũng đều bị phát sinh ma sự. Đại Bồ-tát này không thể gần gũi cúng dường, cung kính, tôn trọng ngợi khen các bậc thiện tri thức, không thể thưa hỏi về tướng mạo của Bồ-tát không thoái chuyển, không thể thưa hỏi về việc làm của các quân ma độc ác. Do đó họ bị ma trói buộc ngày càng chặt hơn. Vì sao vậy? Bởi vì đã từ lâu, Đại Bồ-tát này chưa tu hành Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa cho đến vì xa lìa phương tiện thiện xảo nên vị ấy bị ác ma lừa dối. Vì thế này Thiện Hiện các Đại Bồ-tát cần phải hiểu rõ các việc của ác ma không nên phát sinh tâm tăng thượng mạn một cách hư dối làm lui mất Phật quả Vô thượng mà mình mong cầu.
/52
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »