KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 455
Phẩm 61: ĐỒNG HỌC (2)
Bấy giờ, Cụ thọ Khánh Hỷ thầm nghĩ: “Nay Thiên đế Thích nhờ sự biện tài của mình, mà đã giảng nói Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như vậy, khen ngợi công đức thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như thế hay là nhờ sức oai thần của Như Lai?”
Thiên đế Thích liền biết tâm niệm của Khánh Hỷ mới thưa rằng:
–Đại đức, việc tôi giảng nói Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, việc tôi khen ngợi công đức thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa đều nhờ sức oai thần của Như Lai.
Khi ấy, Thế Tôn bảo Khánh Hỷ:
–Đúng vậy, đúng vậy, nay Thiên đế Thích giảng nói, khen ngợi công đức thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nên biết việc đó đều nhờ sức oai thần của Như Lai, chẳng phải là sự biện tài của ông ấy. Vì sao vậy? Đó là vì công đức thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nhất định chẳng phải là pháp mà tất cả thế gian Trời, Người, A-tố-lạc…, có thể biết được, nói được. Khánh Hỷ nên biết, khi Đại Bồ-tát nào học tập, suy nghĩ tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa tất cả ác ma trong thế giới ba lần ngàn đều sinh nghi ngờ và nghĩ rằng: “Không biết Đại Bồ-tát này làm vậy là để chứng đắc thật tế, lui lại giữ quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán, Độc giác Bồ-đề hay để hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột.”
Lại nữa Khánh Hỷ, nếu Đại Bồ-tát không lìa Bát-nhã ba-la-mật-đa thì các ác ma rất khổ não, thân tâm đau đớn như bị trúng tên độc.
Lại nữa Khánh Hỷ, nếu Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì các ác ma đến chỗ vị ấy hóa ra đủ loại việc đáng sợ, vì muốn làm thân tâm Bồ-tát kinh sợ, mê muội đánh mất tâm Vô thượng
Chánh đẳng giác, có ý thoái lui đối với việc tu hành cho đến phát sinh một ý niệm rối loạn gây chướng ngại sự chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột. Đó là ước nguyện thâm hiểm của ác ma ấy.
Bấy giờ, Khánh Hỷ liền bạch Phật rằng:
–Lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các vị Đại Bồ-tát đều bị ác ma làm não loạn hay là có người bị não loạn, có người không bị não loạn.
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, chẳng phải các vị Đại Bồ-tát đều bị ác ma làm não loạn mà là có người bị não loạn, có người không bị não loạn. Cụ thọ Khánh Hỷ lại bạch Phật:
–Lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, những vị Đại Bồ-tát nào bị ma não loạn, những vị Đại
Bồ-tát nào không bị ma não loạn?
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Đại Bồ-tát nào vào đời trước, khi nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này, không tin hiểu, khinh chê, hủy báng thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát ấy bị ma làm não loạn. Đại Bồ-tát nào vào đời trước, lúc nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này tin hiểu, khen ngợi, không hủy báng thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát ấy không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào vào đời trước, khi nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này liền nghi ngờ do dự là có hay không, là thật hay giả thì khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát này bị ác ma làm não loạn. Đại Bồ-tát nào vào đời trước, nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này không sinh nghi ngờ, do dự và tin chắc là có thật thì khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát ấy không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào xa lìa thiện tri thức, bị lệ thuộc vào bạn ác, không được nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này, do không nghe nên không thể hiểu Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, vì không hiểu rõ nên không thể tu tập Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, vì không tu tập nên không thể thưa hỏi về Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, do không thưa hỏi nên không thể thực hành như pháp Bát-nhã ba-la-
mật-đa sâu xa, do không thực hành như pháp nên không thể chứng đắc Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa và lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát này bị ác ma làm não loạn. Đại Bồ-tát nào gần gũi bạn lành, không bị lệ thuộc vào bạn ác, được nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này, nhờ được nghe nên liền hiểu rõ Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, do hiểu rõ nên liền có thể tu tập Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nhờ tu tập nên có thể thưa hỏi về Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nhờ thưa hỏi nên có thể thực hành như pháp Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, vì thực hành như pháp nên liền có thể chứng đắc Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa và lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát ấy không bị ác ma làm não loạn.
Này Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào xa lìa Bát-nhã ba-la-mật-đa, khen ngợi và lệ thuộc vào pháp không
chân chánh, vi diệu thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát bị ác ma làm não loạn.
Đại Bồ-tát nào gần gũi Bát-nhã ba-la-mật-đa, không khen ngợi, không lệ thuộc vào pháp chẳng chân chánh, vi diệu thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát này không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào xa lìa Bát-nhã ba-la-mật-đa, khinh chê hủy báng pháp chân chánh vi diệu, lúc ấy ác ma liền nghĩ rằng: “Nay ta làm bạn với Bồ-tát này. Vì người ấy hủy báng pháp chân chánh vi diệu nên liền có vô số chúng sinh trụ nơi Bồ-tát thừa cũng hủy báng pháp chân chánh vi diệu. Vì lý do này ta nguyện làm viên mãn.” Giả sử các chúng sinh thuộc Bồ-tát thừa này siêng năng tu tập các pháp lành nhưng rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác, đồng thời làm cho người khác bị rơi theo thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát ấy bị ác ma làm não loạn.
Đại Bồ-tát nào gần gũi Bát-nhã ba-la-mật-đa, khen ngợi tin nhận pháp chân chánh vi diệu, lại làm cho vô số chúng sinh trụ nơi Bồ-tát thừa cũng khen ngợi tin tưởng pháp chân chánh vi diệu, vì thế ác ma buồn rầu kinh sợ. Giả sử các chúng sinh thuộc Bồ-tát thừa này không siêng năng tu các pháp lành mà cũng quyết định không làm cho mình và người khác trở lại địa vị Thanh văn, Độc giác và chắc chắn chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột thì khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát ấy không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, lúc nghe giảng kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa
sâu xa, Đại Bồ-tát nói rằng: “Bát-nhã ba-la-mật-đa này, nghĩa lý sâu xa, khó thấy, khó hiểu, vậy giảng nói, lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, tư duy, siêng năng tu tập, biên chép truyền bá kinh này để làm gì? Ta còn không thể hiểu thấu đáo kinh này huống gì những người phước mỏng trí cạn.” Khi nghe người ấy nói, vô số chúng sinh đang theo Bồ-tát thừa đều kinh sợ, liền thoái lui tâm Vô thượng Chánh đẳng giác rơi vào địa vị Nhị thừa thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát này bị ác ma làm não loạn.
Khi nghe giảng Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát nói rằng: “Bát-nhã ba-la-mật-đa này có ý nghĩa sâu xa, khó thấy, khó hiểu, nếu không giảng bày, lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, tư duy, siêng năng tu tập, biên chép, truyền bá mà có thể chứng quả vị Giác ngộ cao tột thì không có việc ấy.” Lúc ấy có vô số chúng sinh đang theo Bồ-tát thừa. Nghe lời người ấy nói, họ rất vui mừng và thường thích lắng nghe, thọ trì, đọc tụng Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thông suốt hoàn toàn, tư duy đúng lý, siêng năng tu hành, giảng nói cho người khác nghe, biên chép, truyền bá để hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát ấy không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào ỷ vào công đức thiện căn của mình khinh chê các vị Bồ-tát khác và nói rằng: “Ta có thể tu hành Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa còn các ông không thể; ta có thể an trú vào pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh còn các ông không thể; ta có thể an trú vào chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn còn các ông không thể; ta có thể an trú vào Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo còn các ông không thể; ta có thể tu hành bốn Niệm trụ cho đến tám chi hánh đạo còn các ông không thể; ta có thể tu hành bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc còn các ông không thể; ta có thể tu hành tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ còn các ông không thể; ta có thể tu hành pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện còn các ông không thể; ta có thể tu hành bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân còn các ông không thể; ta có thể tu hành bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai còn các ông không thể; ta có thể tu hành năm loại mắt, sáu phép thần thông còn các ông không thể; ta có thể tu hành mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật
bất cộng còn các ông không thể; ta có thể tu hành pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả còn các ông không thể; ta có thể tu trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng còn các ông không thể; ta có thể đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật còn các ông không thể; ta có thể quán các chi duyên khởi theo chiều thuận nghịch còn các ông không thể; ta có thể quán tự tướng, cộng tướng còn các ông không thể; ta có thể tu tập tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa còn các ông không thể; ta có thể tu tập tất cả các hạnh của Đại Bồ-tát và quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật còn các ông không thể.” Khi ấy ác ma vui mừng tột độ nói rằng: “Đại Bồ-tát này là bạn của ta, chưa biết lúc nào mới thoát khỏi sinh tử luân hồi.” Lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát này bị ác ma làm não loạn.
Đại Bồ-tát nào không ỷ vào công đức thiện căn của mình, không khinh chê các Đại Bồ-tát khác, tuy thường siêng năng tu các pháp lành nhưng không chấp trước vào tướng các pháp lành, thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát ấy không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào ỷ tên họ mình được mọi người biết nên khinh chê các Bồ-tát tu thiện khác, thường ca ngợi đức hạnh của mình và chê bai lỗi lầm của người khác, thật không có hành vi, tướng trạng của Đại Bồ-tát không thoái chuyển mà cho là thật có, phát sinh các phiền não, khen mình chê người nói rằng: “Các ông không có danh hiệu của Bồ-tát, chỉ riêng tôi có danh hiệu của Bồ-tát.” Do tâm tăng thượng mạn, vị ấy khinh chê, hủy báng các vị Đại Bồ-tát khác.
Sau khi thấy việc ấy, ác ma liền nghĩ rằng: “Bồ-tát này làm cho cung điện trong nước ta không bị trống không, làm tăng thêm cõi địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ.” Khi ấy, ác ma dùng thần lực, giúp cho người ấy tăng thêm oai thế, tài năng. Do đó nhiều người tin tưởng lời nói của người ấy. Vì vậy người ấy khuyến khích họ cùng phát sinh ác kiến. Sau khi có cùng ác kiến rồi họ liền theo người ấy học tà pháp. Sau khi họ học tà pháp, phiền não càng tăng thêm. Do tâm điên đảo, các nghiệp phát sinh từ thân, khẩu, ý của họ đều có thể chiêu cảm quả khổ suy tổn không đáng ưa thích. Vì lý do này cảnh giới địa
ngục, ngạ quỷ, súc sinh được tăng thêm, cung điện, cõi nước của ma đầy dẫy. Do đó ác ma vui mừng tột độ và làm mọi việc mọi cách tự tại như ý. Lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát này bị ác ma làm não loạn.
Đại Bồ-tát không ỷ mình có danh tiếng hư vọng nên không khinh chê các Bồ-tát tu thiện khác, không phát sinh tăng thượng mạn đối với các công đức của mình thường không tự khen mình cũng chẳng chê người khác và có thể biết rõ các việc của ác ma thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát đó không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào chê bai, hủy báng, đấu tranh với người cầu Thanh văn, Độc giác thừa, làm cho ác ma thấy việc đó liền nghĩ rằng: “Nay Đại Bồ-tát này xa lìa quả vị Giác ngộ cao tột, gần gũi cảnh giới địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Vì sao vậy? Bởi vì chê bai hủy báng, đấu tranh lẫn nhau chẳng phải là đạo Bồ-đề, chỉ là những con đường hiểm ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.” Sau khi nghĩ xong, ác ma vui mừng cực độ, làm cho oai lực của Bồ-tát này tăng thêm, khiến cho vô số người tăng thêm nghiệp ác thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát này ác ma làm não loạn.
Đại Bồ-tát nào không chê bai, hủy báng, đấu tranh với người cầu Thanh văn, Độc giác, tìm cách dẫn dắt làm cho họ hướng về Đại thừa, hoặc làm cho họ siêng năng tu pháp lành của thừa mình, thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát đó không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào đấu tranh, chê bai bài báng lẫn nhau cùng với Bồ-tát cầu quả vị Giác ngộ cao tột nhẫn nhục, nhu hòa. Thấy việc này ác ma liền nghĩ rằng: “Hai Bồ-tát này đều xa lìa trí Nhất thiết trí mà họ mong cầu, đều gần các đường hiểm ác địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, A-tố-lạc… Vì sao vậy? Bởi vì việc đấu tranh, chê bai hủy báng lẫn nhau chẳng phải là đạo Bồ-đề mà chỉ là con đường hiểm ác hướng đến địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, A-tố-lạc…” Sau khi nghĩ điều này, ác ma vui mừng tột độ, làm tăng thêm oai đức của họ, khiến cho hai nhóm đó đấu tranh không dứt thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát này bị ác ma làm não loạn.
Đại Bồ-tát nào không cùng với các Bồ-tát cầu quả vị Giác ngộ
cao tột đấu tranh, phỉ báng, khinh chê lẫn nhau mà chỉ khuyên răn thúc đẩy lẫn nhau tu hạnh thù thắng để mau hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột thì lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát không bị ác ma làm não loạn.
Lại nữa Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào chưa được thọ ký quả vị Giác ngộ cao tột lại sinh tâm giận hờn, đấu tranh, khinh chê nhục mạ, phỉ báng các Đại Bồ-tát đã được thọ ký quả vị Giác ngộ cao tột. Tùy theo Đại Bồ-tát này đã phát sinh bao nhiêu tâm niệm không tốt đẹp thì bị mất bấy nhiêu kiếp đã từng tu các hạnh thù thắng, trải qua bấy nhiêu thời gian xa lìa bạn lành, lại nhận lấy bấy nhiêu sự trói buộc sinh tử. Nếu không xả bỏ tâm đại Bồ-đề trải qua bấy nhiêu kiếp mặc áo giáp nhẫn nại, siêng năng tu thắng hạnh không ngừng nghĩ thì sau đó mới bù đắp lại công đức đã bị mất.
Bấy giờ, Khánh Hỷ bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Đại Bồ-tát ấy phát sinh tâm ác, mắc tội khổ sinh tử phải trôi lăn suốt bấy nhiêu kiếp hay ở giữa chừng cũng có thể ra khỏi? Đại Bồ-tát này đã từng thoái lui thắng hạnh, cần phải siêng năng bao nhiêu kiếp sau đó mới phục hồi lại công đức hay ở giữa chừng cũng có thể phục hồi được?
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Ta vì Bồ-tát, Độc giác, Thanh văn mà nói có xuất tội và bù đắp lại pháp lành. Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát nào chưa được thọ ký quả vị Giác ngộ cao tột lại sinh giận hờn, đấu tranh, khinh chê, nhục mạ, hủy báng, về sau không có hổ thẹn ôm lòng ác không bỏ, không chịu phát lồ sám hối đúng pháp thì Ta nói các hạng ấy ở giữa chừng không thể hết tội và không phục hồi pháp lành lại được. Người ấy phải lưu chuyển sinh tử trong bấy nhiêu kiếp, xa lìa bạn lành, bị khổ não trói buộc. Nếu không xả bỏ tâm đại Bồ-đề trải qua bấy nhiêu kiếp mặc áo giáp nhẫn nại, siêng năng tu thắng hạnh không có gián đoạn thì sau đó mới có thể phục hồi lại công đức đã mất.
Nếu Đại Bồ-tát chưa được thọ ký quả vị Giác ngộ cao tột lại sinh giận hờn, đấu tranh, khinh chê, nhục mạ, hủy báng các vị Đại Bồ-tát đã được thọ ký quả vị Giác ngộ cao tột; về sau người ấy hổ thẹn, không còn bị lệ thuộc vào việc ác, tìm cách phát lồ, sám hối như pháp và nghĩ rằng: “Ta đã được thân người là thứ khó được, vì
sao lại phát sinh tội ác như vậy làm mất đi lợi ích lớn. Ta cần phải làm lợi ích cho tất cả hữu tình cớ sao lại làm tổn hại họ. Ta cần phải cung kính tất cả hữu tình như bề tôi thờ chủ cớ sao lại kiêu mạn nhục mạ, khinh chê lấn lướt họ. Ta cần phải chịu đựng cho tất cả hữu tình đánh đập, quở trách cớ sao lại dùng thân miệng bạo ác để báo đáp họ. Ta cần phải hòa giải tất cả hữu tình giúp họ thương yêu kính trọng lẫn nhau cớ sao lại nói lời bạo ác, tranh đấu với họ. Ta phải chịu đựng cho tất cả hữu tình giẫm đạp trong một thời gian dài giống như đường sá, hoặc như cầu cống cớ sao lại lấn lướt, nhục mạ họ. Ta cầu quả vị Giác ngộ cao tột vì muốn cứu vớt hữu tình ra khỏi nỗi khổ sinh tử, giúp họ đạt được Niết-bàn hoàn toàn an lạc cớ sao lại làm họ thêm đau khổ. Từ nay về sau ta phải như người ngu, như câm, như điếc, như đui, không sinh tâm phân biệt đối với các hữu tình. Giả sử bị chém đứt đầu, chân, tay, cánh tay, bị móc mắt, xẻo tai, cắt mũi, hớt lưỡi và tất cả các phần khác của thân thể ta quyết không gây ác đối với các hữu tình. Nếu ta gây ác thì liền hư mất tâm Vô thượng Chánh đẳng giác đã phát sinh, làm chướng ngại trí Nhất thiết trí mà ta mong cầu, không thể làm cho hữu tình được lợi ích, an lạc.” Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát này theo Ta có thể hết tội và phục hồi công đức ở giữa chừng chẳng cần phải trải qua bấy nhiêu kiếp trôi lăn sinh tử. Người ấy không bị ác ma làm não loạn và mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Lại nữa Khánh Hỷ, các thiện nam, thiện nữ sống theo Bồ-tát thừa không nên giao thiệp với người cầu quả Thanh văn, Độc giác. Giả sử giao thiệp với họ thì không được cùng với họ ở chung, giả sử ở chung với họ thì không nên cùng họ luận bàn, quyết định. Vì sao vậy? Nếu luận bàn, quyết định với họ thì hoặc là ta sẽ sinh tâm giận dữ, hoặc là nói lời thô ác. Nhưng đối với các hữu tình, các Bồ-tát không nên tức giận hoặc nói lời thô ác. Giả sử bị cắt chặt đầu, chân và các phần của thân ta cũng không nên nổi giận và nói lời hung ác. Vì sao vậy? Bởi vì các Đại Bồ-tát nên nghĩ rằng: “Ta cầu quả vị Giác ngộ cao tột là để cứu hữu tình thoát khỏi nỗi khổ sinh tử làm cho họ được hoàn toàn lợi ích an lạc chớ đâu phải để tạo việc ác đối với họ.”
Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát nào giận dữ, nói lời thô ác đối với các hữu tình liền chướng ngại quả vị Giác ngộ cao tột và phá hoại vô
số pháp hành của Bồ-tát. Vì vậy, Đại Bồ-tát nào muốn chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột thì không nên giận dữ và nói lời thô ác đối với các hữu tình.
Cụ thọ Khánh Hỷ thưa:
–Bạch Đức Thế Tôn, các vị Đại Bồ-tát cùng với các Đại Bồ-tát sống chung thế nào?
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Các vị Đại Bồ-tát phải coi các vị Đại Bồ-tát sống chung với mình giống như Đại sư. Vì sao vậy? Khi chăm sĩc lẫn nhau các Bồ-tát này nên nghĩ rằng: “Họ đều là thiện tri thức chân chánh của ta, làm bạn với ta, cùng ta đi chung một thuyền, cùng học một nơi, một lúc và một pháp, lý do học cũng giống nhau. Như người kia nên học Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, ta cũng nên học; như người kia nên học pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, ta cũng nên học; như người kia nên học chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, ta cũng nên học; như người kia nên học Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, ta cũng nên học; như người kia nên học bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, ta cũng nên học; như người kia nên học bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, ta cũng nên học; như người kia nên học tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ, ta cũng nên học; như người kia nên học pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, ta cũng nên học; như người kia nên học bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, ta cũng nên học; như người kia nên học tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, ta cũng nên học; như người kia nên học năm loại mắt, sáu phép thần thông, ta cũng nên học; như người kia nên học mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, ta cũng nên học; như người kia nên học pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, ta cũng nên học; như người kia nên học đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật, ta cũng nên học; như người kia nên học trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng, ta cũng nên học.”
Bồ-tát này cũng nên nghĩ rằng: “Các Bồ-tát ấy nói đạo đại Bồ-đề cho chúng ta nghe tức là bạn lành của ta, cũng là Đạo sư của ta. Nếu Đại Bồ-tát ấy ở trong ý nghĩ tạp nhiễm, xa lìa ý nghĩa tương ưng với trí Nhất thiết trí, ta sẽ không cùng họ học thứ đó. Nếu Đại Bồ-tát
ấy xa lìa ý nghĩa tạp nhiễm, không lìa ý nghĩa tương ưng trí Nhất thiết trí, ta sẽ cùng họ học ở trong đó.”
Khánh Hỷ nên biết, nếu Đại Bồ-tát có thể học như vậy thì tư lương Bồ-đề mau chóng được viên mãn. Lúc học như vậy, Đại Bồ-tát được gọi là đồng học với các vị Đại Bồ-tát.
Phẩm 62: ĐỒNG TÁNH (1)
Khi ấy Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn, thế nào là đồng tánh của Đại Bồ-tát do các Đại Bồ-tát học ở trong đó nên gọi là đồng học?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Pháp không bên trong là đồng tánh của Đại Bồ-tát, pháp không bên ngoài cho đến pháp không không tánh tự tánh là đồng tánh của Đại Bồ-tát, vì các Đại Bồ-tát học ở trong đó nên gọi là đồng học. Do sự đồng học này nên họ mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Lại nữa Thiện Hiện, sắc, tánh không của sắc; thọ, tưởng, hành, thức, tánh không của thọ, tưởng, hành, thức là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Nhãn xứ, tánh không của nhãn xứ cho đến ý xứ, tánh không của ý xứ là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Sắc xứ, tánh không của sắc xứ cho đến pháp xứ, tánh không của pháp xứ là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Nhãn giới, tánh không của nhãn giới cho đến ý giới, tánh không của ý giới là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Sắc giới, tánh không của sắc giới cho đến pháp giới, tánh không của pháp giới là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Nhãn thức giới, tánh không của nhãn thức giới cho đến ý thức giới, tánh không của ý thức giới là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Nhãn xúc, tánh không của nhãn xúc cho đến ý xúc, tánh không của ý xúc là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra, tánh không của các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra, tánh không của các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Địa giới, tánh không của địa giới cho đến thức giới, tánh không của thức giới là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Vô minh, tánh không của vô minh cho đến lão tử, tánh không của lão tử là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Bố thí ba-la-mật-đa, tánh không của Bố thí
ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, tánh không Bát-nhã ba-la-mật-đa là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Pháp không bên trong, tánh không của pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, tánh không của pháp không không tánh tự tánh là đồng tánh của Đại Bồ-tát.
Chân như, tánh không của chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, tánh không của cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Thánh đế khổ, tánh không của Thánh đế khổ, Thánh đế tập, diệt, đạo, tánh không của Thánh đế tập, diệt, đạo là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Bốn Niệm trụ, tánh không của bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, tánh không của tám chi Thánh đạo là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Bốn Tĩnh lự, tánh không của bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, tánh không của bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Tám Giải thoát, tánh không của tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ, tánh không của mười Biến xứ là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Pháp môn giải thoát Không, tánh không của pháp môn giải thoát Không; pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện, tánh không của pháp môn giải thoát Vô tướng, Vô nguyện là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Bậc Tịnh quán, tánh không của bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai, tánh không của bậc Như Lai là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Bậc Cực hỷ, tánh không của bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, tánh không của bậc Pháp vân là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Tất cả pháp môn Đà-la-ni, tánh không của tất cả pháp môn Đà-la-ni; tất cả pháp môn Tam-ma-địa, tánh không của tất cả pháp môn Tam-ma-địa là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Năm loại mắt, tánh không của năm loại mắt; sáu phép thần thông, tánh không của sáu phép thần thông là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Mười lực của Như Lai, tánh không của mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, tánh không của mười tám pháp Phật bất cộng là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Pháp không quên mất, tánh không của pháp không quên mất; tánh luôn luôn xả, tánh không của tánh luôn luôn xả là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Trí Nhất thiết, tánh không của trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng, tánh không của trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Quả Dự lưu, tánh không của quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề, tánh không
của Độc giác Bồ-đề là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Tất cả hạnh của Đại Bồ-tát, tánh không của tất cả hạnh của Đại Bồ-tát là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Quả vị Giác ngộ cao tột của Phật, tánh không của quả vị Giác ngộ cao tột của Phật là đồng tánh của Đại Bồ-tát. Do Đại Bồ-tát trụ ở trong đó để học, nên gọi là đồng học. Do sự đồng học này họ mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Khi ấy, Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu Đại Bồ-tát vì sắc chấm dứt nên học, vì thọ, tưởng, hành, thức chấm dứt nên học là học trí Nhất thiết trí phải không? Vì lìa sắc nên học, vì lìa thọ, tưởng, hành, thức nên học là trí Nhất thiết trí phải không? Vì sắc diệt nên học, vì thọ, tưởng, hành, thức diệt nên học là học trí Nhất thiết trí phải không? Vì sắc không sinh nên học, vì thọ, tưởng, hành, thức không sinh nên học là học trí Nhất thiết trí phải không?
Bạch Thế Tôn, nếu Đại Bồ-tát làm như vậy cho đến vì tất cả hạnh của Đại Bồ-tát chấm dứt nên học, vì quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật chấm dứt nên học là học trí Nhất thiết trí phải không? Vì tất cả hạnh của Đại Bồ-tát lìa nên học, vì quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật lìa nên học là học trí Nhất thiết trí phải không? Vì tất cả hạnh của Đại Bồ-tát diệt nên học, vì quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật diệt nên học là học trí Nhất thiết trí phải không? Vì tất cả hạnh của Đại Bồ-tát không sinh nên học, vì quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật không sinh nên học là học trí Nhất thiết trí phải không?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Như lời ông đã nói, Đại Bồ-tát nào vì sắc chấm dứt, xa lìa, diệt và không sinh nên học là học trí Nhất thiết trí phải không? Vì thọ, tưởng, hành, thức chấm dứt, xa lìa, diệt, không sinh nên học là học trí Nhất thiết trí phải không? Như vậy cho đến vì tất cả hạnh của Đại Bồ-tát chấm dứt, xa lìa, diệt, không sinh nên học là học trí Nhất thiết trí phải không? Vì quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật chấm dứt, xa lìa, diệt, không sinh nên học là học trí Nhất thiết trí phải không?
Này Thiện Hiện, ý ông nghĩ sao? Chân như của sắc có chấm dứt, xa lìa, tiêu diệt, đoạn trừ không? Chân như của thọ, tưởng, hành, thức có chấm dứt, xa lìa, tiêu diệt, đoạn trừ không? Như vậy cho đến chân như của tất cả hạnh Đại Bồ-tát có chấm dứt, xa lìa, tiêu diệt, đoạn trừ
không? Chân như quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật có chấm dứt, xa lìa, tiêu diệt, đoạn trừ không? Thiện Hiện đáp:
–Bạch Thế Tôn, không có! Bạch Thiện Thệ, không có!
Phật bảo Thiện Hiện:
–Đại Bồ-tát nào học như vậy đối với chân như là học trí Nhất thiết trí. Thiện Hiện nên biết, chân như không thể chấm dứt, không thể xa lìa, không thể tiêu diệt, không thể đoạn trừ, không thể chứng đắc, Đại Bồ-tát nào học như vậy đối với chân như là học trí Nhất thiết trí.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc Đại Bồ-tát nào học như vậy là học Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, là học pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, là học chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, là học Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, là học bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, là học bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, là học tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ, là học pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, là học bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, là học tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, là học năm loại mắt, sáu phép thần thông, là học mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, là học pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, là học trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng, là học tất cả hạnh của Đại Bồ-tát, là học quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào học Bố thí ba-la-mật-đa cho đến quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật thì nên biết đó là học trí Nhất thiết trí.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc Đại Bồ-tát nào học như vậy cho đến học tất cả sự rốt ráo ở bờ kia thì tất cả Thiên, Ma và các ngoại đạo không có năng lực hàng phục và vị ấy mau đến địa vị không thoái chuyển của Bồ-tát. Chỗ hành dụng của vị ấy ứng hợp với chỗ mà tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác tổ phụ đã hành dụng ở đó có thể hộ trì Chánh pháp chứ không bị vạn duyên xoay chuyển trở lại, có thể làm việc tác pháp ứng hợp với chỗ thành thục tất cả hữu tình, khéo léo trang nghiêm cõi Phật của mình; đó là khéo léo tu học đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả và vô số Phật pháp khác.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào học như thế là học ba lần chuyển vận mười hai hành tướng của bánh xe pháp vô lượng, là học cách an tâm trăm ngàn, trăm ức, muôn ức chúng sinh làm cho họ nhập Niết-bàn ở cõi Vô dư y Niết-bàn, là học diệu hạnh Phật chủng thường còn là học mở cửa cam lồ của chư Phật, là học an lập vô lượng, vô số, vô biên hữu tình giúp họ đứng vững nơi pháp Tam thừa, là học thị hiện cho tất cả hữu tình thấy cảnh giới vô vi chân thật hoàn toàn vắng lặng, đó là tu học trí Nhất thiết trí. Đối với việc học như thế thì các hữu tình căn tánh chậm lụt không thể học được. Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào muốn cứu vớt tất cả hữu tình ra khỏi nỗi khổ lớn sinh tử thì nên học như vậy.
Lại nữa Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào học như vậy thì quyết định không đọa vào cảnh giới địa ngục, bàng sinh, diệm-ma, ngạ quỷ, chắc chắn không sinh biên địa hạ tiện, chắc chắn không sinh vào nhà Chiên-đà-la, nhà đồ tể và những nhà bần cùng hạ tiện không tuân theo giới luật, quyết không đui, điếc, câm, ngọng, cùi tay, què chân, các căn và tay chân bị tàn tật, thiếu hụt, lưng gù, điên cuồng, ung thư, hủi lát, bệnh tró, ghẻ dữ… không có quá cao hoặc thấp cũng không đen cháy, không bị các thứ bệnh ghẻ dơ bẩn.
Lại nữa Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào học như vậy đời đời thường có đầy đủ quyến thuộc, hình dạng xinh đẹp, nói năng oai nghiêm, được mọi người kính yêu, nơi mà họ sinh không có các việc giết hại sinh mạng cho đến tà kiến, trọn không nắm giữ tà pháp hư dối, không dùng tà pháp để tự nuôi sống, cũng không nhận các hữu tình phá giới, ác kiến hủy báng làm bạn thân.
Lại nữa Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào học như thế thì chẳng sinh vào cõi trời Trường thọ là nơi chìm đắm trong các thú vui và ít có trí tuệ. Vì sao vậy? Đó là vì Đại Bồ-tát này thuần thục thế lực phương tiện thiện xảo; do thế lực phương tiện thiện xảo này họ có thể nhập vào các Tĩnh lự, Vô lượng, Định vô sắc nhưng không theo thế lực ấy thọ sinh vào các cõi đó. Do được Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa giữ gìn nên họ thành tựu năng lực phương tiện thiện xảo như vậy, tuy thường đạt được các tầng định nhưng ra vào tự tại và không theo thế lực của các tầng định ấy mà sinh vào cõi trời Trường thọ, phế bỏ việc tu tập các diệu hạnh thù thắng của Bồ-tát.
Lại nữa Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào học như vậy thì đối với mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả và mười tám pháp Phật bất cộng, vô lượng, vô biên diệu pháp của chư Phật đều được thanh tịnh. Nhớ thanh tịnh, họ không bị dừng lại ở địa vị Thanh văn, Độc giác.
Bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu bản tánh tất cả các pháp là thanh tịnh thì các vị Đại Bồ-tát vì sao lại được thanh tịnh đối với diệu pháp của Phật?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Đúng vậy, đúng vậy, như lời ông nói. Tự tánh các pháp xưa nay vốn thanh tịnh. Ở trong tất cả các pháp vốn có thanh tịnh, các vị Đại Bồ-tát siêng năng tu tập Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thông suốt như thật, không chìm đắm, không ngăn ngại, xa lìa tất cả phiền não đắm nhiễm cho nên nói Bồ-tát lại được thanh tịnh.
Lại nữa Thiện Hiện, tuy bản tánh tất cả các pháp là thanh tịnh nhưng kẻ phàm phu ngu si không biết, không hiểu. Vì muốn làm cho họ hiểu biết giác ngộ, nên Đại Bồ-tát này tu hành Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, an trú vào pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, an trú vào chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, an trú vào Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, tu hành bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, tu hành bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, tu hành tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ, tu hành pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, tu hành bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, tu hành năm loại mắt, sáu phép thần thông tu hành mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, tu hành pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, tu hành tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, tu hành trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng.
Đối với tất cả các pháp có bản tánh thanh tịnh, Đại Bồ-tát này học như vậy nên được thanh tịnh đối với mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng và vô lượng, vô biên các Phật pháp khác, không rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác, có thể thông suốt hoàn toàn tâm hạnh khác nhau của các hữu tình, dùng phương tiện thiện xảo giúp cho các hữu tình chứng ngộ được bản tánh các pháp vốn thanh tịnh và chứng đắc được Niết-bàn hoàn toàn an lạc.
Thiện Hiện nên biết, giống như trên mặt đất chỉ có ít chỗ sinh ra vàng bạc, châu báu, mà có nhiều chỗ sinh ra đá, cát, ngói, gạch, các hữu tình cũng như vậy, ít người có thể học Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nghĩa là các Bồ-tát tu theo Đại thừa, phần lớn đều học pháp Thanh văn, Độc giác là người cầu tự lợi thuộc thừa trung và hạ.
Thiện Hiện nên biết, giống như trong cõi người, ít người có thể tu nghiệp Chuyển luân vương, phần lớn đều thực hành nghiệp làm vua nước nhỏ, các loài hữu tình cũng như vậy, ít người có thể tu đạo trí Nhất thiết trí, phần nhiều đều thực hành đạo Thanh văn, Độc giác.
Thiện Hiện nên biết, trong số các Bồ-tát cầu mong hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột, chỉ có ít người chứng quả vị Giác ngộ cao tột còn phần lớn đều rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác.
Thiện Hiện nên biết, chúng sinh nào trụ nơi Bồ-tát thừa, nếu không xa lìa phương tiện thiện xảo Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì chắc chắn đạt được địa vị không thoái chuyển, nếu ai xa lìa phương tiện thiện xảo của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì chắc chắn sẽ bị thoái chuyển quả vị Giác ngộ cao tột. Vì vậy, Đại Bồ-tát nào muốn đạt được địa vị không thoái chuyển, muốn gia nhập vào trong số Bồ-tát không thoái chuyển nên siêng năng tu học Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa không được ngừng nghỉ.
Lại nữa Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào tu học phương tiện thiện xảo Bát-nhã ba-la-mật-đa như vậy thì
trọn đời không phát sinh tâm hành keo kiệt, phá giới, giận hờn, giải đãi, tán loạn, ác tuệ; cũng không phát sinh tâm hành tham dục, giận dữ, ngu si, kiêu mạn; cũng không phát sinh tâm hành phóng dật, nhầm lẫn và các tội lỗi khác; không phát sinh tâm hành chấp trước sắc, thọ, tưởng, hành, thức; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước nhãn xứ cho đến ý xứ; không phát sinh tâm hành chấp trước sắc xứ cho đến pháp xứ; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước nhãn giới cho đến ý giới; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước sắc giới cho đến pháp giới; không phát sinh tâm hành chấp trước nhãn thức giới cho đến ý thức giới; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước nhãn xúc cho đến ý xúc; không phát sinh tâm hành chấp trước các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước địa giới cho đến thức giới; không phát sinh tâm hành chấp trước vô minh
cho đến lão tử; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; không phát sinh tâm hành chấp trước pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; không phát sinh tâm hành chấp trước Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; không phát sinh tâm hành chấp trước tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; không phát sinh tâm hành chấp trước pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai; không phát sinh tâm hành chấp trước bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước năm loại mắt, sáu phép thần thông; không phát sinh tâm hành chấp trước mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ; không phát sinh tâm hành chấp trước pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; không phát sinh tâm hành chấp trước trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề; không phát sinh tâm hành chấp trước tất cả các hạnh của Đại Bồ-tát; cũng không phát sinh tâm hành chấp trước quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật. Vì sao vậy? Đó là vì Đại Bồ-tát này thực hành phương tiện thiện xảo Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, không thấy có pháp nào là pháp có thể nắm bắt được. Do không có chỗ được nên họ không phát sinh tâm hành chấp trước các pháp như sắc…