KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
QUYỂN 486
Phẩm 3: THIỆN HIỆN (5)
Bấy giờ, Thiện Hiện lại bạch Phật rằng:
–Gọi là Đại Bồ-tát, vậy danh từ cú nghĩa của Bồ-tát có ý nghĩa gì?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Không có cú nghĩa là cú nghĩa của Bồ-tát. Vì sao? Thiện Hiện, vì Bồ-đề không sinh, Tát-đỏa chẳng có. Cú nghĩa ở trong lý chẳng thể nắm bắt được ấy, cho nên không có cú nghĩa là cú nghĩa của Bồ-tát.
Thiện Hiện, ví như trong không trung, thật không có dấu chim; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cảnh trong mộng, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như trò ảo thuật, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như quán nắng, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như ảnh trong gương, tiếng vang, hình dạng biến hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng như thế, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa chân như, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như thế, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa pháp giới, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của pháp tánh, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của tánh không hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sinh, pháp định, pháp trụ, thật
tế, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như thế thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của sắc cho đến cú nghĩa thức của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của nhãn xứ cho đến cú nghĩa ý xứ của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của sắc xứ cho đến cú nghĩa pháp xứ của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của nhãn giới cho đến cú nghĩa ý giới của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của sắc giới cho đến cú nghĩa pháp giới của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của nhãn thức giới cho đến cú nghĩa ý thức giới của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của nhãn xúc cho đến cú nghĩa ý xúc của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra cho đến cú nghĩa các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của địa giới cho đến cú nghĩa thức giới của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của vô minh cho đến cú nghĩa lão tử của người huyễn hóa, thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như người huyễn hóa thực hành cú nghĩa của pháp không bên trong cho đến cú nghĩa của pháp không không tánh tự tánh,
thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như người huyễn hóa thực hành cú nghĩa của bốn Niệm trụ cho đến cú nghĩa của mười tám pháp Phật bất cộng thật không sở hữu; cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thì cú nghĩa của sắc tướng cho đến cú nghĩa của thức tướng, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thì cú nghĩa tướng nhãn xứ cho đến cú nghĩa tướng ý xứ, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thì cú nghĩa của tướng sắc xứ cho đến cú nghĩa của tướng pháp xứ, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thì cú nghĩa của tướng nhãn giới cho đến cú nghĩa của tướng ý giới, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thì cú nghĩa của tướng sắc giới cho đến cú nghĩa của tướng pháp giới, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thì cú nghĩa của tướng nhãn thức giới cho đến cú nghĩa của tướng ý thức giới, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thì cú nghĩa của tướng nhãn xúc cho đến cú nghĩa của tướng ý xúc, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thì cú nghĩa của tướng các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra cho đến cú
nghĩa của tướng các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu. Thiện Hiện, ví như Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mà cú nghĩa của tướng địa giới cho đến cú nghĩa của tướng thức giới, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mà cú nghĩa của vô minh cho đến cú nghĩa của lão tử, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mà cú nghĩa của tướng pháp không bên trong cho đến cú nghĩa của tướng pháp không không tánh tự tánh, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, hành cú nghĩa của tướng bốn Niệm trụ cho đến cú nghĩa của tướng mười tám pháp Phật bất cộng, thật cũng không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như trong cảnh giới vô vi, cú nghĩa của cảnh giới hữu vi thật không sở hữu. Trong cảnh giới hữu vi, cú nghĩa của cảnh giới vô vi cũng thật không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của không sinh, không diệt, không tạo tác, không hành động, không thành, không hoại, không được, không bỏ, không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu. Vì sao? Thiện Hiện, ví như sắc cho đến thức, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như nhãn xứ cho đến ý xứ, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như sắc xứ cho đến pháp xứ, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh thật không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như nhãn giới cho đến ý giới, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh thật không sở hữu. Các Đại Bồ-tát khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như sắc giới cho đến pháp giới, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như nhãn thức giới cho đến ý thức giới, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như nhãn xúc cho đến ý xúc, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như địa giới cho đến thức giới, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như vô minh cho đến lão tử mà từ cú nghĩa của
không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như bốn Niệm trụ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, từ cú nghĩa của không sinh, không diệt cho đến cú nghĩa của không nhiễm, không tịnh, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như sắc cho đến thức rốt ráo thanh tịnh, thì cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như nhãn xứ cho đến ý xứ rốt ráo thanh tịnh, thì cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như sắc xứ cho đến pháp xứ rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như nhãn giới cho đến ý giới rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như sắc giới cho đến pháp giới rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như nhãn thức giới cho đến ý thức giới rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-
tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như nhãn xúc cho đến ý xúc rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra, cú nghĩa của các tướng, cũng thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như địa giới cho đến thức giới rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như vô minh cho đến lão tử rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như bốn Niệm trụ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng rốt ráo thanh tịnh, cú nghĩa của các tướng, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như cú nghĩa của ngã cho đến cái thấy trong sự rốt ráo thanh tịnh, cũng thật không sở hữu, vì tánh là chẳng phải có. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như khi mặt trời mọc mà cú nghĩa của sự tối tăm thì thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như khi đại kiếp đã hết mà cú nghĩa của các hành thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu
xa, thì cú nghĩa của Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, cú nghĩa của sự phạm giới trong nhóm tịnh giới, thật không sở hữu; cú nghĩa của sự tán loạn trong nhóm tịnh định, thật không sở hữu; cú nghĩa của ngu si trong nhóm thanh tịnh trí tuệ, thật không sở hữu; cú nghĩa của sự trói buộc trong nhóm giải thoát, thật không sở hữu; cú nghĩa của sự không giải thoát tri kiến, trong nhóm giải thoát tri kiến, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu.
Thiện Hiện, ví như trong các ánh quang minh của mặt trời, mặt trăng, của trời Ba mươi ba, nói rộng cho đến trời Sắc cứu cánh; cú nghĩa về ánh quang minh của Phật, thật không sở hữu. Khi các Đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thì cú nghĩa Bồ-tát cũng lại như vậy, thật không sở hữu. Vì sao? Thiện Hiện, hoặc Bồ-đề hoặc Tát-đỏa, hoặc Bồ-tát, hoặc cú nghĩa Bồ-tát; các pháp như thế đều chẳng phải tương ưng, chẳng phải không tương ưng; nó không màu sắc, không hiểu biết, không đối đãi với một tướng nào, nên được gọi là không tướng. Ở trong tất cả pháp, các Đại Bồ-tát chẳng phải thật có, không chấp trước, không ngăn ngại nên siêng năng tu học thích ứng Chánh giác tri.
Bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, thế nào là tất cả pháp? Tại sao ở trong tất cả pháp, các Đại Bồ-tát chẳng phải thật có, không chấp trước, không ngăn ngại, nên siêng năng tu học thích ứng Chánh giác tri.
Phật bảo Thiện Hiện:
–Tất cả pháp gồm pháp thiện, pháp chẳng phải thiện, pháp hữu ký, pháp vô ký, pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu, pháp vô lậu, pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp cộng, pháp bất cộng. Những pháp như vậy gọi là tất cả pháp. Các Đại Bồ-tát ở trong tất cả pháp như vậy chẳng phải thật có, không chấp trước, không ngăn ngại, nên siêng năng tu học thích ứng Chánh giác tri.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Tại sao gọi là pháp thiện ở thế gian?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, thiện pháp thế gian là hiếu thuận Cha mẹ, cúng dường Sa-môn và Bà-la-môn, tôn kính phụng sự Sư trưởng, hoặc bố
thí bao gồm việc phước nghiệp, hoặc giữ giới bao gồm việc phước nghiệp, hoặc cung cấp giúp đỡ người bệnh gồm cả hạnh phước nghiệp, hoặc phương tiện thiện xảo bao gồm cả hạnh phước nghiệp, hoặc mười nẻo nghiệp thiện của thế gian, hoặc tưởng thấy tử thi trương phình lên, hoặc tưởng tử thi thối rửa, hoặc tưởng tử thi bầm tím, hoặc tưởng tử thi biến ra màu đỏ bầm, hoặc tưởng tử thi bị hủy hoại, hoặc tưởng tử thi bị chim thú ăn nuốt, hoặc tưởng bị tan nát, hoặc tưởng chỉ còn đống xương, hoặc tưởng đống xương đã bị đốt cháy; hoặc bốn loại Thiền định ở thế gian; hoặc bốn tâm vô lượng, bốn Định vô sắc. Hoặc tùy niệm Phật, tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm giới, tùy niệm xả, tùy niệm thiên, tùy niệm hơi thở vào, hơi thở ra, tùy niệm sự vắng lặng, tùy niệm thân, tùy niệm chết. Những pháp này gọi là thiện pháp thế gian.
Cụ thọ Thiện Hiện lại hỏi Phật:
–Tại sao gọi là pháp chẳng thiện?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, pháp chẳng thiện là giết hại sinh mạng, hoặc lấy của không cho, hoặc hành tà dâm, hoặc nói lời dối gạt, hoặc nói lời thô ác, hoặc nói gây chia rẽ, hoặc nói lời tạp thoại bậy bạ, hoặc tham lam, hoặc giận dữ, hoặc tà kiến, hoặc tức giận, hoặc hại, hoặc ganh, hoặc keo bẩn. Những pháp như thế gọi là pháp chẳng thiện.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, tại sao gọi là pháp hữu ký?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, tất cả pháp thiện và pháp bất thiện gọi là pháp hữu ký.
Cụ thọ Thiện Hiện lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì sao gọi là pháp vô ký?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, hoặc thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp vô ký, hoặc bốn đại chủng vô ký; hoặc năm căn vô ký; hoặc sáu xứ vô ký; hoặc vô sắc, các uẩn giới xứ vô ký; hoặc quả Dị thục vô ký. Tất cả như thế gọi là pháp vô ký.
Cụ thọ Thiện Hiện lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn, sao gọi là pháp thế gian?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, pháp thế gian là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, mười nẻo nghiệp thiện, bốn Tĩnh lự, bốn tâm vô lượng, bốn Định vô sắc, mười hai duyên khởi. Tất cả những pháp như vậy gọi là pháp thế gian.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, sao gọi là pháp xuất thế gian?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, là ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề, ba pháp môn giải thoát, hoặc vị tri căn, đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn. Hoặc Tam-ma-địa có tầm, có tứ; hoặc Tam-ma-địa không tầm, có tứ; hoặc Tam-ma-địa không tầm, không tứ. Hoặc minh giải thoát, hoặc niệm chánh tri, hoặc như lý tác ý, hoặc tám Giải thoát, hoặc chín Định thứ đệ, hoặc pháp không bên trong, không bên ngoài, không cả trong ngoài, không không, không lớn, không thắng nghĩa, không hữu vi, không vô vi, không rốt ráo, không không biên giới, không tản mạn, không bản tánh, không tự tướng, không nơi tất cả pháp, không không tánh, không không tánh tự tánh. Hoặc mười lực của Như Lai, bốn điều không sợ, mười tám pháp Phật bất cộng; tất cả như vậy gọi là pháp xuất thế gian.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là pháp hữu lậu?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Nghĩa là thâu nhiếp hết ba cõi; hoặc thâu nhiếp năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, hoặc thâu nhiếp bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc. Các pháp như vậy gọi là pháp hữu lậu.
Cụ thọ Thiện Hiện lại hỏi Phật:
–Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là pháp vô lậu?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, nghĩa là ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề rộng nói cho đến mười lực của Như Lai, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng. Tất cả như vậy gọi là pháp vô lậu.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, sao gọi là pháp hữu vi?
Phật bảo:
–Nếu pháp có sinh, trụ, dị, diệt; hoặc thuộc về ba cõi, hoặc pháp ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề, rộng nói cho đến mười lực của Như Lai đến bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng. Tất cả những pháp này gọi là pháp hữu vi.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là pháp vô vi?
Phật bảo Thiện Hiện rằng:
–Hoặc pháp không sinh, trụ, dị, diệt; hoặc chấm dứt tham, sân, si; hoặc chân như, pháp giới, pháp tánh, tánh không hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sinh, pháp định, pháp trụ, thật tế. Tất cả những pháp này gọi là pháp vô vi.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là cộng pháp?
Phật dạy Thiện Hiện:
–Nghĩa là bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng và bốn Định vô sắc của thế gian. Tất cả những pháp như thế gọi là cộng pháp.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là bất cộng pháp?
Phật dạy Thiện Hiện:
–Ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề, ba pháp môn giải thoát, nói rộng cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, tất cả như thế gọi là bất cộng pháp. Đối với pháp, tự tướng rỗng không tất cả đều như vậy, các Đại Bồ-tát không nên chấp trước, vì tất cả pháp không có phân biệt. Đối với tất cả pháp, các Đại Bồ-tát nên dùng pháp “không hai” để làm phương tiện như thật giác tri, vì tất cả pháp không lay động. Thiện Hiện nên biết, đối với tất cả pháp không hai, không lay động, không có phân biệt, không chấp trước, đây là cú nghĩa của Bồ-tát. Vì thế nên không cú nghĩa là cú nghĩa của Bồ-tát vậy.
Bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì sao gọi Bồ-tát là Ma-ha-tát?
Phật bảo Thiện Hiện:
–ở trong chúng Đại hữu tình, các Bồ-tát này là bậc Thượng thủ nên gọi Bồ-tát là Ma-ha-tát.
Cụ thọ Thiện Hiện thưa với Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, vì sao gọi là chúng đại hữu tình mà Bồ-tát là bậc Thượng thủ trong đó?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, hoặc bậc Chủng tánh, hoặc bậc Đệ bát, hoặc Dự lưu, hoặc Nhất lai, hoặc Bất hoàn, hoặc A-la-hán, hoặc Độc giác, hoặc mới phát tâm, lần lượt cho đến địa vị không thoái chuyển. Các Đại Bồ-tát như thế đều gọi là chúng đại hữu tình. Vì Bồ-tát là Thượng thủ ở trong đó, nên gọi là Ma-ha-tát. Nghĩa là các Bồ-tát đã phát tâm kiên cố như kim cang, quyết định không hủy hoại và thoái lui, vì vậy nên có thể làm Thượng thủ đối với chúng đại hữu tình.
Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, sao gọi là tâm kiên cố như kim cang?
Phật dạy:
–Thiện Hiện, nếu Đại Bồ-tát phát tâm như thế này: Ta phải mặc áo giáp công đức lớn ở giữa cánh đồng rộng lớn, mênh mông sinh tử, vì các hữu tình, phá giặc phiền não. Ta phải vì khắp tất cả hữu tình làm khô cạn biển lớn sinh tử vô biên. Ta phải xả bỏ tất cả sở hữu để vì các hữu tình mà làm lợi ích lớn. Ta phải bình đẳng đem lại lợi ích an vui cho tất cả hữu tình, tâm không phe đảng và thiên lệch. Ta phải làm cho khắp các loài hữu tình, đi theo đường Tam thừa, để đến thành Niết-bàn. Ta phải đem Tam thừa cứu độ tất cả hữu tình nhưng Ta chẳng hề thấy có một hữu tình nào đắc quả Niết-bàn. Ta phải giác ngộ rõ ràng tánh của pháp không nhiễm, không tịnh, không sinh, không diệt. Ta phải đem toàn những tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí để tu hành từ Bố thí cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa. Ta phải siêng năng học để thâm nhập vào cửa trí vi diệu, thông suốt tất cả một cách rốt ráo. Ta phải thông suốt tất cả pháp tướng môn một lý thú. Ta phải thông suốt tất cả pháp tướng môn hai lý thú. Ta phải thông suốt tất cả pháp tướng môn nhiều lý thú, không còn chỗ nào để chấp trước. Ta phải tu học các môn diệu trí, thông suốt các pháp tánh dẫn đến công đức thù thắng.
Thiện Hiện, đây chính là Bồ-tát đã phát tâm kiên cố như kim cang. Nếu Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện, an trụ tâm này thì chắc chắn sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khởi tâm như vầy: Tất cả
các loài hữu tình trong tất cả các cảnh giới địa ngục, bàng sinh, ngạ quỷ và người, trời chịu các khổ não. Ta sẽ thay họ lãnh chịu đau khổ để họ được an vui. Hoặc các Đại Bồ-tát khởi tâm như vầy: Ta vì lợi ích tất cả hữu tình nên trải qua vô lượng trăm ngàn muốn ức kiếp, chịu các thứ khổ nặng nề nơi địa ngục lớn và dùng vô số phương tiện giáo hóa khiến họ chứng được Vô dư Niết-bàn. Cứ lần lượt như thế, khắp vì lợi ích của tất cả hữu tình. Vì họ mỗi mỗi đều trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức kiếp, chịu các thứ khổ nặng nề nơi địa ngục lớn nên mỗi mỗi ta đều dùng vô số phương tiện giáo hóa, khiến họ đạt được Vô dư Niết-bàn. Làm việc này là đã tự gieo trồng căn lành. Lại trải qua vô lượng trăm ngàn muôn ức kiếp, viên mãn sự tu tập nhóm tư lương Bồ-đề, sau đó mới chứng quả vị Giác ngộ cao tột đã mong cầu.
Thiện Hiện, thệ nguyện rộng lớn như vậy gọi là sự phát tâm kiên cố như kim cang của Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện, an trụ tâm này, thì nhất định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát thường phát khởi tâm rộng lớn. Nhờ tâm này, nên quyết định có thể làm bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình. Tâm rộng lớn của Bồ-tát ở đây, nghĩa là các Bồ-tát sinh tâm như vầy: Ta từ khi mới phát tâm đại Bồ-đề cho đến khi đạt được trí Nhất thiết trí nhất định sẽ không khởi tâm tham dục, sân giận, ngu si, phẫn nộ, ganh ghét, tà kiến và khinh mạn… cũng nhất định không khởi tâm hướng tới mong cầu địa vị Thanh văn và Độc giác. Đây là tâm rộng lớn của Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện, an trụ tâm này, thì quyết định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng Đại hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát thường hay phát tâm không khuynh động. Nhờ phát tâm này, nên quyết định có thể làm bậc Thượng thủ trong chúng Đại hữu tình. Ở đây, thế nào là tâm không khuynh động? Nghĩa là các Bồ-tát phát tâm như vầy: Ta phải thường dựa vào tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí, để tu tập và phát khởi tất cả sự nghiệp mà ta đã tu, đã dựng nên mà không kiêu ngạo. Đây gọi là tâm không khuynh động của Bồ-tát. Nếu các Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện, an trụ tâm này, thì quyết định sẽ là bậc
Thượng thủ trong chúng đại hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát bình đẳng phát tâm làm lợi ích an vui cho các hữu tình. Do phát tâm này, nên quyết định sẽ thường là bậc Thượng thủ trong chúng Đại hữu tình. Trong đây nói tâm lợi ích an vui của Bồ-tát; nghĩa là các Bồ-tát sinh tâm như vầy: Cho đến tận cùng đời vị lai, ta quyết định phải làm lợi ích an vui cho tất cả hữu tình, vì họ mà làm chỗ quay về nương tựa, làm hòn đảo, làm nhà cửa, thường không lìa bỏ họ. Đó là tâm lợi ích an vui của Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện, an trụ tâm này thì quyết định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát thường siêng năng tinh tấn ái pháp, nhạo pháp, hân pháp, hỷ pháp. Do yếu tố này, nên quyết định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình. Trong đây, pháp là tất cả pháp, không có tính sai khác, đó gọi là pháp. Nói ái pháp nghĩa là có ý muốn mong cầu pháp này. Nói nhạo pháp nghĩa là ca ngợi, tán thán công đức của pháp ấy. Nói hân pháp, nghĩa là hoan hỷ, tin nhận pháp ấy. Nói hỷ pháp, nghĩa là ưa muốn, tu tập thật nhiều đối với pháp ấy. Nếu Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện, thường ái, nhạo, hân, hỷ, pháp, không phân biệt, không chấp trước, thì quyết định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, Bồ-tát nào khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, dùng vô sở đắc làm phương tiện, an trú pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh thì Bồ-tát ấy quyết định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, dùng vô sở đắc làm phương tiện, tu ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề nói rộng đến mười lực của Như Lai, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng, thì Bồ-tát ấy quyết định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng Đại hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, dùng vô sở đắc làm phương tiện, trụ Tam-ma-địa như kim cang cho đến trụ Tam-ma-địa vô trước, vô vi, vô nhiễm giải thoát như hư không; thì Đại Bồ-tát ấy quyết định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình. Thiện Hiện nên biết, các Đại Bồ-tát an trụ những thắng pháp vi diệu này khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, quyết
định sẽ là bậc Thượng thủ trong chúng đại hữu tình. Vì thế nên gọi Bồ-tát là Ma-ha-tát.
Bấy giờ, Cụ thọ Xá-lợi Tử bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, con đã dùng biện tài muốn thuyết về Bồ-tát, do nghĩa này nên gọi là Ma-ha-tát, cúi xin Ngài cho phép.
Phật bảo Xá-lợi Tử:
–Tùy ý ông thuyết. Xá-lợi Tử thưa:
–Bạch Thế Tôn, vì các Bồ-tát có phương tiện thiện xảo nên có thể vì hữu tình tuyên thuyết giáo pháp, khiến họ đoạn trừ kiến chấp về ngã, kiến chấp về hữu tình, cho đến kiến chấp về cái biết, kiến chấp về cái thấy, khiến họ đoạn trừ kiến chấp thường, kiến chấp đoạn, kiến chấp hữu, kiến chấp vô, kiến chấp uẩn, xứ, giới, kiến chấp về các Thánh đế kiến và kiến chấp về duyên khởi; khiến họ đoạn trừ kiến chấp về ba mươi bảy pháp Bồ-đề, nói rộng cho đến kiến chấp về mười tám pháp Phật bất cộng, kiến chấp về việc đem lại sự thành tựu cho hữu tình, kiến chấp về sự làm nghiêm tịnh cõi Phật, kiến chấp về Bồ-tát, kiến chấp về Như Lai, kiến chấp về Bồ-đề, kiến chấp về Niết-bàn, kiến chấp về chuyển pháp luân. Vì các Bồ-tát có phương tiện thiện xảo, dùng vô sở đắc làm phương tiện, vì các hữu tình tuyên thuyết giáo pháp, khiến họ đoạn trừ vĩnh viễn tất cả những pháp kiến này. Dựa vào nghĩa này gọi là Ma-ha-tát.
Bấy giờ, Thiện Hiện bèn hỏi Cụ thọ Xá-lợi Tử rằng:
–Nếu Đại Bồ-tát thường vì hữu tình dùng vô sở đắc làm phương tiện, tuyên thuyết giáo pháp để vĩnh viễn chấm dứt các kiến chấp; thì lý do gì lại thấy có sở đắc làm phương tiện khởi lên các kiến uẩn?
Xá-lợi Tử nói:
–Khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nếu các Đại Bồ-tát không có phương tiện thiện xảo, dùng hữu sở đắc làm phương tiện khởi lên các uẩn, thì các Đại Bồ-tát ấy không có phương tiện thiện xảo nên quyết định không thể vì hữu tình dùng vô sở đắc làm phương tiện, tuyên thuyết giáo pháp vĩnh viễn chấm dứt các kiến chấp. Khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát nào có phương tiện thiện xảo, vì hữu tình dùng vô sở đắc làm phương tiện, tuyên thuyết giáo pháp vĩnh viễn chấm dứt các kiến chấp, thì Bồ-tát ấy quyết định
không khởi lên các kiến và uẩn…
Bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, con đã dùng sự biện tài để nói về Bồ-tát, do nghĩa này nên gọi là Ma-ha-tát, cúi xin Ngài cho phép. Phật bảo Thiện Hiện: –Tùy ý ông nói. Thiện Hiện thưa rằng: –Bạch Thế Tôn, vì các Bồ-tát muốn chứng được trí Nhất thiết trí, phát tâm Bồ-đề, tâm không gì sánh bằng, tâm không cùng với Thanh văn, Độc giác… nhưng không chấp trước các tâm này. Do nghĩa như vậy, nên gọi là Ma-ha-tát. Vì sao? Vì tâm của trí Nhất thiết trí là chân vô lậu, không đọa vào ba cõi. Tâm cầu trí Nhất thiết trí cũng là chân vô lậu, không đọa vào ba cõi, đối với tâm này không nên chấp trước, vì thế Bồ-tát được gọi là Ma-ha-tát.
Khi ấy, Xá-lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng:
–Thế nào là tâm không gì sánh bằng của Đại Bồ-tát, tâm không cùng Thanh văn, Độc giác của Đại Bồ-tát?
Thiện Hiện đáp:
–Từ khi mới phát tâm, các Đại Bồ-tát không thấy chút pháp nào có sinh, có diệt, có tăng, có giảm, có đến, có đi, có nhiễm, có tịnh. Nếu không thấy pháp có sinh, có diệt, có tăng, có giảm, có đến, có đi, có nhiễm, có tịnh, cũng không thấy có tâm Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát…, thì gọi là tâm không gì sánh bằng, tâm không cùng Thanh văn, Độc giác… của các Đại Bồ-tát. Đối với những tâm này, các Đại Bồ-tát cũng chẳng chấp trước.
Khi ấy, Xá-lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng:
–Nếu Đại Bồ-tát không chấp trước những tâm như vậy, thì cũng không nên chấp trước tâm Thanh văn, Độc giác và tâm của tất cả uẩn, xứ, giới, bốn Niệm trụ, rộng nói cho đến tâm của mười tám pháp Phật bất cộng cũng không nên chấp trước. Vì sao? Vì các tâm như thế không có tâm tánh?
Thiện Hiện đáp:
–Đúng vậy, đúng vậy!
Khi ấy, Xá-lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng:
–Nếu tất cả tâm không có tâm tánh, nên không chấp trước thì
uẩn, xứ, giới… rộng nói cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, cũng không tánh nên không chấp trước ư?
Thiện Hiện đáp:
–Đúng vậy, đúng vậy!
Xá-lợi Tử nói:
–Nếu tâm của trí Nhất thiết trí là chân vô lậu, không đọa vào ba cõi; thì tâm của các phàm phu ngu si, của Thanh văn và Độc giác cũng chính là chân vô lậu, không đọa vào ba cõi. Vì sao? Vì bản tánh của các tâm như vậy đều là không?
Thiện Hiện đáp rằng:
–Đúng vậy, đúng vậy!
Xá-lợi Tử nói:
–Nếu vì bản tánh của tâm này là không, là chân vô lậu, không đọa vào ba cõi, thì uẩn, xứ, giới… rộng nói cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, cũng chính là chân vô lậu, không đọa vào ba cõi. Vì sao? Vì uẩn, xứ, giới… bản tánh chúng đều là không?
Thiện Hiện đáp:
–Đúng vậy, đúng vậy!
Xá-lợi Tử nói:
–Nếu vì pháp tâm và sắc… tánh của nó là vô tâm sắc nên không được chấp trước, thì tất cả pháp đều bình đẳng, không sai khác?
Thiện Hiện đáp rằng:
–Đúng vậy, đúng vậy!
Xá-lợi Tử nói:
–Nếu tất cả pháp đều bình đẳng, không sai khác. Tại sao Như Lai nói tâm sắc… có các loại khác nhau?
Thiện Hiện đáp rằng: –Đó là Như Lai tùy theo thế tục mà nói, chẳng phải tùy theo thắng nghĩa.
Xá-lợi Tử nói:
–Nếu pháp tâm, sắc… của các phàm phu, Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát, Phật đều là Chân vô lậu, không đọa vào ba cõi, thì các phàm phu, Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát, Phật không có sai khác ư?
Thiện Hiện đáp:
–Đúng vậy, đúng vậy!
Xá-lợi Tử nói:
–Nếu các phàm phu, Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát, Phật không sai khác thì tại sao Phật nói có phàm thánh, lớn nhỏ, khác nhau?
Thiện Hiện đáp rằng:
–Đây là Như Lai dựa vào thế tục mà nói, chứ không dựa vào thắng nghĩa. Xá-lợi Tử, khi hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện, nên không chấp trước những tâm đã khởi, như tâm Bồ-đề, tâm không gì sánh bằng, tâm không cùng với Thanh văn, Độc giác… Đối với uẩn, xứ, giới… rộng nói cho đến mười tám pháp Phật bất cộng đều không giữ lấy, không chấp trước. Dựa vào nghĩa này mà gọi là Ma-ha-tát.
Bấy giờ, Cụ thọ Mãn Từ Tử bạch Phật rằng:
–Bạch Thế Tôn, con muốn dùng biện tài nói về Bồ-tát. Do ý nghĩa này mà Bồ-tát được gọi là Ma-ha-tát, cúi xin Ngài cho phép. Phật bảo Mãn Từ Tử: –Thầy cứ nói.
Mãn Từ Tử nói:
–Vì các Bồ-tát làm lợi ích an vui cho tất cả hữu tình nên mặc áo giáp đại công đức, vì hướng về quả Đại thừa, vì nương vào Đại thừa nên gọi là Ma-ha-tát.
Khi ấy, Xá-lợi Tử hỏi Mãn Từ Tử rằng:
–Thế nào là Đại Bồ-tát vì lợi ích an vui của tất cả hữu tình mà khoác áo giáp đại công đức?
Mãn Từ Tử đáp:
–Khi tu hành Bố thí ba-la-mật-đa, các Đại Bồ-tát không vì lợi ích an vui cho một nhóm hữu tình nào, mà vì lợi lạc của tất cả hữu tình. Khi tu hành Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa, Bồ-tát cũng đều vì như vậy. Xá-lợi Tử, đó là Đại Bồ-tát vì lợi lạc của tất cả hữu tình mà mặc áo giáp đại công đức.
Lại nữa Xá-lợi Tử, các Đại Bồ-tát mặc áo giáp đại công đức làm lợi lạc hữu tình, không bị giới hạn, không nghĩ rằng: “Ta phải cứu vớt chừng đấy hữu tình vào cảnh giới Vô dư y Niết-bàn; còn một số hữu tình chẳng độ cho họ vào cảnh giới ấy. Hoặc ta phải cứu vớt chừng đấy hữu tình, khiến họ trụ vào quả vị Giác ngộ cao tột, còn một số hữu tình không độ cho họ được trụ vào quả vị ấy.” Các Đại Bồ-tát luôn luôn
cứu vớt tất cả hữu tình nhập vào cảnh giới Vô dư y Niết-bàn và trụ vào quả vị Giác ngộ cao tột. Xá-lợi Tử, đây là Đại Bồ-tát vì lợi lạc của tất cả hữu tình mà mặc áo giáp đại công đức.
Lại nữa Xá-lợi Tử, các Đại Bồ-tát nghĩ như vầy: “Ta phải tự viên mãn Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa và cũng làm cho tất cả hữu tình viên mãn như thế.” Lại nghĩ rằng: “Ta nương vào sáu pháp Ba-la-mật-đa tự trụ pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; tự tu bốn Niệm trụ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, rồi làm cho hữu tình cũng nương vào sáu pháp Ba-la-mật-đa, an trụ pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; cũng tự tu bốn Niệm trụ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.” Lại nghĩ rằng: “Ta nương vào sáu pháp Ba-la-mật-đa mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột, nhập vào cảnh giới Vô dư y Niết-bàn, làm cho hữu tình cũng nương vào sáu pháp Ba-la-mật-đa này, mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột, nhập vào cảnh giới Vô dư y Niết-bàn.” Xá-lợi Tử, đây là Đại Bồ-tát vì lợi lạc của tất cả hữu tình, mà mặc áo giáp đại công đức.
Lại nữa Xá-lợi Tử, khi tu hành Bố thí ba-la-mật-đa, các Đại Bồ-tát tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí mà tu Bố thí ba-la-mật-đa; không xen lẫn với tác ý của Thanh văn, Độc giác, giữ gìn căn lành này, dùng vô sở đắc làm phương tiện, cùng với các hữu tình bình đẳng chung hưởng, cùng hồi hướng quả vị Giác ngộ cao tột; trong lúc bố thí không có sự lẫn tiếc, đó là áo giáp đại công đức Bố thí ba-la-mật-đa; trong khi bố thí, Bồ-tát không khởi tác ý Thanh văn, Độc giác, đó là áo giáp đại công đức của Tịnh giới ba-la-mật-đa; trong khi bố thí, Bồ-tát tín, nhẫn, dục, lạc, tu pháp bố thí, đó là áo giáp đại công đức An nhẫn ba-la-mật-đa; trong khi bố thí, Bồ-tát tinh tấn, dũng mãnh, không bỏ việc gia hạnh, đó là áo giáp đại công đức của sự Tinh tấn ba-la-mật-đa; trong khi bố thí, Bồ-tát nhất tâm hướng đến trí Nhất thiết trí, rốt ráo đem lại lợi lạc cho tất cả hữu tình, không xen lẫn tác ý của Thanh văn, Độc giác, đó là áo giáp đại công đức của Tĩnh lự ba-la-mật-đa; trong khi bố thí, Bồ-tát trụ vào phép quán tưởng như huyễn, không thấy người bố thí, kẻ nhận bố thí, vật bố thí và quả do bố thí, đó là áo giáp đại công đức Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Xá-lợi Tử, khi Đại Bồ-tát tu hạnh Bố thí ba-la-mật-đa như vậy,
thì mặc đủ sáu loại áo giáp đại công đức Ba-la-mật-đa. Khi tu hành Bố thí ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát nào tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí, với tướng của sáu pháp Ba-la-mật-đa mà không có sự chấp giữ và chứng đắc, thì phải biết Đại Bồ-tát ấy đã mặc áo giáp đại công đức.
Lại nữa Xá-lợi Tử, khi tu hành Tịnh giới ba-la-mật-đa, các Đại Bồ-tát tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí mà tu Tịnh giới ba-la-mật-đa, không xen lẫn tác ý của Thanh văn và Độc giác, giữ gìn căn lành này, dùng vô sở đắc làm phương tiện, cùng các hữu tình bình đẳng và cùng hồi hướng quả vị Giác ngộ cao tột; khi tu Tịnh giới, đối với các vật sở hữu đều không lẫn tiếc, đó là áo giáp đại công đức Bố thí ba-la-mật-đa; khi tu Tịnh giới, đối với các bậc Thanh văn và Độc giác còn chẳng mong cầu, huống gì hàng phàm phu, đó là áo giáp đại công đức Tịnh giới ba-la-mật-đa; khi tu Tịnh giới, đối với pháp tịnh giới, tín, nhẫn, dục, lạc, đó là áo giáp đại công đức An nhẫn ba-la-mật-đa; khi tu Tịnh giới, tinh tấn, dũng mãnh không bỏ sự gia hạnh, đó là áo giáp đại công đức Tinh tấn ba-la-mật-đa; khi tu Tịnh giới, hoàn toàn dùng tâm đại Bi là trên hết, không hề xen lẫn tác ý của Nhị thừa, huống gì tâm phàm phu, đó là áo giáp đại công đức Tĩnh lự ba-la-mật-đa; khi tu Tịnh giới, đối với tất cả pháp, trụ vào phép quán tưởng như huyễn, đối với tịnh giới không ỷ lại, không sở đắc, thông đạt bản tánh là không, đó là áo giáp đại công đức Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Xá-lợi Tử, khi Đại Bồ-tát tu hành Tịnh giới ba-la-mật-đa như vậy, thì mặc đủ sáu loại áo giáp đại công đức Ba-la-mật-đa; khi tu hành Tịnh giới ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát nào tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí, với tướng của sáu pháp Ba-la-mật-đa, mà không có sự chấp giữ và chứng đắc, thì phải biết Đại Bồ-tát ấy đã mặc áo giáp đại công đức.
Lại nữa Xá-lợi Tử, khi tu hành An nhẫn ba-la-mật-đa, các Đại Bồ-tát tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí, mà tu hành An nhẫn ba-la-mật-đa, không xen lẫn tác ý của Thanh văn và Độc giác, gìn giữ căn lành này, dùng vô sở đắc làm phương tiện, cùng các hữu tình bình đẳng chung hưởng, cùng hồi hướng quả vị Giác ngộ cao tột; khi tu An nhẫn, vì thành tựu hạnh an nhẫn, đối với thân mạng… không có sự luyến tiếc, đó là áo giáp đại công đức của sự Bố thí ba-la-mật-đa; khi tu An nhẫn, không xen lẫn tác ý hạ liệt của Thanh văn và Độc giác, đó là áo giáp
đại công đức Tịnh giới ba-la-mật-đa; khi tu An nhẫn, đối với pháp an nhẫn tín, nhẫn, dục, lạc, đó là áo giáp đại công đức An nhẫn ba-la-mật-đa; khi tu An nhẫn, Bồ-tát tinh tấn, dũng mãnh, không bỏ việc gia hạnh, đó là áo giáp đại công đức của sự Tinh tấn ba-la-mật-đa; khi tu An nhẫn, Bồ-tát phải nhiếp tâm vào một cảnh, dù gặp phải gian khổ nhưng tâm không hề dao động, đó là áo giáp đại công đức Tĩnh lự ba-la-mật-đa; khi tu An nhẫn, Bồ-tát trụ vào phép quán như huyễn; vì đúc kết giáo pháp của Phật để thành thục chúng hữu tình; quán các pháp là không, không chấp kẻ oán hại, đó là áo giáp đại công đức Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Xá-lợi Tử, khi Đại Bồ-tát tu hành An nhẫn ba-la-mật-đa như vậy, thì mặc đủ sáu loại áo giáp đại công đức Ba-la-mật-đa; khi tu hành An nhẫn ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát nào tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí mà không có sự chấp giữ và chứng đắc đối với tướng của sáu pháp Ba-la-mật-đa, thì phải biết Đại Bồ-tát ấy đã mặc áo giáp đại công đức.