KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 458
Phẩm 65: THẬT NGỮ (2)
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ nào ưa thích lắng nghe lời dạy Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như vậy, nghe xong thọ trì, đọc tụng thông suốt, siêng năng tu học, tu duy đúng lý, giải bày khai thị, dạy bảo, truyền trao cho các thiện nam, thiện nữ thuộc Bồ-tát thừa thì nên biết người ấy đã từng gần gũi chư Phật trong quá khứ, được nghe nói về Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như vậy, nghe xong thọ trì, đọc tụng thông suốt, siêng năng tu học, tư duy đúng lý và cũng đã từng giải bày, khai thị, dạy bảo, truyền trao cho người khác.
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ này đã từng trồng các căn lành ở vô số cõi Phật trong quá khứ cho nên đời này có thể làm được việc này. Thiện nam, thiện nữ này nên nghĩ rằng: “Trước đây ta không theo Thanh văn, Độc giác nghe nói Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này mà chắc chắn là đã theo Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác để nghe dạy Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như vậy; trước đây ta không trồng căn lành đối với Thanh văn, Độc giác mà chắc chắn lành là trồng các căn lành đối với Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Nhờ nhân duyên đó, ngày nay ta được nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này, ưa thích, thọ trì, đọc tụng thông suốt, siêng năng tu học, suy nghĩ đúng lý, giảng rộng cho mọi người không có mệt mỏi nhàm chán.”
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ nào ưa thích lắng nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nghe xong thọ trì, đọc tụng thông suốt, siêng năng tu học, tư duy đúng lý, hoặc nghĩa, hoặc văn, hoặc pháp, hoặc ý, hoặc giới luật họ đều có thể thông đạt thì thiện nam, thiện nữ này hiện đang thấy tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ nào nghe dạy nghĩa lý sâu xa của Bát-nhã ba-la-mật-đa liền sinh lòng tin hiểu trong sạch,
không hủy báng, không bị ngăn trở, phá hoại, thì các thiện nam, thiện nữ này đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, phát nguyện rộng lớn, trồng các căn lành ở chỗ Đức Phật và cũng được vô lượng thiện tri thức chân chánh hộ trì.
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ nào có thể trồng các căn lành vào ruộng phước thù thắng của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tuy chắc chắn sẽ đạt được hoặc quả Thanh văn, hoặc quả Độc giác, hoặc quả Như Lai nhưng muốn chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột thì cần phải thông suốt nghĩa lý Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tu hành Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; an trú vào pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; an trú vào chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; an trú vào Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; tu hành bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; tu hành bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; tu hành tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; tu hành pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; tu hành bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân; tu hành tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; tu hành năm loại mắt, sáu phép thần thông; tu hành mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; tu hành pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; tu hành trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng làm cho được viên mãn.
Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát nào khéo thông suốt nghĩa lý Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tu hành Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa làm cho được viên mãn như vậy cho đến tu hành trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng, làm cho được viên mãn thì sẽ không có việc Đại Bồ-tát này trụ ở địa vị Thanh văn hoặc Độc giác mà không chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột. Vì vậy Đại Bồ-tát nào muốn chứng quả vị Giác ngộ cao tột thì phải khéo thông đạt nghĩa lý sâu xa của Bát-nhã ba-la-mật-đa tu hành Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa làm cho được viên mãn như vậy cho đến tu hành trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng làm cho được viên mãn.
Vì thế, này Khánh Hỷ, Ta đem Bát-nhã ba-la-mật-đa giao phó cho ông, ông nên thọ trì đọc tụng thông suốt chính xác, đừng để quên mất.
Khánh Hỷ nên biết, trừ kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này, nếu thọ trì các kinh khác mà ta đã dạy, giả sử có quên mất thì tội ấy còn nhẹ nhưng đối với kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa này, nếu không thọ trì trọn vẹn cho đến quên mất một câu thì tội ấy rất nặng.
Khánh Hỷ nên biết, đối với kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, người nào có thể thọ trì cho đến một câu không để quên mất thì được vô lượng phước. Còn nếu đối với kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, người nào không thọ trì trọn vẹn cho đến quên mất một câu thì mắc tội rất nặng ngang với phước nói trên. Vì thế, này Khánh Hỷ, Ta đem kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa ân cần giao phó cho ông. Ông phải thọ trì, đọc tụng cho thông suốt và chính xác, tư duy đúng lý và giảng rộng cho người khác nghe, phân biệt, khai thị giúp cho người nghe hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa của nó và người đó lại có thể diễn giải đúng lý cho người khác nghe.
Khánh Hỷ nên biết, đối với kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thiện nam, thiện nữ nào thọ trì, đọc tụng hoàn toàn thông suốt, tư duy như lý, giảng rộng cho người khác nghe thì chính là thọ trì nắm giữ quả vị Giác ngộ cao tột mà tất cả các vị Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại, vị lai đã chứng đắc.
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ nào phát sinh tâm thanh tịnh, hiện đến chỗ Ta muốn dùng đủ loại vòng hoa vi diệu, hương xoa, hương bột, y phục, anh lạc, tràng phan báu, dù lọng, âm nhạc, đèn sáng, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi không nhàm chán, mệt mỏi thì đối với kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa người ấy phải hết lòng lắng nghe thọ trì, đọc tụng, hoàn toàn thông suốt, tư duy đúng lý, giảng rộng cho người khác, hoặc lại biên chép, trang điểm bằng châu báu, dùng đủ loại vòng hoa vi diệu, hương xoa, hương bột, y phục, anh lạc, tràng phan báu, dù lọng, âm nhạc, đèn sáng, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi không được biếng nhác.
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ nào cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa chính là cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen Ta, cũng là cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác hiện đang thuyết pháp ở mười phương thế giới và cũng là cúng dường, cung
kính, tôn trọng, ngợi khen chư Phật ở quá khứ, vị lai.
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ nào nghe nói Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như vậy, phát sinh lòng tin trong sạch, cung kính ưa thích thì chính là đem lòng tin trong sạch cung kính, ưa thích quả vị Giác ngộ cao tột mà tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, vị lai, hiện tại đã chứng đắc.
Khánh Hỷ, nếu người cung kính ưa thích Ta, không xả bỏ Ta thì phải mạnh mẽ gấp bội trong việc cung kính, ưa thích không xả bỏ Bát-nhã ba-la-mật-đa cho đến một câu cũng đừng để quên mất.
Khánh Hỷ, Ta nói lý do giao phó Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tuy có vô lượng lý do nhưng Ta chỉ nói tóm gọn. Như Ta là Đại Sư của các ông, nên biết Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cũng là Đại sư của các ông. Trời, người, các ông kính trọng Ta thì cũng phải kính trọng Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa.
Vì vậy, này Khánh Hỷ, Ta dùng vô số phương tiện thiện xảo giao phó kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cho ông, ông phải thọ trì đừng để quên mất. Nay ở trước Trời, Người, A-tố-lạc và vô số đại chúng Ta đem Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này giao phó cho ông.
Khánh Hỷ, nay Ta nói thật với ông, các hữu tình có lòng tin trong sạch muốn không xả bỏ Phật, không xả Pháp, không xả bỏ Tăng lại muốn không xả bỏ quả vị Giác ngộ cao tột mà chư Phật đời quá khứ, vị lai, hiện tại đã chứng đắc thì cần phải không xả bỏ Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Đó chính là pháp chư Phật chúng tôi dạy dỗ truyền trao cho các đệ tử.
Khánh Hỷ nên biết, thiện nam, thiện nữ ưa thích lắng nghe Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, thọ trì, đọc tụng, hoàn toàn thông suốt, tư duy đúng lý, đem vô lượng pháp môn giảng rộng cho người khác, phân biệt, khai thị, vạch bày, an lập giúp họ hiểu rõ và siêng năng tu học thì thiện nam, thiện nữ này mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột và gần được viên mãn trí Nhất thiết trí. Vì sao vậy? Khánh Hỷ, quả vị Giác ngộ cao tột mà tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đã chứng đắc đều dựa vào Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này mà được sinh ra.
Khánh Hỷ nên biết, chư Phật đời quá khứ, vị lai, hiện tại đều dựa vào Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này để sinh ra quả vị Giác ngộ cao tột. Vì thế, này Khánh Hỷ, Đại Bồ-tát nào muốn chứng đắc quả vị
Giác ngộ cao tột thì cần phải siêng năng tu học Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này. Vì sao vậy?
Khánh Hỷ, Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là mẹ của các Đại Bồ-tát vì nó sinh ra các vị Đại Bồ-tát.
Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát nào siêng năng tu học Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa thì mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột. Vì thế, này Khánh Hỷ, Ta đem sáu pháp Ba-la-mật-đa giao phó cho ông, ông phải thọ trì cho đúng để quên mất. Vì sao vậy? Vì sáu pháp Ba-la-mật-đa này là kho pháp vô tận của các vị Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, tất cả Phật pháp đều sinh ra từ nơi đó.
Khánh Hỷ nên biết, pháp yếu mà chư Phật đời hiện tại, quá khứ, vị lai đã nói đều được lưu xuất từ kho pháp vô tận là sáu pháp Ba-la-mật-đa.
Khánh Hỷ nên biết, chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đều nương vào kho pháp vô tận là sáu pháp Ba-la-mật-đa để chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột.
Khánh Hỷ nên biết, chư Phật và chúng Thanh văn đời hiện tại, quá khứ, vị lai đều dựa vào kho pháp vô tận là sáu pháp Ba-la-mật-đa siêng năng tu học để nhập Niết-bàn vào cõi Vô dư y Niết-bàn.
Lại nữa Khánh Hỷ, giả sử các ông nói pháp Thanh văn cho các chúng sinh thuộc Thanh văn thừa và nhờ pháp này tất cả hữu tình ở thế giới ba lần ngàn đều chứng quả A-la-hán thì vẫn chưa phải vì Ta mà làm những việc đệ tử Phật cần làm. Nếu các ông có thể giảng nói một câu pháp tương ưng với Bát-nhã ba-la-mật-đa cho các chúng sinh thuộc Bồ-tát thừa nghe, thì mới chính là vì Ta mà làm công việc người đệ tử Phật cần làm và Ta rất tùy hỷ đối với việc này hơn là việc các ông giáo hóa tất cả hữu tình trong thế giới ba lần ngàn để cho họ đều đắc quả A-la-hán.
Lại nữa Khánh Hỷ, giả sử tất cả hữu tình ở thế giới ba lần ngàn nhờ người khác chỉ dạy nên đồng thời đều được thân người và đều chứng đắc quả A-la-hán. Theo ý ông thì tất cả phước có được nhờ bố thí, nhờ trì giới và nhờ tu tập của tất cả các vị A-la-hán đó có nhiều không?
Khánh Hỷ thưa:
–Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Phước nghiệp ấy là vô lượng, vô số.
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Nếu có đệ tử Thanh văn nào có thể vì Đại Bồ-tát giảng nói pháp tương ưng với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa trải qua một ngày một đêm thì thu được lượng phước đức nhiều hơn phước kia rất nhiều.
Khánh Hỷ nên biết, không cần đến một ngày một đêm chỉ cần một ngày, lại không cần đến một ngày, chỉ cần nửa ngày, lại không cần đến nửa ngày, chỉ cần một giờ, lại không cần đến một giờ, chỉ cần một bữa ăn, lại không cần đến một bữa ăn, chỉ cần trong chốc lát, lại không cần đến trong chốc lát, chỉ cần trong khoảnh khắc, lại không cần đến trong khoảng khắc, chỉ cần trong nháy mắt Thanh văn nào có thể giảng nói pháp tương ưng với Bát-nhã ba-la-mật-đa cho các Đại Bồ-tát nghe, thì tu được một lượng phước đức lớn hơn phước đức trước rất nhiều. Vì sao vậy? Vì phước đức mà Thanh văn này thu được hơn hẳn công đức của tất cả Thanh văn, Độc giác.
Lại nữa Khánh Hỷ, nếu Đại Bồ-tát giảng nói pháp Thanh văn cho các chúng sinh thuộc Thanh văn thừa, giả sử nhờ pháp này, tất cả hữu tình trong thế giới ba lần ngàn đều chứng đắc quả A-la-hán đều đầy đủ các loại công đức thù thắng, thì theo ý ông nhờ nhân duyên này Đại Bồ-tát đó thu được nhiều phước đức không?
Khánh Hỷ thưa:
–Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Phước đức mà Đại Bồ-tát này thu được là vô lượng, vô biên.
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Đại Bồ-tát nào giảng nói pháp tương ưng với Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cho các thiện nam, thiện nữ thuộc Thanh văn thừa, Độc giác thừa, hoặc Vô thượng thừa suốt một ngày đêm thì thu được phước đức hơn phước nói ở trước rất nhiều.
Khánh Hỷ nên biết, không cần đến một ngày đêm, chỉ cần một ngày, không cần đến một ngày, chỉ cần nửa ngày, lại không cần đến nửa ngày, chỉ cần một giờ, lại không cần đến một giờ, chỉ cần trong khoảng một bữa ăn, lại không cần đến khoảng thời gian một bữa ăn, chỉ cần trong chốc lát, lại không cần đến trong chốc lát, chỉ cần trong khoảnh khắc, lại không cần đến trong khoảng khắc, chỉ cần trong nháy mắt, Đại Bồ-tát có thể giảng nói pháp tương ưng với Bát-nhã ba-la-
mật-đa sâu xa cho các thiện nam, thiện nữ thuộc ba thừa thì thu được phước đức hơn phước đức trước vố số lần. Vì sao vậy? Vì pháp thí tương ưng với Bát-nhã ba-la- mật-đa hơn hẳn tất cả pháp thí tương ưng với Thanh văn, Độc giác và các công đức của Nhị thừa. Vì sao vậy? Vì Đại Bồ-tát này tự cầu quả vị Giác ngộ cao tột cũng đem pháp tương ưng với Đại thừa để khai thị dạy dỗ và khích lệ giúp các hữu tình không còn thoái lui đối với quả vị Giác ngộ cao tột.
Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát này tự tu Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, cũng dạy người khác tu Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; tự tu bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo, cũng dạy người khác tu bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; tự an trú vào pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh, cũng dạy người khác an trú vào pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; tự an trú vào chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, cũng dạy người khác an trú vào chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; tự an trú vào Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, cũng dạy người khác an trú vào Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; tự tu bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, cũng dạy người khác tu bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; tự tu tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ, cũng dạy người khác tu tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; tự tu pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, cũng dạy người khác tu pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; tự tu Bồ-đề địa, cũng dạy người khác tu Bồ-đề địa; tự tu tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa, cũng dạy người khác tu tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; tự tu năm loại mắt, sáu phép thần thông, cũng dạy người khác tu năm loại mắt, sáu phép thần thông; tự tu mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, cũng dạy người khác tu mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; tự tu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, cũng dạy người khác tu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ; tự tu pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, cũng dạy người khác tu pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; tự tu trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng, cũng dạy người khác tu trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; tự tu tất cả các hạnh của Đại Bồ-tát, cũng dạy người khác tu tất cả các hạnh
của Đại Bồ-tát; tự tu quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, cũng dạy người khác tu quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật; tự tu trí Nhất thiết trí, cũng dạy người khác tu trí Nhất thiết trí, vì vậy căn lành tăng trưởng và không thể có việc người ấy bị thoái chuyển đối với quả vị Giác ngộ cao tột.
Bấy giờ với bốn chúng vây quanh, Như Lai khen ngợi Bát-nhã ba-la-mật-đa và giao phó cho Khánh Hỷ. Sau khi đã giao phó và ra lệnh cho Khánh Hỷ thọ trì, Ngài lại hiện năng lực thần thông ở trước tất cả Trời, Rồng, Dược-xoa, nói rộng cho đến đại chúng Nhân phi nhân làm cho họ đều thấy Như Lai Bất Động với các Thanh văn, Bồ-tát vây quanh cả trước lẫn sau đang giảng nói diệu pháp để dạy đại chúng và thấy tướng trang nghiêm của cõi ấy. Chúng Thanh văn Tăng ở cõi ấy đều là A-la-hán đã hết lậu hoặc, không còn phiền não, thật sự tự tại, tâm hoàn toàn giải thoát, giống như ngựa hay đã được điều phục, hoặc như rồng lớn đã làm việc cần làm, đã hoàn tất việc cần hoàn tất, bỏ các gánh nặng đạt được tự lợi, dứt sạch các kết sử, biết đúng và giải thoát, hết lòng tự chủ rốt ráo bậc nhất. Chúng Bồ-tát Tăng ở cõi ấy đều được mọi người ngưỡng vọng và biết đến, đạt được Đà-la-ni và có công đức trí tuệ biện tài vô ngại, giống như biển lớn. Sau đó Thế Tôn thu thần lực lại làm cho Trời, Rồng, Dược-xoa, nói rộng cho đến Nhân phi nhân ở chúng hội này không còn thấy Như Lai Bất Động, Thanh văn, Bồ-tát và đại chúng khác cùng với tướng trang nghiêm của cõi Phật ấy. Chúng hội và cõi nước trang nghiêm của Đức Phật ấy đều chẳng phải là đối tượng của nhãn căn ở cõi này. Vì sao vậy? Vì Phật thu thần lực nên không còn duyên để thấy diệu cảnh ấy nữa.
Khi ấy, Phật bảo Cụ thọ Khánh Hỷ:
–Ông có còn thấy cõi nước và chúng hội của Bất Động Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác không?
Khánh Hỷ đáp:
–Con không còn thấy, bởi vì việc ấy chẳng phải là đối tượng của con mắt này.
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Giống như cõi nước và chúng hội của Như Lai kia chẳng phải là cảnh giới mà con mắt ở cõi này có thể thấy được, nên biết rằng các
pháp cũng lại như vậy, chúng chẳng phải là cảnh giới mà nhãn căn có thể thấy được. Pháp chẳng thể thực hành pháp; pháp chẳng thấy pháp; pháp chẳng biết pháp; pháp không thể chứng đắc pháp.
Khánh Hỷ nên biết, tánh của tất cả các pháp đều không thể thực hành, không thể thấy, không thể biết, không thể chứng, không lay động, không tạo tác. Vì sao vậy? Bởi vì tất cả các pháp đều như hư không, không có tác dụng, người nhận và vật được nhận đều có tánh xa lìa. Do tất cả các pháp đều không thể nghĩ bàn, người nghĩ bàn và vật được nghĩ bàn đều có tánh xa lìa, vì tất cả các pháp đều như huyễn là do các duyên hòa hợp giả có, vì tất cả các pháp không có người tạo ra và thọ nhận, vọng hiện ra dường như là có mà không chắc thật.
Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát nào có thể thực hành như vậy, có thể thấy như vậy, có thể biết như vậy, có thể chứng như vậy là thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa và cũng không chấp trước tướng các pháp này.
Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát nào có học như vậy là học Bát-nhã ba-la-mật-đa. Khánh Hỷ nên biết, Đại Bồ-tát nào muốn chứng đắc tất cả Bát-nhã ba-la-mật-đa, muốn mau được viên mãn thì phải học Bát-nhã ba-la-mật-đa. Vì sao vậy? Trong các môn học, môn học này là hơn hết, là thù thắng, là tôn quý, là cao cả, là diệu, là vi diệu, là ở trên, là không gì trên, là không gì bằng, là không gì sánh bằng, làm lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình, làm nơi trông cậy cho tất cả hữu tình không nơi trông cậy, là nơi quay về nương tựa cho tất cả hữu tình không nơi nương tựa, là nơi hướng đến cho những người không chỗ hướng đến, là nhà cửa cho người không nhà cửa, là nơi cứu giúp cho những người không ai cứu giúp. Chư Phật Thế Tôn luôn khai mở, ca ngợi việc tu học Bát-nhã ba-la-mật-đa này.
Khánh Hỷ nên biết, nếu các Đại Bồ-tát và chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác an trú trong pháp học này thì có thể dùng ngón tay phải, hoặc ngón chân phải nhấc thế giới ba lần ngàn đặt ở phương khác, hoặc đem về chỗ cũ mà các hữu tình ở trong đó không hay, không biết, không bị tổn hại, không run rẩy. Vì sao vậy? Bởi vì oai lực công đức của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa không thể nghĩ bàn. Chư Phật và các chúng Đại Bồ-tát trong quá khứ, hiện tại, vị lai nhờ học Bát-nhã ba-la-mật-đa đạt được hiểu biết vô ngại.
Vì vậy, này Khánh Hỷ, trong các môn học Ta nói môn học Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này là hơn hết, là thù thắng, là tôn quý, là cao cả, là diệu, là vi diệu, là ở trên, là không gì trên, là không gì bằng, là không gì sánh bằng.
Khánh Hỷ nên biết, các hữu tình nào muốn nắm bắt số lượng và bờ mé của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa thì cũng như người ngu muốn nắm lấy số lượng và bờ mé hư không. Vì sao vậy? Bởi vì công đức của Bát-nhã ba-la-mật-đa là vô lượng, vô biên.
Khánh Hỷ nên biết, Ta quyết không nói công đức thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa như danh, thân… là có hạn lượng bờ mé. Vì sao vậy? Vì tất cả danh từ, câu nói, văn tự là pháp có hạn lượng còn công đức của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa chẳng phải là pháp có hạn lượng chẳng phải danh từ, câu nói, văn tự có thể đo lường công đức thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa, cũng chẳng phải công đức thù thắng của Bát-nhã ba-la-mật-đa là thứ được pháp kia đo lường.
Khi ấy, Khánh Hỷ bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì sao nói Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là vô lượng.
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Vì tánh của Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa là vô tận nên Ta nói là vô lượng, vì tánh xa lìa nên Ta nói là vô lượng, vì tánh tịch tĩnh nên Ta nói là vô lượng, vì đúng thật tế nên nói là vô lượng, vì như hư không nên nói là vô lượng.
Khánh Hỷ nên biết, tất cả chư Phật Thế Tôn ở quá khứ, vị lai, hiện tại đều học Bát-nhã ba-la-mật-đa hoàn toàn viên mãn, chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, giảng giải khai thị cho các hữu tình nhưng Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này vẫn vô cùng tận. Vì sao vậy? Bởi vì Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cũng giống như hư không, là vô tận. Hữu tình nào muốn biết tường tận về Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa tức là muốn biết tường tận về bờ mé của hư không. Khánh Hỷ nên biết. Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa cho đến Bố thí ba-la-mật-đa chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn chẳng phải đã cùng
tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ, chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện chẳng phải đã cùng tận; bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; năm loại mắt, sáu phép thần thông chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả, chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ tường tận; tất cả các hạnh của Đại Bồ-tát chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận; trí Nhất thiết trí chẳng phải đã cùng tận, chẳng phải đang cùng tận, chẳng phải sẽ cùng tận. Vì sao vậy? Vì những pháp này không sinh, không diệt cũng không đứng yên, không dời đổi thì làm sao có sự tạo ra và có sự cùng tận.
Bấy giờ, từ mặt Thế Tôn xuất hiện tướng lưỡi dài rộng che khắp khuôn mặt. Sau khi hiện tướng lưỡi, Thế Tôn thu tướng lưỡi trở lại và bảo Khánh Hỷ:
–Nếu người nào có tướng lưỡi như vậy thì có nói lời hư dối không?
Khánh Hỷ đáp:
–Không, thưa Thế Tôn!
Phật bảo Khánh Hỷ:
–Từ nay trở đi ông phải vì bốn chúng giảng rộng Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này, phân biệt, khai thị tạo dựng, an lập giúp họ dễ hiểu.
Khánh Hỷ nên biết, trong kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này có giảng rộng tất cả các pháp phần Bồ-đề và các pháp tướng. Vì vậy tất cả các chúng sinh cầu Thanh văn thừa, tất cả chúng sinh cầu Độc giác thừa và tất cả chúng sinh cầu Vô thượng đều dựa vào pháp môn Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa được dạy để thường xuyên tu học, đừng sinh nhàm chán, mệt mỏi. Ai thường siêng năng tu học như vậy thì sẽ mau chóng đắc pháp mà mình mong cầu.
Lại nữa Khánh Hỷ, Bát-nhã ba-la-mật-đa là pháp có thể ngộ nhập tất cả pháp tướng, có thể ngộ nhập tất cả văn tự, có thể ngộ nhập tất cả pháp môn Đà-la-ni. Các Đại Bồ-tát thường xuyên tu học tất cả pháp môn Đà-la-ni này. Đại Bồ-tát nào thọ trì tất cả pháp môn Đà-la-ni này thì có thể mau chứng đắc tất cả biện tài và sự hiểu biết vô ngại.
Khánh Hỷ nên biết, kinh điển Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này chính là kho pháp vô tận của chư Phật Thế Tôn đời quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì vậy Ta phải bảo ông một cách rõ ràng: “Người nào thọ trì, đọc tụng, hoàn toàn thông suốt Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này và tư duy đúng lý tức là thọ trì quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật ở quá khứ, vị lai, hiện tại.”
Khánh Hỷ nên biết, Ta nói Bát-nhã ba-la-mật-đa như thế là đôi chân vững chắc có thể đi trên đường giác ngộ, cũng là đại Đà-la-ni của Phật pháp vô thượng. Nếu các ông có thể thọ trì Đà-la-ni và Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa này tức là tổng trì tất cả Phật pháp làm cho không quên mất và làm lợi ích cho các hữu tình đến tận đời vị lai.
Phẩm 66: VÔ TẬN
Bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện nghĩ như vầy: “Bát-nhã ba-la-mật-đa này rất là sâu xa, quả vị Giác ngộ cao tột chư Phật cũng rất sâu xa, ta sẽ hỏi Phật về hai nghĩa sâu xa.” Sau khi nghĩ xong vị ấy liền bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa chính là quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật. Quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật chính là Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa. Như vậy Bát-nhã ba-la-mật-đa và quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật đều rất sâu xa, vô cùng tận. Vì sao nói hai pháp này là vô tận?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa và quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật đều như hư không vô cùng tận cho nên nói là vô tận.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Đại Bồ-tát phải làm sao để phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Phật nói:
–Các Đại Bồ-tát nên quán sắc là vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, nên quán thọ, tưởng, hành, thức vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán nhãn xứ cho đến ý xứ đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán sắc xứ cho đến pháp xứ đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán nhãn giới cho đến ý giới đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán sắc giới cho đến pháp giới đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán nhãn thức giới cho đến ý thức giới đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán nhãn xúc cho đến ý xúc đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán địa giới cho đến thức giới đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán nhân duyên cho đến tăng thượng duyên đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán vô minh cho đến lão tử đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán tám Giải
thoát cho đến mười Biến xứ đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện, đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán năm loại mắt, sáu phép thần thông đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán Dự lưu cho đến quả Độc giác Bồ-đề đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán tất cả các hạnh của Đại Bồ-tát đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật đều vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán trí Nhất thiết trí cũng vô tận để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên quán sắc vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, nên quán thọ, tưởng, hành, thức vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, như vậy cho đến quán trí Nhất thiết trí vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên quán vô minh duyên hành vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán hành duyên thức vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán thức duyên danh sắc vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán danh sắc duyên lục xứ vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán lục xứ duyên xúc vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán xúc duyên thọ vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán thọ duyên ái vô tận như hư
không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán ái duyên thủ vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán thủ duyên hữu vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán hữu duyên sinh vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa; nên quán sinh duyên lão tử, lo buồn thở than, khổ não đều vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa như vậy. Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát quán sát mười hai duyên khởi như vậy thì xa lìa hai bên và Đại Bồ-tát khác không thể có sự diệu quán như vậy.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát ngồi tòa Kim cang ở dưới cây Bồ-đề, quán sát như thật về mười hai duyên khởi, giống như hư không không thể chấm dứt liền có thể chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào dùng hạnh vô tận như hư không làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, quán như thật về mười hai duyên khởi thì không rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác và mau chứng quả vị Giác ngộ cao tột.
Thiện Hiện, hữu tình nào trụ ở Bồ-tát thừa mà bị thoái lui đối với quả vị Giác ngộ cao tột là đều do không nương nơi tác ý thiện xảo làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, do người ấy không hiểu rõ Đại Bồ-tát làm sao để tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa. Ta có thể dùng hạnh vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa và quán sát như thật về mười hai duyên khởi.
Thiện Hiện, thiện nam, thiện nữ nào thoái lui đối với quả vị Giác ngộ cao tột đều do xa lìa việc làm phát sinh phương tiện thiện xảo Bát-nhã ba-la-mật-đa. Đại Bồ-tát nào không bị thoái lui đối với quả vị Giác ngộ cao tột đều là nhờ làm phát sinh phương tiện thiện xảo Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Do nương theo phương tiện thiện xảo là tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, do dùng hạnh vô tận như hư không để làm phát sinh Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, do quán như thật về mười hai duyên khởi nên Đại Bồ-tát này sớm có thể viên mãn Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa.
Thiện Hiện, lúc quán sát các pháp duyên khởi như vậy, các Đại Bồ-tát không thấy có pháp nào không do nhân mà sinh, không thấy có
pháp nào không do nhân mà diệt, không thấy có pháp nào không có tánh tướng thường còn không sinh, không diệt, không thấy có pháp nào có ngã và hữu tình, nói rộng cho đến cái biết, cái thấy, không thấy có pháp nào thường hoặc vô thường, vui hoặc khổ, có ngã hoặc vô ngã, tịnh hoặc bất tịnh, vắng lặng hoặc không vắng lặng, xa lìa hoặc không xa lìa.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên quán sát pháp duyên khởi như vậy để tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát quán sát như thật pháp duyên khởi để tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thì Đại Bồ-tát đó không thấy sắc là thường hoặc vô thường, vui hoặc khổ, ngã hoặc vô ngã, tịnh hoặc bất tịnh, vắng lặng hoặc không vắng lặng, xa lìa hoặc không xa lìa; cũng không thấy thọ, tưởng, hành, thức là thường hoặc vô thường, vui hoặc khổ, ngã hoặc vô ngã, tịnh hoặc bất tịnh, vắng lặng hoặc không vắng lặng, xa lìa hoặc không xa lìa. Như vậy cho đến cũng không thấy trí Nhất thiết trí là thường hoặc vô thường, vui hoặc khổ, ngã hoặc vô ngã, tịnh hoặc bất tịnh, vắng lặng hoặc không vắng lặng, xa lìa hoặc không xa lìa.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, thì tuy tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa nhưng vị ấy không thấy có việc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, cũng không thấy có pháp có thể thấy việc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, cũng không thấy có sự không thấy như vậy. Tuy thực hành Tĩnh lự, Tinh tấn, An nhẫn, Tịnh giới, Bố thí ba-la-mật-đa nhưng không thấy có việc thực hành Tĩnh lự cho đến Bố thí ba-la-mật-đa, cũng lại không thấy có pháp có thể thấy việc thực hành Tĩnh lự cho đến Bố thí ba-la-mật-đa, cũng không thấy có việc không thấy như vậy. Như vậy cho đến tuy tu trí Nhất thiết trí nhưng không thấy có việc trí Nhất thiết trí, cũng lại không thấy có pháp có thể thấy việc tu trí Nhất thiết trí, cũng không thấy có việc không thấy như vậy, cũng lại không thấy có pháp nào có thể đoạn trừ sự tương tục của tất cả tập khí phiền não.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát lấy sự sở đắc đối với tất cả các pháp làm phương tiện để tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thì ác ma rất buồn rầu phiền não nên oán hận, đau khổ như bị tên bắn vào tim. Giống như có người vì cha mẹ bị chết nên thân tâm đau đớn, ác mà cũng vậy.
Lúc đó, Thiện Hiện thưa:
–Chỉ có một ác ma thấy các Đại Bồ-tát lấy sự sở đắc đối với tất cả các pháp làm phương tiện để tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa mà rất buồn rầu, bị phiền não, oán hận, đau khổ như bị tên bắn vào tim hay tất cả ác ma ở khắp thế giới ba lần ngàn cũng đều như vậy?
Phật bảo Thiện Hiện:
–Tất cả ác ma ở khắp thế giới ba lần ngàn đều như vậy, đều không thể ngồi yên ổn ở tòa ngồi của mình.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát thường an trú vào việc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vi diệu. Đại Bồ-tát nào có thể an trú như vậy thì thế gian, Trời, Người, A-tố-lạc không thể tìm được chỗ yếu của họ, cũng không thể làm não loạn chướng ngại họ.
Vì vậy, này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào muốn đạt được quả vị Giác ngộ cao tột thì phải siêng năng an trú vào việc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vi diệu.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nào có thể an trú vào việc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vi diệu thì có thể viên mãn Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát nào có thể tu hành chánh pháp Bát-nhã ba-la-mật-đa liền có thể tu đầy đủ viên mãn tất cả Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Cụ thọ Thiện Hiện thưa:
–Bạch Thế Tôn, thế nào là Đại Bồ-tát có thể tu hành chân chánh Bát-nhã ba-la-mật-đa liền có thể tu tập viên mãn Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Phật bảo Thiện Hiện:
–Đại Bồ-tát nào tu hành đúng đắn Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, dùng tâm tương ưng với trí Nhất thiết trí mà thực hành Bố thí, lại đem công đức Bố thí này cho các hữu tình rồi hồi hướng về trí Nhất thiết trí thì đó là Đại Bồ-tát có thể tu hành chân chánh Bát-nhã ba-la-mật-đa, tu hành viên mãn Bố thí ba-la-mật-đa.
Đại Bồ-tát nào tu hành đúng đắn Bát-nhã ba-la-mật-đa, dùng tâm tương ưng với trí Nhất thiết trí để thực hành Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa, lại đem công đức của việc giữ Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa cho các hữu tình và cùng nhau hồi hướng về trí Nhất thiết trí thì đó là Đại Bồ-
tát có thể tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tu hành viên mãn Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Như vậy, Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào có thể tu hành chân chánh Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa liền có thể tu viên mãn Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa.