Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 27 - Bộ Bát-Nhã X - Số 220 (Quyển 451 - 500)

Đại Tập 27 - Bộ Bát-Nhã X - Số 220 (Quyển 451 - 500)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 969.

Chương 17: Kinh Đại Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa - Quyển 466 - Phẩm 73: Tuần Tự (2) (Trang 279 - 298)

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

Quyển 466

Phẩm 73: TUẦN TỰ (2)

 
Bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, ở trong tánh không tánh của tất cả các pháp nếu Đại Bồ-tát phát sinh bốn Tĩnh lự, phát sinh năm Thần thông, chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, đầy đủ các công đức, an lập hữu tình thành ba nhóm khác nhau, giúp họ thu được sự lợi lạc thì ở trong tánh không tánh của tất cả các pháp, làm sao Đại Bồ-tát mới phát tâm có thể hành dụng tuần tự, tu học tuần tự, làm các việc tuần tự, chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, làm các việc lợi lạc, thù thắng cho hữu tình?
Phật bảo:
–Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát ở địa vị mới phát tâm hoặc theo Phật nghe hoặc từ chỗ cúng dường nhiều vị Phật Bồ-tát, Độc giác, A-la-hán, Bất hoàn, Nhất lai, Dự lưu, Hiền thánh mà nghe, nghĩa là chứng ngộ các pháp, lấy không tánh làm tánh viên mãn rốt ráo mới gọi là Phật, tuần tự chứng ngộ các pháp lấy không tánh làm tánh là Bồ-tát cho đến Dự lưu. Tin chắc các pháp lấy không tánh làm tánh là Hiền thiện sĩ. Cho nên tất cả pháp và các hữu tình đều lấy không tánh làm tánh. Pháp và hữu tình cho đến có và không tự tánh lượng như đầu sợi lông có thể nắm bắt được.
Sau khi nghe việc này, Đại Bồ-tát ấy nghĩ rằng: “Nếu tất cả các pháp và các hữu tình đều lấy không tánh làm tự tánh chứng đắc việc đó nên gọi là Phật cho đến Dự lưu, tin chắc việc đó thì gọi là Hiền thiện sĩ, thì đối với quả vị Giác ngộ cao tột, hoặc là ta sẽ chứng đắc, hoặc không chứng đắc. Vì các pháp và hữu tình đều lấy không tánh làm tự tánh nên ta phải hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột. Sau khi chứng đắc Bồ-đề, nếu các hữu tình hành theo cái tưởng có, ta tìm

cách an lập giúp họ trụ vào cái tưởng không.”
Sau khi nghĩ như vậy rồi, Đại Bồ-tát này mong đạt đến quả vị Giác ngộ cao tột, để làm tất cả hữu tình đạt được Niết-bàn, vị ấy tuần tự làm mọi việc, tuần tự tu học, tuần tự thực hành như các Đại Bồ-tát đời quá khứ cầu đạt đến quả vị Giác ngộ cao tột. Trước tiên phải tuần tự làm mọi việc, tuần tự tu học và thực hành rồi mới chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột. Đại Bồ-tát này cũng vậy, trước tiên phải tu học Bố thí ba-la-mật-đa, kế đó phải tu học Tịnh giới ba-la-mật-đa, kế đó phải tu học An nhẫn ba-la-mật-đa, kế đó phải tu học Tinh tấn ba-la-mật-đa, kế đó phải tu học Tĩnh lự ba-la-mật-đa, cuối cùng phải tu học Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Thiện Hiện nên biết, từ lúc mới phát tâm tu hành Bố thí ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát này nên tự thực hành bố thí, cũng khuyên người thực hành bố thí, tùy thuận ca ngợi công đức bố thí, hoan hỷ ca ngợi người thực hành bố thí. Nhờ nhân duyên này, vị ấy được địa vị rất giàu có, thường thực hành bố thí, lìa tâm keo kiệt. Tùy theo hữu tình cần vật gì như là đồ ăn uống, áo quần, ngọa cụ, anh lạc, hương hoa, của báu, đèn sáng, xe cộ, nhà cửa và các đồ vật khác trong vị ấy đều bố thí cho họ. Đại Bồ-tát này nhờ bố thí nên thọ trì giới uẩn, sinh trong trời, người được đại tôn quý. Do bố thí, trì giới nên vị ấy đạt được định uẩn; nhờ bố thí, trì giới, thiền định nên đạt được tuệ uẩn; do bố thí và hành trì giới, định, tuệ nên lại đạt được giải thoát uẩn; do bố thí, giới, định, tuệ, giải thoát nên lại đạt được giải thoát tri kiến uẩn. Nhờ bố thí cho đến giải thoát tri kiến uẩn viên mãn nên vị ấy vượt qua địa vị Thanh văn, Độc giác thể nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát, đã nhập vào Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát, vị ấy đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật. Sau khi làm việc này, vị ấy chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột, chuyển pháp luân vi diệu, dùng pháp Tam thừa để an lập, độ thoát các loài hữu tình, giúp họ ra khỏi sinh tử và chứng đắc Niết-bàn.
Thiện Hiện, do bố thí nên tuy có thể tuần tự làm mọi việc, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy nhưng Đại Bồ-tát này hoàn toàn không nắm bắt vật gì. Vì sao vậy? Bởi vì tất cả các pháp không có tự tánh.
Lại nữa Thiện Hiện, từ lúc phát tâm tu học Tịnh giới ba-la-mật
đa, Đại Bồ-tát này nên tự thực hành tịnh giới, cũng khuyên người khác thực hành tịnh giới, tùy thuận ca ngợi công đức tịnh giới, hoan hỷ tán thán người được thực hành tịnh giới nhờ vậy giới uẩn được thanh tịnh, sinh làm trời, người được đại tôn quý, bố thí cho người nghèo khổ những vật cần dùng. Đã thực hành bố thí rồi, vị ấy an trụ vào giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến uẩn thanh tịnh nên vị ấy vượt qua địa vị Thanh văn và Độc giác, thể nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát. Sau khi đã thể nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát, vị ấy đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật. Làm việc này xong, vị ấy chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột chuyển pháp luân vi diệu, dùng pháp ba thừa để an lập, độ thoát các loài hữu tình, giúp họ ra khỏi sinh tử chứng đắc Niết-bàn.
Thiện Hiện, nhờ tịnh giới, tuy có thể tuần tự thi hành mọi việc, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy nhưng Đại Bồ-tát này hoàn toàn không chấp trước thứ gì. Vì sao vậy? Vì tất cả pháp không có tự tánh.
Lại nữa Thiện Hiện, từ lúc phát tâm tu học An nhẫn ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát này nên tự thực hành an nhẫn, cũng khuyên người khác thực hành an nhẫn, tùy thuận ca ngợi công đức an nhẫn, hoan hỷ tán thán người được thực hành an nhẫn.
Lúc thực hành an nhẫn, Đại Bồ-tát này có thể dùng của cải bố thí đầy đủ cho các hữu tình. Sau khi thực hành bố thí, vị ấy an trú vào giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến uẩn thanh tịnh nên vị ấy vượt qua các địa vị Thanh văn và Độc giác, thể thập vào Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát, đã thể nhập vào Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát rồi, vị ấy đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật. Làm việc đó xong, vị ấy chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột chuyển bánh xe pháp vi diệu, dùng pháp ba thừa để an lập, độ thoát các loài hữu tình giúp họ vượt khỏi sinh tử và chứng đắc Niết-bàn.
Thiện Hiện, do an nhẫn nên tuy có thể tuần tự thi hành mọi việc, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy nhưng Đại Bồ-tát ấy hoàn toàn không nắm bắt vật gì. Vì sao vậy? Do tất cả pháp không có tự tánh.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc mới phát tâm tu học Tinh tấn ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát này nên siêng năng tinh tấn tu các pháp lành, cũng khuyên người siêng năng tinh tấn tu các pháp lành, tùy thuận ca ngợi công đức tinh tấn, hoan hỷ tán thán người thực hành tinh tấn. Lúc thực hành tinh tấn, Đại Bồ-tát này có thể đem của cải bố thí đầy đủ cho các hữu tình. Sau khi đã thực hành bố thí, vị ấy an trụ vào giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến uẩn thanh tịnh nên vị ấy vượt qua địa vị Thanh văn và Độc giác, thể nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát. Sau khi đã thể nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát, vị ấy đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật. Làm việc này xong, vị ấy chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột chuyển pháp luân vi diệu, dùng pháp ba thừa để an lập, độ thoát các loài hữu tình, giúp họ ra khỏi sinh tử chứng đắc Niết-bàn.
Thiện Hiện, nhờ tinh tấn, tuy có thể tuần tự thi hành mọi việc, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy nhưng Đại Bồ-tát này hoàn toàn không chấp trước pháp nào. Vì sao vậy? Do tất cả pháp đều không tự tánh.
Lại nữa Thiện Hiện, từ lúc mới phát sinh tâm tu học Tĩnh lự ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát này phải tự nhập bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, cũng khuyên người nhập vào bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, tùy thuận ca ngợi công đức của bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, hoan hỷ tán thán người nhập vào bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc. Lúc thực hành tĩnh lự, Đại Bồ-tát này có thể dùng của cải bố thí đầy đủ cho các hữu tình. Sau khi đã thực hành bố thí, vị ấy an trú vào giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến uẩn thanh tịnh nên vị ấy vượt qua địa vị Thanh văn và Độc giác, thể nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát. Sau khi đã thể nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát, vị ấy đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật. Làm việc này xong, vị ấy chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột chuyển pháp luân vi diệu, dùng pháp ba thừa để an lập, độ thoát các loài hữu tình giúp họ ra khỏi sinh tử, chứng đắc Niết-bàn.
Thiện Hiện, do tĩnh lự, tuy có thể tuần tự thi hành mọi việc, tuần
 tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy nhưng Đại Bồ-tát này hoàn toàn không nắm bắt pháp nào. Vì sao vậy? Vì tất cả pháp đều không tự tánh.
Lại nữa Thiện Hiện, từ lúc mới phát tâm tu học Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát này dùng vô sở đắc làm phương tiện tự thực hành sáu pháp Ba-la-mật-đa, cũng khuyên người khác thực hành sáu pháp Ba-la-mật-đa, tùy thuận ca ngợi công đức sáu pháp Ba-la-mật-đa, hoan hỷ tán thán người thực hành sáu pháp Ba-la-mật-đa. Nhờ ở phương tiện thiện xảo sáu pháp Ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát này vượt khỏi địa vị Thanh văn, Độc giác thể nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát. Sau khi nhập Chánh tánh ly sinh của Bồ-tát, vị ấy đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật. Làm việc này xong, vị ấy chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột chuyển pháp luân vi diệu, dùng pháp ba thừa để an lập, độ thoát các loài hữu tình giúp họ thoát khỏi sinh tử, chứng đắc Niết-bàn.
Thiện Hiện, nhờ Bát-nhã, tuy có thể tuần tự thi hành mọi việc, tuần tự tu học và tuần tự thực hành các hạnh như vậy nhưng Đại Bồ-tát ấy hoàn toàn không nắm bắt pháp nào. Vì sao vậy? Vì tất cả pháp đều không tự tánh.
Thiện Hiện, đó là Đại Bồ-tát mới phát tâm dựa vào học sáu pháp Ba-la-mật-đa tuần tự thi hành mọi việc, tuần tự tu học và tuần tự thực hành các hạnh và làm việc lợi ích cho các hữu tình.
Lại nữa Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát tuần tự thi hành mọi việc, tuần tự tu học và tuần tự thực hành các hạnh, từ lúc mới phát tâm đã dùng tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí, tin hiểu tất cả các pháp đều lấy không tánh làm tự tánh. Trước tiên họ phải học tùy niệm về Phật, kế đến phải tu học tùy niệm về Pháp, kế đó phải tu học tùy niệm về Tăng, kế đó phải tu học tùy niệm về Giới, kế đó phải tu học tùy niệm về Xả, cuối cùng phải tu học tùy niệm về Thiên.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát tùy niệm về Phật như thế nào? Nghĩa là lúc tu học tùy niệm về Phật, Đại Bồ-tát không được dùng sắc để tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, không nên dùng thọ, tưởng, hành, thức tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì sao vậy? Vì sắc cho đến thức đều không tự tánh, pháp nào không tự tánh thì không thể tùy niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không
suy nghĩ, không tư duy đó là tùy niệm về Phật.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc tu học tùy niệm về Phật, các Đại Bồ-tát không nên dùng ba mươi tướng tốt tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, không nên dùng thân màu vàng ròng thường phát ánh sáng rộng một tầm và tám mươi vẻ đẹp để tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì sao vậy? Vì tướng tốt và sắc thân có ánh sáng vàng kim đều không tự tánh. Pháp nào không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy đó là tùy niệm về Phật.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc tu học tùy niệm về Phật, các Đại Bồ-tát không nên dùng giới uẩn tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, không nên dùng định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì sao vậy? Vì các uẩn này đều không tự tánh. Nếu pháp không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy đó là tùy niệm về Phật.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc tu học tùy niệm về Phật, các Đại Bồ-tát không nên dùng năm loại mắt, sáu phép thần thông tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, không nên dùng mười lực của Phật cho đến mười tám pháp Phật bất cộng tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì sao vậy? Vì các pháp như vậy đều không có tự tánh. Nếu pháp không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy đó là tùy niệm về Phật.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc tu học tùy niệm về Phật, các Đại Bồ-tát không nên dùng pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, không trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng và vô số Phật pháp khác tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì sao vậy? Các pháp như vậy đều không tự tánh. Nếu pháp không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy đó là tùy niệm về Phật.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc tu học tùy niệm về Phật, các Đại Bồ-tát không nên dùng pháp duyên tánh tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, không nên dùng pháp duyên khởi tư duy về Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì sao vậy? Duyên tánh, duyên khởi đều không tự tánh, pháp nào không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao
 vậy? Nếu không niệm, không tư duy đó là tùy niệm về Phật.
Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát phải tu học tùy niệm về Phật như vậy. Nếu tu học tùy niệm về Phật như vậy thì đó là tuần tự thi hành mọi việc, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh. Đại Bồ-tát nào cò thể tuần tự hành dụng, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh liền có thể viên mãn bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; cũng có thể viên mãn bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc, cũng có thể viên mãn tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; cũng có thể viên mãn Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; cũng có thể viên mãn pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; cũng có thể viên mãn chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; cũng có thể viên mãn Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; cũng có thể viên mãn pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; cũng có thể viên mãn các địa Bồ-tát; cũng có thể viên mãn tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; cũng có thể viên mãn năm loại mắt, sáu phép thần thông; cũng có thể viên mãn mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; cũng có thể viên mãn pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; cũng có thể viên mãn trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng. Nhờ đó họ chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện, nhờ sức phương tiện lấy tất cả pháp không tánh làm tánh nên Đại Bồ-tát này biết tất cả pháp đều không tự tánh, trong đó cũng không có tưởng cũng không không tưởng. Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên tu học tùy niệm về Phật như vậy, nghĩa là trong tánh không tánh của tất cả các pháp, Phật còn chẳng thể nắm bắt được huống là có tùy niệm về Phật.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát phải tu học tùy niệm về Pháp như thế nào? Nghĩa là lúc tu học tùy niệm về Pháp, các Đại Bồ-tát không nên tư duy về pháp lành, pháp ác, không nên tư duy về pháp hữu ký, pháp vô ký, không nên tư duy về pháp thế gian, pháp xuất thế gian, không nên tư duy về pháp có mê đắm và pháp không mê đắm, không nên tư duy về pháp tranh cãi và pháp không tranh cãi, không nên tư duy về pháp Thánh và chẳng phải Thánh, không nên tư duy về pháp hữu lậu và pháp vô lậu, không nên tư duy về pháp đọa ba cõi và pháp không
đọa ba cõi, không nên tư duy về pháp thuộc cảnh giới hữu vi và pháp thuộc cảnh giới vô vi. Vì sao vậy? Các pháp như vậy đều không tự tánh. Pháp nào không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy thì đó là tùy niệm về Pháp.
Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát nên tu học tùy niệm về Pháp như vậy. Nếu tu học tùy niệm về Pháp thì đó là hành dụng tuần tự, tu học tuần tự, thực hành của hạnh tuần tự. Đại Bồ-tát nào có thể tuần tự hành dụng, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy thì có thể viên mãn bốn Niệm trụ nói rộng cho đến trí Nhất thiết tướng và nhờ đó vị ấy chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện, nhờ sức phương tiện dùng tất cả pháp không tánh làm tánh nên Đại Bồ-tát này giác ngộ tất cả pháp đều không tự tánh, ở trong đó cũng không có tưởng cũng không không tưởng. Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên tu học tùy niệm về Pháp như vậy, nghĩa là trong tánh không tánh của tất cả các pháp, pháp còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có tùy niệm về Pháp.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát phải tu học tùy niệm về Tăng như thế nào? Đó là lúc tu học tùy niệm về Tăng, Đại Bồ-tát này nên nghĩ rằng: “Chúng đệ tử Phật đầy đủ giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn thanh tịnh, bốn đôi, tám cặp Bổ-đặc-già-la, tất cả đều là sự biểu hiện của vô vi, đều lấy không tánh làm tự tánh. Vì lý do này nên không thể tư duy.” Vì sao vậy? Thiện sĩ như vậy đều không tự tánh. Nếu pháp không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy thì đó là tùy niệm về Tăng.
Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát nên tu tập tùy niệm về Tăng như vậy, nếu tu học tùy niệm về Tăng như vậy thì đó là làm mọi việc tuần tự, tu học tuần tự, thực hành các hạnh tuần tự. Đại Bồ-tát nào có thể làm mọi việc tuần tự, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy thì có thể viên mãn bốn Niệm trụ nói rộng cho đến trí Nhất thiết tướng và nhờ đó vị ấy chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện, nhờ sức phương tiện dùng tất cả pháp không tánh
làm tánh nên Đại Bồ-tát này giác ngộ tất cả pháp đều không tự tánh, bên trong cũng không có tưởng cũng không vô tưởng.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên tu học tùy niệm về Tăng như vậy, nghĩa là trong tánh không tánh của tất cả các pháp, Tăng còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có tùy niệm về Tăng.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát tu học tùy niệm về Giới như thế nào? Đó là từ lúc mới phát tâm tu học tùy niệm về Giới, Đại Bồ-tát này phải niệm Thánh giới không khuyết, không rỉ, không tỳ vết, không vấy bẩn, không bám víu vật gì, đáng nhận cúng dường, được người trí ca ngợi, khéo léo thọ trì, khéo léo hoàn tất, thuận theo thắng định, tư duy giới này lấy không tánh làm tánh. Vì lý do đó nên không thể tư duy. Vì sao vậy? Thánh giới hoàn toàn không tự tánh. Pháp nào là không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy thì đó là tùy niệm về Giới.
Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát nên tu học tùy niệm về Giới như vậy, nếu tu học tùy niệm về Giới như vậy thì đó là tuần tự làm mọi việc, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh. Đại Bồ-tát nào tuần tự làm mọi việc, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy thì có thể viên mãn bốn Niệm trụ cho đến trí Nhất thiết tướng và nhờ đó vị ấy chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện, nhờ vào sức phương tiện dùng tất cả pháp không tánh làm tánh nên Đại Bồ-tát này giác ngộ tất cả Pháp đều không tự tánh, trong đó cũng không có tưởng cũng không vô tưởng.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát phải tu học tùy niệm về Giới như vậy, nghĩa là trong tánh không tánh của tất cả các pháp, Giới còn chẳng thể nắm bắt được làm sao có tùy niệm về Giới.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát tu học tùy niệm về Xả như thế nào? Đó là từ lúc mới phát tâm tu học tùy niệm về Xả, Đại Bồ-tát này phải thường niệm xả, hoặc nghĩ tự buông xả, hoặc nghĩ việc buông xả của người khác, hoặc nghĩ xả bỏ của cải, hoặc nghĩ buông xả pháp, đối với việc xả thí quyết không sinh tâm: “Ta có thể xả thí hoặc không xả thí”, nếu xả bỏ các bộ phận của thân thì cũng không sinh tâm: Ta có thể xả thí hoặc không xả thí, cũng không tư duy về nơi xả, nơi cho, phước bố thí và quả báo của việc bố thí.” Vì sao vậy? Các pháp như vậy đều
không tự tánh. Pháp nào không tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy thì đó là tùy niệm về Xả.
Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát nên tu học tùy niệm về Xả như vậy. Nếu tu học tùy niệm về Xả như vậy thì đó là làm mọi việc tuần tự, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh. Đại Bồ-tát nào có thể làm mọi việc tuần tự, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy thì có thể viên mãn bốn Niệm trụ cho đến trí Nhất thiết tướng và nhờ đó vị ấy chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện, nhờ sức phương tiện dùng tánh không tánh của tất cả pháp làm tánh, Đại Bồ-tát ấy giác ngộ tất cả pháp đều không tự tánh, trong đó cũng không có tưởng cũng không có vô tưởng.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên tu học tùy niệm về Xả như vậy. Nghĩa là trong tất cả pháp không tánh, xả còn chẳng thể nắm bắt được thì làm sao có tùy niệm về Xả.
Thiện Hiện, Đại Bồ-tát tu học tùy niệm về Thiên như thế nào? Đó là từ lúc mới phát tâm tu học tùy niệm về Thiên, Đại Bồ-tát này phải nghĩ rằng: “Nhờ có Tín, Giới, Văn, Xả, Tuệ trong sạch nên chư Thiên ở cõi trời Tứ đại Thiên vương cho đến chư Thiên trời Tha hóa tự tại từ cõi này qua đời, sinh về cõi trời ấy, nay ta cũng có Tín, Giới, Văn, Xả, Tuệ trong sạch, tương tợ như công đức các vị Thiên ấy.” Vị ấy lại nghĩ rằng: “Những người chứng quả Dự lưu sinh vào cõi trời Dục giới, những người chứng quả Bất hoàn sinh ở hai cảnh giới cao hơn.” Tất cả pháp như vậy đều không thể nắm bắt và không thể tư duy. Vì sao vậy? Vì chư Thiên này đều không có tự tánh. Pháp nào không có tự tánh thì không thể niệm, không thể tư duy. Vì sao vậy? Nếu không niệm, không tư duy thì đó là tùy niệm về Thiên.
Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát phải tu học tùy niệm về Thiên như vậy. Nếu tu học tùy niệm về Thiên như vậy thì đó là làm mọi việc tuần tự, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh. Đại Bồ-tát nào có thể làm mọi việc tuần tự, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh như vậy thì có thể viên mãn bốn Niệm trụ cho đến trí Nhất thiết tướng và nhờ đó chứng đắc trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện, nhờ vào sức phương tiện dùng tất cả pháp không tánh làm tánh, Đại Bồ-tát này giác ngộ tất cả Pháp đều không tự tánh, trong đó cũng không có tưởng cũng không có vô tưởng.
Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát nên tu học tùy niệm về Thiên này nghĩa là trong tánh không tánh của tất cả các pháp, các trời còn chẳng thể nắm bắt được thì làm sao có tùy niệm về Thiên.
Lại nữa Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nếu muôn viên mãn việc tuần tự làm mọi việc, tuần tự học, tuần tự thực hành các hạnh, các Đại Bồ-tát phải dùng tất cả pháp không tánh làm tánh và do sức phương tiện nên phải học pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; phải học chân như cho đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn; phải học Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; phải học bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; phải học bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; phải học tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; phải học pháp môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô nguyện; phải học Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; phải học Bồ-tát địa; phải học tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; phải học năm loại mắt, sáu phép thần thông; phải học mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; phải học pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; phải học trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng.
Thiện Hiện, lúc tu học Bồ-đề đạo như vậy, Đại Bồ-tát này giác ngộ tất cả pháp đều dùng không tánh làm tự tánh, ở trong đó còn không có một thoáng niệm có thể nắm bắt huống là có niệm sắc, thọ, tưởng, hành, thức; huống là có niệm nhãn xứ cho đến ý xứ; huống là có niệm sắc xứ cho đến pháp xứ; huống là có niệm nhãn giới cho đến ý giới; huống là có niệm sắc giới cho đến pháp giới; huống là có niệm nhãn thức giới cho đến ý thức giới; huống là có niệm nhãn xúc cho đến ý xúc; huống là có niệm các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra; huống là có niệm địa giới cho đến thức giới; huống là có niệm nhân duyên cho đến tăng thượng duyên; huống là có niệm vô minh cho đến lão tử; huống là có niệm Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa; huống là có niệm pháp không bên trong cho đến pháp không không tánh tự tánh; huống là có niệm chân như cho đến cảnh
 giới chẳng thể nghĩ bàn; huống là có niệm Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo; huống là có niệm bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; huống là có niệm bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; huống là có niệm tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; huống là có niệm pháp môn giải thoát Không cho đến Vô tướng, Vô nguyện; huống là có niệm bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai; huống là có niệm bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân; huống là có niệm tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; huống là có niệm năm loại mắt, sáu phép thần thông; huống là có niệm mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; huống là có niệm ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ; huống là có niệm pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; huống là có niệm trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; huống là có niệm quả Dự lưu cho đến Độc giác Bồ-đề; huống là có niệm tất cả các hạnh của Bồ-tát; huống là có niệm quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật; huống là có niệm trí Nhất thiết trí.
Thiện Hiện, các niệm và pháp được niệm này nếu thật có một phần nhỏ nào đó là vô lý. Như vậy, Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, tuy các Đại Bồ-tát làm mọi việc tuần tự, tuần tự tu học, tuần tự thực hành các hạnh nhưng ở trong đó tâm hoàn toàn không lay chuyển vì tất cả pháp đều không có tự tánh.
Cụ thọ Thiện Hiện thưa:
–Bạch Thế Tôn, nếu tất cả pháp đều không tự tánh thì phải không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức cho đến không có trí Nhất thiết trí, thì phải không có Phật, Pháp, Tăng bảo, quả đạo, nhiễm, tịnh cũng không có, không hiện quán thì tất cả pháp đều phải là không.
Phật bảo:
–Thiện Hiện, ý ông nghĩ sao? Ở trong tánh không tánh của tất cả các pháp có tánh, không tánh là có thể nắm bắt được không?
Thiện Hiện đáp:
–Không, thưa Thế Tôn.
Phật bảo:
–Thiện Hiện, nếu trong tánh không tánh của tất cả các pháp, có tánh, không tánh đều chẳng thể nắm bắt được, thì nay vì sao ông có thể nói nếu tất cả pháp đều không tự tánh thì phải không sắc, thọ, tưởng
hành, thức cho đến không phải chứng đắc và hiện quán tất cả pháp đều phải là không.
Thiện Hiện thưa:
–Bạch Thế Tôn, con không có nghi ngờ ý nghĩa này, chỉ vì lo tương lai của Bí-sô… hoặc cầu Thanh văn, hoặc cầu Độc giác, hoặc cầu Phật quả. Họ nghĩ rằng: “Nếu tất cả pháp đều không tự tánh thì ai nhiễm, ai tịnh, ai buộc, ai mở.” Do không hiểu biết đối với nghĩa nhiễm, tịnh, buộc, mở, nên họ hủy giới, hủy kiến, hủy oai nghi, hủy tịnh mạng. Do đó họ sẽ đọa trong ba đường ác, chịu các nỗi khổ dữ dội, khó được giải thoát, con quán thấy đời vị lai sẽ có những việc đáng sợ như vậy cho nên nói thế chớ thật sự con không nghi ngờ việc ấy.
Phật bảo:
–Thiện Hiện, lành thay, lành thay, nay ông có thể vì các Bí-sô đời vị lai hỏi như vậy, nhưng tất cả pháp đều không tự tánh, hoặc có, hoặc không đều chẳng thể nắm bắt được.

Phẩm 74: KHÔNG TƯỚNG (1)
Bấy giờ Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu tất cả pháp đều dùng không tánh là tự tánh thì vì những nghĩa gì mà các Đại Bồ-tát muốn lợi ích, an lạc hữu tình, cầu hướng đến quả vị Giác ngộ cao tột?
Phật bảo:
–Thiện Hiện, do tất cả pháp đều lấy không tánh làm tự tánh nên các Đại Bồ-tát muốn làm lợi ích an lạc hữu tình. Vì sao vậy? Các loài hữu tình có đủ đoạn kiến, thường kiến, trụ nơi có sở đắc, khó có thể điều phục ngu si điên đảo, khó có thể giải thoát.
Thiện Hiện, nên biết người trụ nơi có sở đắc do tưởng có sở đắc nên không chứng đắc, không hiện quán, cũng không có quả vị Giác ngộ cao tột.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu người có sở đắc thì không chứng đắc, không hiện quán, cũng không có quả vị Giác ngộ cao tột, còn người
 không có sở đắc thì có chứng đắc, có hiện quán và có quả vị Giác ngộ cao tột không?
Phật bảo:
–Thiện Hiện, nếu không có sở đắc thì tức là chứng đắc, tức là hiện quán, tức là quả vị Giác ngộ cao tột. Vì sao vậy? Vì nó không phá hoại pháp giới tướng.
Thiện Hiện nên biết, nếu có người ở trong pháp vô sở đắc này muốn có sở đắc, muốn được hiện quán, muốn chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột thì nên biết người ấy muốn phá hoại pháp giới.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu người có sở đắc không chứng đắc, không hiện quán, cũng không có quả vị Giác ngộ cao tột còn người không có sở đắc tức là chứng đắc, tức là hiện quán, tức là quả vị Giác ngộ cao tột, ở trong vô sở đắc không chứng đắc, không hiện quán, cũng không có quả vị Giác ngộ cao tột thì các Đại Bồ-tát làm sao có được Sơ địa cho đến Thập địa, làm sao có được Vô sinh pháp nhẫn, làm sao có được quả báo thần thông, làm sao có được quả báo của Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, làm sao an trụ quả báo của sinh pháp, đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật, cúng dường các phẩm vật vi diệu cho các Đức Phật, thu được căn lành cho đến quả vị Giác ngộ cao tột mà quả báo vẫn chưa hết, lần lượt cho đến sau khi nhập Niết-bàn xá-lợi của Phật và các đệ tử vẫn được cung kính cúng dường, lúc bấy giờ thế lực căn lành mới cùng tận.
Phật bảo:
–Thiện Hiện, do tất cả pháp vô sở đắc nên các Đại Bồ-tát có được Sơ địa cho đến Thập địa, chính vì lẽ ấy nên có được Vô sinh pháp nhẫn, chính vì lẽ ấy nên có được quả báo của thần thông, chính vì lẽ ấy nên có được quả báo của việc Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, chính vì lẽ ấy nên nên được an trụ quả báo của sinh pháp, đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật, cúng dường các phẩm vật vi diệu cho các Đức Phật, thu được căn lành cho đến khi đạt được quả vị Giác ngộ cao tột mà quả báo vẫn chưa hết, lần lượt cho đến sau khi nhập Niết-bàn xá-lợi của Phật và các đệ tử vẫn được cung kính cúng dường, bấy giờ thế lực căn lành mới cùng tận.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, nếu tất cả pháp đều vô sở đắc thì Bố thí, Tịnh giới, An nhẫn, Tinh tấn, Tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật-đa và các thần thông có gì sai khác?
Phật bảo:
–Thiện Hiện, pháp vô sở đắc là sáu pháp Ba-la-mật-đa như Bố thí… và các thần thông đều không khác nhau nhưng vì muốn giúp cho người có sở đắc kia lìa bỏ các sự đắm nhiễm, ta mới phương tiện giảng nói sáu pháp Ba-la-mật-đa như Bố thí… và các thần thông có tướng sai khác.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì lý do gì mà người không có sở đắc nói pháp sáu pháp Ba-la-mật-đa như Bố thí… và các thần thông không có sai khác?
Phật bảo:
–Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát không trụ vào việc Bố thí, không trụ vào người thí, không trụ vào người nhận, không trụ vào nơi bố thí, không trụ vào quả báo của việc bố thí để thực hành bố thí; không trụ vào Tịnh giới mà hộ trì tịnh giới; không trụ vào An nhẫn mà tu an nhẫn; không trụ vào Tinh tấn mà siêng năng tinh tấn; không trụ vào Tĩnh lự mà nhập vào các thiền định; không trụ vào Bát-nhã mà sinh Bát-nhã; không trụ vào thần thông mà sinh thần thông; không trụ vào bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo mà tu bốn Niệm trụ cho đến tám chi Thánh đạo; không trụ vào ba pháp môn giải thoát mà tu ba pháp môn giải thoát; không trụ vào bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc mà tu bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; không trụ tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ mà tu tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; không trụ Bồ-tát địa mà tu Bồ-tát địa; không trụ tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa mà tu tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; không trụ năm loại mắt, sáu phép thần thông mà tu năm loại mắt, sáu phép thần thông; không trụ mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng mà tu mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; không trụ pháp không quên mất, tánh luôn
luôn xả mà tu pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; không trụ trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng mà tu trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; không trụ vào hữu tình mà đem lại sự thành tựu cho hữu tình, không trụ vào cõi Phật mà trang nghiêm cõi Phật; không trụ vào tất cả pháp Phật mà chứng đắc quả vị Giác ngộ cao tột.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát phải thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vô sở đắc. Đại Bồ-tát nào có thể thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa vô sở đắc thì tất cả ác ma và quyến thuộc của ác ma đều không thể phá hoại.
Bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát phải làm thế nào để nhất tâm hiện khởi thì có thể nắm giữ sáu pháp Ba-la-mật-đa, cũng có thể nắm giữ bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Định vô sắc; cũng có thể nắm giữ ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề; cũng có thể nắm giữ ba pháp môn giải thoát; cũng có thể nắm giữ tám Giải thoát cho đến mười Biến xứ; cũng có thể nắm giữ tất cả pháp môn Đà-la-ni, tất cả pháp môn Tam-ma-địa; cũng có thể nắm giữ năm loại mắt, sáu phép thần thông; cũng có thể nắm giữ mười lực của Như Lai cho đến mười tám pháp Phật bất cộng; cũng có thể nắm giữ pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; cũng có thể nắm giữ trí Nhất thiết, trí Đạo tướng, trí Nhất thiết tướng; cũng có thể nắm giữ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ.
Phật bảo:
–Thiện Hiện, lúc Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, nếu pháp tu Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa đều được Bát-nhã ba-la-mật-đa nắm giữ thì mới được viên mãn, như vậy cho đến pháp tu ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ đều được Bát-nhã ba-la-mật-đa nắm giữ thì mới được viên mãn.
Như vậy, Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát nhất tâm hiện khởi thì có thể hộ trì sáu pháp Ba-la-mật-đa như vậy cho đến cũng có thể hộ trì ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì sao lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu
 xa, các Đại Bồ-tát có làm việc gì đều được Bát-nhã ba-la-mật-đa hộ trì nên xa lìa cho nên nhất tâm hiện khởi liền có thể hộ trì sáu pháp Ba-la-mật-đa cho đến ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ.
Phật bảo:
–Thiện Hiện, lúc các Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, pháp tu Bố thí cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa đều được Bát-nhã ba-la-mật-đa hộ trì nên xa lìa hai tưởng, như vậy cho đến pháp tu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ cũng được Bát-nhã ba-la-mật-đa hộ trì nên xa lìa hai tưởng.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì sao lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát tuy tu thực hành Bố thí cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa mà không có hai tưởng như vậy cho đến tu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ mà không có hai tưởng?
Phật bảo:
–Thiện Hiện, lúc các Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, vì muốn viên mãn Bố thí ba-la-mật-đa nên ở trong Bố thí ba-la-mật-đa, các Đại Bồ-tát hộ trì tất cả Ba-la-mật-đa cho đến ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ để thực hành bố thí và nhờ đó nên không có hai tưởng. Như vậy cho đến vì muốn viên mãn tám mươi vẻ đẹp nên ở trong tám mươi vẻ đẹp họ hộ trì tất cả Ba-la-mật-đa cho đến ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp để tu tám mươi vẻ đẹp và do đó mà không có hai tưởng.
Lại nữa Thiện Hiện, do các Đại Bồ-tát thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên nếu thực hành Bố thí ba-la-mật-đa thì trụ tâm vô lậu mà thực hành Bố thí ba-la-mật-đa, nếu thực hành Tịnh giới cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa thì trụ ở tâm vô lậu mà thực hành Tịnh giới cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, do đó tuy thực hành Bố thí cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa nhưng không có hai tưởng. Như vậy cho đến nếu tu ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ thì trụ vào tâm vô lậu ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ, nếu tu tám mươi vẻ đẹp thì trụ vào tâm vô lậu mà tu tám mươi vẻ đẹp. Vì vậy tuy tu ba mươi hai tướng của bậc Đại sĩ và tám mươi vẻ đẹp nhưng vị ấy không có hai tưởng.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, vì sao lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên lúc thực hành Bố thí ba-la-mật-đa thì trụ ở tâm vô lậu mà thực hành Bố thí ba-la-mật-đa, như vậy cho đến tám mươi vẻ đẹp thì trụ vào tâm vô lậu mà tu tám mươi vẻ đẹp?
Phật bảo:
–Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát nào dùng tâm lìa tướng, không thấy các tướng để thực hành Bố thí ba-la-mật-đa, có nghĩa là không thấy ai có thể thực hành bố thí, bố thí vật gì mà cho ai, ai nhận vật thí này, vì sao thực hành bố thí. Vị ấy vì trụ vào tâm vô lậu, ly tướng, lìa tham ái, lìa bỏn sẻn mà thực hành Bố thí ba-la-mật-đa. Khi đó, vị ấy không thấy nơi thực hành bố thí, cũng không thấy tâm vô lậu này cho đến không thấy tất cả Phật pháp. Đại Bồ-tát này trụ vào tâm vô lậu mà thực hành Bố thí ba-la-mật-đa. Như vậy cho đến lúc mà thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, Đại Bồ-tát nào dùng tâm lìa tướng không thấy các tướng mà tu tám mươi vẻ đẹp, nghĩa là không thấy ai là người tu tám mươi vẻ đẹp, tu tám mươi vẻ đẹp với ai, vì việc gì mà tu tám mươi vẻ đẹp, làm sao để tu tám mươi vẻ đẹp. Khi vị ấy trụ vào tâm vô lậu, lìa tướng này, không nhiễm, không đắm để tu tám mươi vẻ đẹp, thì không thấy chỗ tu tám mươi vẻ đẹp cũng không thấy tâm vô lậu này cho đến không thấy tất cả Phật pháp. Như vậy, Đại Bồ-tát này trụ vào tâm vô lậu để thực hành tám mươi vẻ đẹp.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, đối với tất cả pháp không có tướng, không có tạo tác, Đại Bồ-tát làm sao có thể viên mãn Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, như vậy cho đến làm sao có thể viên mãn ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ?
Phật bảo:
–Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, các Đại Bồ-tát có thể dùng tâm vô lậu để thực hành bố thí, tùy theo nhu cầu của các hữu tình, vị ấy đều bố thí đầy đủ. Nếu có người cần đầu, mắt, tủy não, da thịt, tay, chân, gân, xương, thân mạng ở bên trong vị ấy cũng đều bố thí, nếu có người cần quốc thành, vợ con, thân thuộc yêu quý của mình và các đồ vật trang sức ở bên ngoài thì vị ấy cũng đều
bố thí cho. Lúc bố thí như vậy, giả sử có người đến trước mặt quở mắng: “Than ôi, Đại sĩ! Thực hành việc bố thí vô ích này làm gì? Người bố thí như vậy sẽ gặp các khổ não vào đời này và đời sau.” Nhờ thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nên tuy nghe lời ấy nhưng Đại Bồ-tát này không bị thoái lui, mà chỉ nghĩ rằng: “Tuy người kia đến quở mắng ta, nhưng ta không nên buồn rầu hối hận. Ta phải dũng mãnh bố thí cho các hữu tình những vật họ cần dùng không chút mệt mỏi.” Đại Bồ-tát này đem công đức của việc bố thí đó cho các hữu tình một cách bình đẳng rồi cùng nhau hồi hướng quả vị Giác ngộ cao tột. Lúc bố thí và hồi hướng họ không thấy tướng ấy, nghĩa là không thấy ai có thể bố thí, nơi thí, vật thí, ai nhận bố thí, lý do bố thí, cũng không thấy ai hồi hướng, hồi hướng vật gì, lý do hồi hướng, hồi hướng nơi nào, đối với tất cả các vật và việc như vậy họ đều không thấy. Vì sao vậy? Các pháp như vậy đều do pháp không bên trong nên không, như vậy cho đến do pháp không tự tướng nên không.
Sau khi đã quán tất cả các pháp đều chân không rồi, Đại Bồ-tát này lại nghĩ rằng: “Ai có thể hồi hướng, hồi hướng vật gì, lý do hồi hướng, hồi hướng nơi nào. Các pháp như vậy đều chẳng thể nắm bắt được.” Do Đại Bồ-tát này quán như vậy và niệm như vậy nên việc hồi hướng đó gọi là hồi hướng trọn vẹn. Nhờ đó họ lại có thể đem lại sự thành tựu cho hữu tình, làm nghiêm tịnh cõi Phật, cũng có thể viên mãn Bố thí ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã ba-la-mật-đa, như vậy cho đến cũng có thể viên mãn ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của bậc Đại sĩ, tuy có thể viên mãn Bố thí ba-la-mật-đa như vậy, nhưng Đại Bồ-tát này không nắm giữ quả báo của bố thí. Tuy không nhận lấy quả Dị thục của bố thí nhưng nhờ Bố thí ba-la-mật-đa hoàn toàn thanh tịnh nên vị ấy có thể có đầy đủ mọi đồ vật theo ý muốn giống như mọi thứ cần dùng của chư Thiên trời Tha hóa tự tại đều hiện ra theo ý, cũng vậy các vật mà Đại Bồ-tát này cần dùng đều đầy đủ theo ý. Họ có thể đem các phẩm vật vi diệu để cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen chư Phật Thế Tôn, cũng có thể làm cho Trời, Người, A-tố-lạc và thế gian có đầy đủ các thứ cần dùng. Nhờ việc Bố thí ba-la-mật-đa vị ấy thu nhiếp các hữu tình, phương tiện thiện xảo dùng pháp ba thừa để an lập họ, giúp họ đều được lợi tùy theo căn cơ.
Như vậy, Thiện Hiện, lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa nhờ năng lực của tâm vô lậu xa lìa các tướng, các Đại Bồ-tát này có thể ở trong pháp không có tướng, không có tạo tác làm viên mãn Bố thí ba-la-mật-đa, cũng có thể viên mãn các công đức khác.
/52
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »