Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 166, Bộ Chư Tông VI, Số 1888- 1910

Đại Tập 166, Bộ Chư Tông VI, Số 1888- 1910

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 800.

Chương 39: Lương Hoàng Bảo Sám - Quyển 4, Chương Thứ Tám: Ra Khỏi Địa Ngục (Trang 608 - 623)

                        CHƯƠNG THỨ TÁM: RA KHỎI ĐỊA NGỤC

Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nên biết rằng: Vạn pháp không đồng, công dụng bất nhất, như sáng và tối đối đãi nhau. Tuy nhiên chỉ có thiện và ác là gồm thâu tất cả.
Làm thiện được các quả báo tốt đẹp ở các cõi trời cõi người, làm ác thời mắc quả báo xấu xa, đau khổ kịch liệt trong ba đường ác.
 Đó là hai sự thật rõ ràng trên đời, không phải giả dối. Nhưng người ngu si lầm lạc phần nhiều sanh tâm nghi ngờ, hoặc cho cõi trời là chuyện bịa đặt, địa ngục là lời nói dối không có. Những người ấy không biết suy nhơn, nghiệm quả, không biết xét quả tìm nhơn. Người không biết phân biệt nhơn quả, thì cứ chấp lấy sự hiểu biết sai lầm của thế gian. Không những chấp không, chấp có mà còn làm thơ, làm bài để biếm xích. Tâm họ trái với điều thiện lợi mà không hề tự biết sai lầm. Giả như có người chỉ bảo cho thì họ càng chấp chặt lấy thiên kiến, sai lầm còn kiên cố hơn nữa. Những người như thế là họ tự gieo đầu vào đường ác. Trong nháy mắt thường thẳng xuống địa ngục, từ thân hiếu tử không thể cứu được. Họ đi vào hầm lửa, vạc dầu trước hơn ai hết. Họ đi thiêu thân trong lửa nóng vạc dầu sôi mà không tự biết. Thân tâm tan nát, tinh tần thống khổ, khi ấy ăn năn không kịp.
Ngày nay đại chúng trong đạo tràng thấy rõ thiện ác nương nhau như bóng theo hình, như vang theo tiếng.
Tội phước hai đường tuy khác nhau nhưng cũng phải đợi kỳ trả quả báo nghiêm ngặt, mong sao mọi người đều sáng suốt tin tưởng không sanh tâm nghi ngờ.
Sao lại là địa ngục?
Kinh dạy rằng:
 Trong tam thiên đại thiên thế giới, ở giữa khoảng hai núi Thiết vi, chỗ tối tăm nhất gọi là địa ngục, thành bằng sắt, dài rộng một ngàn sáu trăm vạn dặm. Trong thành chia ra tám vạn bốn ngàn ngăn. Dưới lấy sắt làm đất, trên lấy sắt làm lưới. Lửa đốt thành ấy trong ngoài cháy đỏ chảy ra nước. Lửa trên chảy suốt xuống dưới, lửa dưới cháy suốt bốc lên trên.
 Tên của mỗi ngục là:
Ngục nhóm họp,
Ngục tối tăm,
 Ngục xe dao,
Ngục rừng kiếm,
Ngục máy sắt,
Ngục rừng gai,
 Ngục võng sắt,
Ngục hang sắt,
Ngục hoàn sắt,
Ngục đá nhọn,
Ngục hầm than,
Ngục rừng cháy,
 Ngục hổ lang,
Ngục kêu la,
 Ngục nước sôi,
Ngục than nóng,
Ngục núi dao,
Ngục rừng kiếm,
Ngục đá mài lửa,
Ngục thành lửa,
Ngục cột trụ đồng,
 Ngục giường sắt,
Ngục xe lửa,
Ngục bánh xe lửa,
Ngục uống nứơc đồng sôi,
Ngục khạc ra lửa,
 Ngục hết sức nóng,
 Ngục hết sức lạnh,
 Ngục rút lưỡi,
Ngục đóng đinh vào thân,
Ngục trâu cày,
 Ngục chém chặt,
Ngục đao binh,
Ngục mổ xẻ,
Ngục sông tro,
Ngục tiểu dãi trào lên,
Ngục giá lạnh,
 Ngục bùn lầy,
Ngục ngu si,
Ngục khóc lóc,
 Ngục đui điếc,
 Ngục câm ngọng,
 Ngục lưỡi câu sắt,
 Ngục mỏ nhọn sắt,
Lại có những đại tiểu nê lê A tỳ địa ngục.
Phật bảo đức A Nan:
- A: nghĩa là vô.
 - Tỳ: nghĩa là già.
 - A: nghĩa là vô.
- Tỳ: nghĩa là cứu.
Nói chung lại: A tỳ nghĩa là vô già, vô cứu; không ngăn dứt, không cứu vớt được.
 Lại nữa:
 A : Là không gián đoạn.
Tỳ : Là không lay động.
 A : Là hết sức nóng nhiệt.
Tỳ : Là hết sức khổ não.
A : Là không an nhàn.
 Tỳ : Là không an trú.
Tóm lại: A tỳ là hết sức hành hạ, không tạm nghĩ, không gián đoạn, không lay chuyển, hết sức khổ não, như nung như nấu, không an nhàn, không chấm dứt, cứ hành hạ mãi mãi nên gọi là A tỳ.
 Lại nữa:
A : là đại diệm: là lữa dữ.
 Tỳ : là mãnh nhiệt: là nóng dữ.
 Lửa dữ nhập tâm, gọi là A tỳ địa ngục.
Phật dạy Ngài A Nan: Địa ngục A tỳ dài rộng bằng nhau ba mươi hai vạn dặm. Bảy lớp thành sắt bao bọc ngục A tỳ. Dưới có mười tám ngăn, xung quanh có bảy lớp thành, đều có đặt rừng dao.
 Trong bảy lớp thành lại có rừng gươm. Dưới mười tám ngăn, ngăn có tám vạn bốn ngàn lớp. Bốn góc đều có bốn đại đồng cẩu, thân dài lớn đến một vạn sáu ngàn dặm, mắt như điện chớp, răng như cây gươm, nanh như núi dao, lưỡi như mũi sắt nhọn, toàn thân chân lông phun lửa dữ, hơi bay như khói, như thúi khó chịu, thế gian không có vật gì thúi bằng.
 Lại có mười tám ngục tốt, đầu như đầu La sát, miệng như miệng Dạ xoa. Chó có sáu mươi bốn con mắt, mắt tung ra xa những hoàn sắt nóng, như xe chạy xa mười dặm. Răng phía trên cao một trăm sáu mươi dặm. Trên đầu răng tuôn ra lửa dữ, đốt cháy xe sắt phía trước, làm cho xe kia mỗi lỗ lưới tròn, hóa làm một ức con dao lửa, kiếm xích sắc bén,
những lưỡi nhọn đền từ trong lửa dữ ấy lưu xuất. Lửa ra như suối chảy đốt cháy ngục thành A tỳ. Thành cháy đỏ như nước đồng sôi.
Bọn ngục tốt kia đầu có tám đầu trâu, mỗi mỗi đầu đều có mười tám cái sừng. Trên đầu mỗi sừng tuôn ra một đống lửa lớn. Đống lửa lớn lại hóa ra bánh xe dao lớn. Như bao nhiêu bánh xe, mỗi bánh xe như lớp theo nhau chạy trong lửa dữ ghê gớm, đầy cả A tỳ địa ngục.
Ở dưới đất thì có chó đại đồng cẩu há miệng lè lưỡi. Lưỡi như đòn xóc nhọn, le ra thì hóa thành vô lượng lưỡi, đầy cả A tỳ địa ngục.
Ở trong bảy lớp thành có bảy lớp cờ. Ở đầu mỗi cờ, lửa tuôn ra như suối trào vọt, nước sắt chảy cả A tỳ địa ngục.
Bốn cửa thành ngục A tỳ, ở trên mỗi ngưỡng cửa có mười tám chảo nước đồng sôi trào ra rồi chảy tràn đầy cả thành A tỳ.
Trong mỗi ngăn Địa ngục lại có tám vạn bốn ngàn rắn mãng xà sắt, phun độc, phun lửa, thân hình lớn đần thành, kêu la như sấm dậy, mưa xuống những hoàn sắt nóng lớn đầy cả thành A tỳ. Nỗi khổ trong thành kể đến tám vạn ức thiên. Bao nhiêu thống khổ trong những thống khổ đều tích tụ ở trong thành này.
Lại có năm trăm ức con trùng ở trong thành, mỗi con trùng có tam vạn bốn ngàn mỏ nhọn. Đầu mỗi mỏ nhọn có lửa tuôn như mưa xối, đầy cả thành A tỳ.
Mỗi khi trùng ấy rơi xuống thì lửa dữ trong thành A tỳ bốc ngọn lên dữ dội, hừng hực sáng choang. Lửa mạnh ấy chiếu đến ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. Từ A tỳ ngục xong lên biển cả, dưới núi ốc tiêu nước biển cả giọt xuống, một giọt lớn bằng trục bánh xe to, thành ra những mũi nhọn sắt lớn, đầy cả thành A tỳ.
Phật bảo Ngài A Nan: “Như chúng sanh nào giết cha hại mẹ, nhục nhã sáu dòng bà con, người ấy khi mạng chung chó sắt hả miệng, hóa làm mười tám chiếc xe, gióng như xe vàng có bảo cái che trên. Hết thảy mũi lửa nhọn kia hóa làm ngọc nữ. Người có tội kia xa trong thấy, sanh tâm vui mừng. Nghĩ rằng: “Ta muốn đến đó chơi, ta muốn đến đó chơi”. Khi đến rồi thì bị gió phong đao xẻ thân, lạnh quá chừng. Tội nhơn lại nghĩ: Há được lửa tốt, ngồi trên xe đốt lên mà hơ! Nghĩ như thế rồi liền chết. Trong giây phút lại thấy mình ngôi trên xe vàng ngắm xem ngọc nữ. Nhưng bị ngọc nữ cầm búa sắt chém thân. Dưới thân lửa bốc hừng hực, mau như chớp nhoáng, trong nháy mắt lại rơi vào A tỳ địa ngục.
Từ ngăn trên, chớp mắt đọa xuống ngăn dưới. Thân lớn đầy ngăn. Chó đồng cẩu lớn tiếng sủa lên và nhai xương nuốt tủy. Ngục tốt la sát cầm xoa sắt lớn xoa đầu bắt đứng dậy; lửa cháy khắp thân, cháy luôn
 thành A tỳ. Lưới sắt tuôn mưa dao, dao theo lỗ chân lông vào trong thân thể, hóa làm vua Diêm Vương. Vua lớn tiếng bảo rằng: “Kẻ ngu si giống ngục tốt kia, ngươi ở dương gian bất hiếu với cha mẹ, tà mạng không đạo đức nên phải đoạ vào chỗ này, gọi là A tỳ địa ngục. Ngươi là người không biết ơn, không hổ thẹn. Ngươi chịu khổ não như thế có sướng không?” Nói rồi, biến mất.
Bấy giờ ngục tốt lại đuổi tội nhơn từ ngăn dưới lên ngăn trên. Phải trải qua tám vạn bốn ngàn ngăn giữa mới qua khỏi lớp lưới sắt cuối cùng, một ngày một đêm mới khắp A tỳ địa ngục. Một ngày một đêm ở địa ngục bằng sáu chục tiểu kiếp ở dương gian. Tội nhơn sống như vậy trong địa ngục một đại kiếp.
Người phạm tội ngũ nghịch không biết hổ thẹn nên gây tội ấy. Vì tội ngũ nghịch nên khi lâm chung có mười tám thứ phong đao như xe lửa sắt cắt xẻ thân thể. Tội nhơn vì nóng bức nên nói thế này: “Nếu ta có các thứ hoa sắc đẹp ấy, cây đại thọ mát mẻ kia, ở đó dạo chơi há không vui sao!”.
Nghĩ như thế rồi thì có tám vạn bốn ngàn rừng ác kiếm hóa làm cây báu, hoa quả tốt tươi, sắp bày ra trước mắt, lửa nóng hừng hực, hóa làm hoa sen nơi gốc cây kia. Tội nhơn liền nghĩ thầm: “Ta đã mãn nguyện”.
Trong nháy mắt, tội nhơn liền ngồi trên hoa sen. Trong khoảnh khắc các trùng mỏ nhọn từ trong hoa lửa sanh ra rúc ráy cốt tủy, thấu suốt tâm can. Tội nhơn phải vịn cây đứng dậy. Các nhành cây hóa thành lưỡi kiếm, róc thịt chẻ xương. Vô lượng rừng đao từ không trung rơi xuống. Những lò hồng, xe lửa, mười tám điều đau khổ nhất thời đưa đến.
 Những tội này hiện ra thì tội nhơn bị hãm xuống địa ngục từng dưới, rồi từ từng dưới lên rừng trên. Thân hình lột hết như hoa nở. Trải khắp ngăn dưới rồi lên ngăn trên, bị lửa mạnh thiêu đốt dữ dội.
Đến ngăn trên rồi thân hình tràn khắp ngăn ấy, bị khổ não nung nấu vô cùng. Tội nhơn phải trợn mắt le lưỡi. Vì phạm tội ngũ nghịch, nên bị vạn ức đồng sôi, trăm ngàn đao luân, từ trên không rơi xuống, vào trên đầu, ra dưới chân; đau khổ còn gấp bội hơn trước một trăm, một ngàn vạn phần. Người phạm đủ năm nghịch tội phải chịu tội đủ năm kiếp.
Lại nữa, nếu người nào phá cấm giới của Phật, luống ăn dùng của tín thí, phỉ báng Tam bảo, tà kiến, không biết nhơn quả, không học trí huệ Bát Nhã, khinh chê mười phương Phật, trộm cắp của Pháp, làm
việc ô uế bất tịnh hạnh, không hổ thẹn, hủy nhục bà con, tạo các điều ác, người ấy khi sắp lâm chung, tội báo bị phong đao xẻ thân, nằm ngửa bất tỉnh như bị đánh  đập.
Tư tưởng hoang mang, si mê lầm lẩn. Thấy nhà cửa và con cái nam nữ và lớn nhỏ, cùng tất cả sự vật của mình đều bất tịnh. Tiểu dãi hôi thúi, tràn đầy thân thể. Bấy giờ người ấy nghĩ rằng:
 “ Sao đây không có thành quách và núi rừng tốt đẹp, để ta dạo chơi mà lại ở giữa đám bất tịnh ô uế này ư?
Nghĩ như thế rồi, liền bị ngục tốt La sát lấy cái xoa sắt lớn đánh ngục A tỳ, các rừng dao hóa làm cây báu và ao hồ mát mẻ, lửa dữ hóa làm hoa sen lá vàng; những con trùng sắt mỏ nhọn hóa làm chim phù nhạn. Những tiếng thống khổ trong địa ngục như âm thanh ca vịnh.
 Tội nhơn trong thấy tốt đẹp như vậy liền nghĩ rằng: “Ta mau đến đó dạo chơi”. Nghĩ xong liền thấy mình ngồi trên hoa sen lửa. Các trùng sắt mỏ nhọn từ các lỗ chân long trong chân rúc ra, cắn rứt thân thể. Trăm ngàn bánh xe sắt từ trên đảnh vào thân, hằng hà sa số xoa sắt, khiêu múc tròng mắt. Chó đồng cẩu trong địa ngục hóa làm trăm ức chó sắt dành nhau cấu xé thân hình tội nhơn, lấy trái tim mà ăn. Trong nháy mắt, thân thể đã thành cánh hoa sắt, tràn khắp mười tám ngăn ngục, mỗi mỗi hoa có tám vạn bốn ngàn lá, mỗi mỗi lá, đầu mình tay chơn chi tiết đều ở trong một ngăn, địa ngục không lớn, thân này không nhỏ, cho nên biến khắp địa ngục.
Những tội nhơn này đọa vào địa ngục ấy tám vạn bốn ngàn đại kiếp. Ngục này tiêu diệt rồi lại vào trong mười tám ngăn ngục khác, chịu khổ như trên. A tỳ ngục này về phương Nam cũng có mười tám ngăn; phương Tây cũng có mười tám ngăn; phương Bắc cũng có mười tám ngăn.
Hủy báng các kinh Phương đẳng Đại thừa, tạo đủ năm tội nghich, phá hoại Hiền Thánh, đoạn các căn lành. Những người như vậy chịu đủ tội lỗi. Thân lớn khắp A tỳ địa ngục; tứ chi trải khắp cả mười tám ngăn. A tỳ địa ngục này chỉ thiêu đốt những chúng sanh tạo giống địa ngục như trên. Khi kiếp địa ngục sắp hết thì thấy cửa địa ngục phương Đông liền mở. Tội nhơn nhìn thấy ngoài cửa ấy có dòng nước trong chảy mát mẻ; có rừng cây hoa qua tốt tươi hiện ra, những tội nhơn ở ngăn dưới nhìn thấy thì mắt tạm bớt đổ lửa. Từ ngăn dưới vươn mình lên quằn quại bò đi, tuột cả thân hình mà chạy lên ngăn trên, tay vịn bánh xe đao. Bấy giờ trên không trung mưa xuống những hoàn sắt nóng. Tội nhơn chạy đến cửa phương Đông, vừa đến cổng thì ngục tốt La sát cầm xoa sắt
đâm ngược vào tròng mắt của tội nhơn.
 Chó đồng cẩu nhai ngầu trái tim; tội nhơn phải chết ngất. Chết rồi sống lại, thấy cửa phương Nam mở như cửa phương Đông trước kia không khác.
 Cửa phương Tây, phương Bắc cũng đều như vậy. Trải qua thời gian nữa kiếp, tội nhơn phải chết trong A tỳ địa ngục.
 Chết rồi sống lại sanh vào địa ngục giá lạnh, rồi chết trong địa ngục hàn băng nầy. Chết rồi lại sống, sống rồi lại sanh vào địa ngục hắc ám, một trăm, một ngàn vạn năm, mắt không trông thấy, thân làm con đại trùng quằn quại bò đi; các căn ám độn, không hiểu biết gì phải quấy; lại bị một trăm, một ngàn hổ lang lôi kéo dành ăn. Chết rồi lại sanh vào loài súc sinh, năm ngàn vạn năm làm thân chim muông. Khổ sở như thế cho đến khi hết tội, được sanh làm người. Nhưng lại phải đui, điếc, ngọng, lịu, phong hủi, ung thư, bần cùng hạ tiện. Bao nhiêu suy đồi khổ sở mình phải tự rước lấy. Làm thân hèn hạ như vậy năm trăm lần sống thác. Lại sanh vào loài quỷ đói. Ở trong Ngạ quỷ gặp được Thiện tri thức các vị đại Bồ-tát quở trách nói rằng:
“Ngươi ở trong vô lượng đời về trước đã tạo ra vô lượng tội, phỉ báng Tam bảo, không tin nhơn quả nên đọa vào A tỳ địa ngục, chịu nhiều khổ não không thể kể xiết. Nay ngươi nên phát tâm từ bi”.
Bấy giờ Ngạ quỷ nghe lời ấy rồi liền xưng Nam mô Phật.
Nhờ sức hồng ân của chư Phật, liền được mạng chung, sanh lên cõi trời tứ thiên. Sanh lên đó rồi, ăn năn tự trách, phát tâm Bồ đề.
Tâm quang của chư Phật không bỏ những người phát tâm nầy, thâu nhiếp các người phát tâm như vậy và thương mến như La Hầu La. Dạy bảo tránh xa địa ngục, không cho thân sa đọa như quý tròng con mắt.
 Phật bảo Đại vương: “Muốn biết hào quang chư Phật thường chiếu nơi nào thì hãy xem hào quang ấy thường chiếu những nơi chúng sanh đau khổ như vậy không gián đoạn, không người cứu vớt. Tâm Phật thường biết nơi đâu? Thường biết những  nơi chúng sanh chịu hành phạt cực hình, cực ác như vậy. Vậy đem tâm Phật mà trau dồi tâm mình, trải qua nhiều số kiếp, khiến các người ác kia phát tâm Bồ đề”.
Hôm nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nghe lời Phật Thế Tôn nói các thống khổ như trên thì gia tâm giữ ý, chớ sanh lòng buông lung. Nếu đại chúng không siêng năng lập phương tiện tu hành Bồ-tát đạo thì ở trong mỗi địa ngục đều có tội phần.
Ngày nay đại chúng nên vì hết thảy chúng sanh hiện đang chịu
thống khổ trong A tỳ địa ngục, vì hết thảy chúng sanh sẽ chịu thống khổ trong A tỳ địa ngục, và rộng ra cho đến hết thảy chúng sanh hiện chịu và sẽ chịu vô cùng tận thống khổ trong hết thảy địa ngục ở mười phương  mà đầu thành đảnh lễ quy y thế gian Đại Từ Bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật .
 Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật .
Nam mô Quá Khứ Thất Phật .
Nam mô Thập Phương Thập Phật .
Nam mô Tam Thập Ngũ Phật .
Nam mô Ngũ Thập Tam Phật .
Nam mô Bách Thất Thập Phật .
Nam mô Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật .
 Nam mô Hiền Kiếp Thiên Phật .
Nam mô Tinh Tú Kiếp Thiên Phật .
 Nam mô Thập Phương Bồ-tát Ma Ha Tát.
Nam mô Thập Nhị Bồ-tát .
 Nam mô Địa Tạng Bồ-tát .
Nam mô Vô Biên Thân Bồ-tát .
Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát .
Lại xin quy y mười phương tận hư không giới vô lượng hình tượng:
Tượng vàng và tượng chiên đàn của vua Ưu Điền.
 Tượng đồng của vua A Dục
 Tượng đá của Ngô Trung
Tượng ngọc của nước Sư Tử.
Tượng vàng, tượng bạc, tượng lưu ly, tượng san hô, tượng hổ phách, tượng xa cừ, tượng mã não, tượng trân châu, tượng ma ni, tượng vàng tử ma thượng sắc diêm phù đàn ở trong các quốc độ. (1 lạy)
 Lại Quy y hết thảy các tháp thờ tóc của mười phương Phật:
Quy y hết thảy các tháp thờ hàm răng.
Quy y hết thảy các tháp thờ răng.
Quy y hết thảy các tháp thờ móng tay.
Quy y hết thảy các tháp thờ xương trên đảnh.
 Quy y hết thảy các tháp  thờ xá lợi trong thân.
Quy y hết thảy các tháp thờ cà sa.
Quy y hết thảy các tháp thờ muỗng, bình bát.
Quy y hết thảy các tháp thờ bình tắm rửa.
Quy y hết thảy các tháp thờ tích trượng.
Quy y hết thảy các nơi làm Phật sự như vậy. (1lạy)
Lại Quy y nơi tháp Phật giáng sinh. Quy y tháp Phật đắc đạo:
Quy y tháp Phật chuyển pháp luân.
Quy y tháp Phật nhập Niết Bàn.
Quy y tháp Phật Đa Bửu và tám vạn bốn ngàn tháp của vua A Dục tạo ra. Quy y tháp trên trời, tháp ở nhân gian và tất cả bảo tháp ở trong cung Long Vương.  (1 lạy)
Lại Quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy chư Phật .
 Quy y mười phương tận hư không giới hết thảy Tôn Pháp.
 Quy y mười phương tận hư giới hết thảy Hiền Thánh Tăng.(1 lạy)
Nguyện xin Tam bảo đồng đem từ bi lực an ủi chúng sanh lực, vô lượng đại tự tại lực, vô lượng đại thần thông lực, thâu nhiếp thọ lãnh chúng con, ngày nay sám hối thế cho hết thảy chúng sanh đang chịu khổ trong A tỳ đại địa ngục, sám hối thế rộng ra cho đến hết thảy chúng sanh trong tất cả địa ngục ở mười phương, nhiều không thể kể xiết: Sám hối thế cho cha mẹ, sư trưởng và tất cả bà con quyến thuộc. Nguyện xin Tam bảo dùng nước đại bi tẩy trừ tội lỗi cho hết thảy chúng sanh hiện đang chịu khổ trong A tỳ địa ngục và trong những địa ngục khác, khiến chúng sanh được thanh tịnh.
Nguyện xin Tam bảo tẩy trừ tội lỗi cho chúng sanh, hiện đồng sám hối trong đạo tràng hôm nay; tẩy trừ tội lỗi cho tất cả cha mẹ sư trưởng, cho hết thảy bà con quyến thuộc của chúng con, khiến tội lỗi được thanh tịnh.
Lại xin tẩy trừ tội lỗi cho tất cả chúng sanh trong sáu đường, khiến chúng sanh thẳng đến đạo tràng hoàn toàn thanh tịnh. Từ nay trở đi cho đến ngày thành Phật, chúng sanh đều đoạn trừ được hết khổ não trong A tỳ địa ngục. Rộng ra nữa là đoạn trừ hết thảy  thống khổ nhiều không thể nói, không thể nói trong các địa ngục, ở mười phương tận hư không giới. Chúng sanh ấy rốt ráo không còn đọa trở lại trong ba đường ác, rốt ráo không đọa trở lại trong các địa ngục, rốt ráo không còn tạo trở lại mười ác nghiệp; không còn tạo trở lại năm tội nghịch để chịu khổ não. Tất cả các tội nguyện đều tiêu diệt, bỏ sống địa ngục, được sống tịnh độ, bỏ mạng địa ngục, dược mạng trí tuệ, bỏ thân địa ngục, được thân kim cang, bỏ khổ địa ngục, được thân Niết Bàn; nhớ khổ địa ngục, phát
 tâm Bồ đề, tứ đẳng lục độ thường được hiện tiền; tứ biện lục thông đều được tự tại như ý; đầy đủ trí  tuệ tu đạo Bồ-tát , dõng mãnh tinh tấn, kkhông thôi không nghĩ, tu hành mãi lên cho đến mãn hạnh Thập địa vào tâm kim cang, thành đẳng chánh giác để trở lại đời này, độ thoát hết thảy chúng sanh trong mười phương.
 Hôm nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng còn có các địa ngục khác, chịu khổ rất phức tạp, không thể ghi chép. Danh hiệu như vậy, khổ sở vô cùng, đại chúng giở xem trong kinh sẽ thấy rõ việc ấy.
 Trong kinh Phật dạy rằng : “Một niệm ác của vua Diêm Vương sanh ra đủ các việc trong địa ngục. Tự thân Diêm Vương chịu khổ cũng không thể kể xiết”.
Diêm la Đại Vương xưa kia làm vị Tỳ sa quốc vương, nhơn vì cùng với Duy Đà thủy chúa chiến đấu thất bại, bèn lập thệ nguyện : “Nguyện ta đời sau làm chủ ngục trị tội nhơn vậy”.
 Mười tám vị đại thần và trăm vạn tùy tùng đồng phát nguyện như vậy.
Tỳ sa vương ấy nay là Diêm la vương, mười tám vị đại thần nay là mười tám vị ngục vương vậy.
Trăm vạn chúng tùy tùng nay là ngưu đầu ngục tốt vậy.
Bọn quan thuộc này đều lệ thuộc Bắc phương Tỳ sa môn thiên vương.
Kinh Trường A Hàm chép:
 “Chỗ ở của Diêm La Đại Vương, tại Diêm phù đề trong núi Kim cang, về phương Nam, Vương cung dài rộng sáu ngàn do tuần”. Kinh đại địa ngục dạy rằng : “Thành quách cung vua Diêm vương, ở trong địa ngục rộng dài ba vạn dặm; dùng sắt và đồng mà xây dựng”.
Ngày đêm ba thời có chảo đồng lớn đựng đầy nước đồng sôi, tự nhiên để phía trước vua. Có ngục tốt to lớn nằm trên giường sắt nóng của vua, lấy móc sắt đánh miệng vua, rót nước đồng sôi vào miệng vua. Từ yết hầu trở xuống đều cháy tiêu tan. Các Đại thần kia cũng phải chịu khổ như vậy.
Mười tám ngục vương ấy tên là :
 1. Ca Diên giữ ngục Nê lê.
2. Khuất Tôn giữ ngục Đạo Sơn.
3. Phí Thọ giữ ngục Phí sa.
4. Phí Khúc giữ ngục Phất sí.
5. Ca Thế giữ ngục Hắc nhĩ.
6. Hạp Sai giữ ngục Hỏa xa.
7. Than Vị giữ ngục Hoạch than.
 8. Thích Ca Nhiên giữ ngục Thiết sàng.
9.  Ác Sanh giữ ngục Hạp Sơn.
 10. Thân Ngâm giữ ngục Hàn băng.
11. Tỳ Ca giữ ngục Bác bì.
 12. Diêu Đầu giữ ngục Súc sanh.
13. Đề Bạt giữ ngục Đao binh.
14. Di Đại giữ ngục Thiết ma.
 15. Duyệt Đầu giữ ngục Khôi hà.
16. Xuyên Cốt giữ ngục Thiết sách.
17. Danh Thân giữ ngục Thơ trùng.
 18. Quán Thân giữ ngục Dương đồng.
Những ngục như vậy đều có vô lượng địa ngục khác làm quyến thuộc; mỗi ngục đều có chủ ngục. Ngưu đầu ngục tốt tánh tình bạo ngược không có một mảy từ tâm. Thấy chúng sanh chịu ác báo như vậy chỉ sợ chúng sanh không khổ mà thôi. Nếu hỏi ngục tốt:
 “Chúng sanh chịu khổ như vậy rất đáng thương xót, sao các ngươi cứ ôm lòng độc ác khốc liệt, không chút thương tâm?”
 Ngục tốt liền đáp :
 Những người cịu khổ ấy tội ác như thế này: “Bất hiếu với cha mẹ, bài báng Phật Pháp Tăng, chê bai Thánh Hiền, nhục mạ lục thân, khinh mạn sư trưởng, hủy hoại tất cả, nói lời độc ác, nói lời hai lưỡi, nịnh hót, tật đố, chia rẽ tình cốt nhục của người, giận hờn nóng nảy, sát hại tham dục, dối gạt khinh khi, tà mạng, tà cầu, lại do vì tà kiến, giải đãi buông lung, gây kết nhiều thù oán”.
Những người như vậy, đến đây chịu khổ rồi, mỗi khi được thoát ra chúng tôi thường khuyên bảo rằng : “Ở đây cực khổ lắm, không thể chịu được. Các người nay được ra rồi chớ nên tạo tội mà phải trở vào đây nữa.”
Nhưng các tội nhơn ấy không chịu chừa bỏ ăn năn, ngày nay ra rồi thoạt vậy lại vào. Lần lựa luân hồi không biết thống khổ, làm cho chúng tôi phải mỏi mệt vì các chúng sanh ấy. Kiếp này kiếp khác, cứ đối đầu nhau mãi. Vì duyên cớ ấy nên chúng tôi đối với tội nhơn không có chút thương tâm, mà còn cố ý làm cho khổ sở thêm nữa.
Chúng tôi mong sao họ biết khổ, biết hổ, biết thẹn, không trở lại đây nữa.
Nhưng chúng tôi xem các chúng sanh ấy thật là chỉ khổ mà không chịu tránh, không chí quyết làm lành để vào Niết bàn.
 “Họ đã là vật vô tri, không biết tránh khổ tìm vui, sở dĩ họ phải chịu đau khổ hơn ở nhơn gian, thì làm sao chúng tôi có thể dung thứ mà sanh tâm thương được.”
Hôm nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng hãy đem việc lao ngục ở thế gian mà so sánh thì có thể biết ngay, tin chắc rằng việc này không phải là luống dối.
Giả sử có người ba phen đến cửa ngục tuy bà con thân tộc nhưng thấy người ấy cứ vào ra cửa ngục mãi cũng đã chán ngán, không có lòng buồn thương. Huống gì ngưu đầu ngục tốt thấy các chúng sanh đã ra lại vào để chịu thống khổ mãi mãi.
Vậy đã thoát khỏi địa ngục rồi thì nên tu tâm dưỡng tánh, cải cách tập quán. Nếu không chừa bỏ thì nhiều kiếp chìm trong biển khổ. Đã vào trong ấy rồi, cứ thứ lớp mà qua, hết khổ này đến chỗ khác, không bao giờ ngừng nghĩ.
Vì vậy nên oán thù ba đời, nhơn quả theo nhau, hai vừng thiện ác chưa từng tạm nghĩ. Việc báo ứng trình bày rõ ràng rất dễ trông thấy. Làm ác gặp khổ, lấy ác trả ác, ở trong địa ngục cùng năm mãn kiếp, chịu thống khổ đủ điều. Hết tội địa ngục lại làm súc sanh. Hết làm súc sanh lại làm quỷ đói ; trải qua vô lượng sanh tử, vô lượng thống khổ.
Như thế đại chúng há có thể không lo tu hành Bồ-tát đạo cho kịp thời sao?
Chúng con ngày nay nhất tâm đầu thành đảnh lễ Tam bảo, nguyện vì hết thảy chúng sanh trong đường địa ngục, ngục vương, đại thần, ngưu đầu, ngục tốt, và quyến thuộc của chúng khắp mười phương, nguyện vì hết thảy chúng sanh trong đường Ngạ quỷ, ngạ quỷ vương, ngạ quỷ thần v.v.. và quyến thuộc của ngạ quỷ  ở khắp mười phương; nguyện vì hết thảy chúng sanh trong đường súc sanh, súc sanh thần v.v... và quyến thuộc của súc sanh khắp mười phương; rộng ra nguyện vì hết thảy chúng sanh vô cùng vô tận trong mười phương mà cầu xin sám hối, cải vãng tu lai, không làm ác nữa.
Những tội đã làm nguyện xin diệt trừ, những tội chưa làm thề không dám làm.
Nguyện xin hết thảy chư Phật trong mười phương dùng bất khả tư nghì tự tại thần lực gia tâm cứu hộ thương xót nhiếp thọ, khiến tất cả chúng sanh tức thời giải thoát.
 Nguyện xin quy y thế gian Đại Từ Bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật .
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật .
 Nam mô Hoa Nhật Phật .
Nam mô Quân Lực Phật .
Nam mô Hoa Quang Phật .
Nam mô Nhơn Ái Phật .
Nam mô Đại Oai Đức Phật .
Nam mô Phạm Vương Phật .
Nam mô Vô Lượng Minh Phật .
Nam mô Long Đức Phật .
Nam mô Kiên Bộ Phật .
Nam mô Bất Hư Kiến Phật .
 Nam mô Tinh Tấn Đức Phật .
 Nam mô Thiện Thủ Phật .
 Nam mô Hoan Hỷ Phật .
Nam mô Bất Thối Phật .
 Nam mô Sư Tử Tướng Phật .
Nam mô Thắng Tri Phật .
Nam mô Pháp Thị Phật .
Nam mô Hỷ Vương Phật .
Nam mô Sa Ngự Phật .
 Nam mô Ái Tác Phật .
Nam mô Đức Tý Phật .
Nam mô Hương Tượng Phật .
Nam mô Quán Thị Phật .
Nam mô Vân Âm Phật .
Nam mô Thiện Tư Phật .
Nam mô Sư Tử Phan Bồ-tát .
 Nam mô Sư Tử Tác Bồ-tát .
 Nam mô Địa Tạng Bồ-tát .
 Nam mô Vô Biên Thân Bồ-tát .
 Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát .
Lại Quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo. Nguyện xin Tam bảo dũ lòng Từ bi, tự tại thần lực cứu vớt chúng sanh trong đường địa ngục, ngục vương đại thần và quyến thuộc của các vị ấy cùng mười tám địa ngục.
Mười tám ngăn địa ngục nầy đều có nhiều địa ngục khác làm quyến thuộc.
 Nguyện xin Tam bảo cứu vớt hết thảy ngưu đầu ngục tốt và tất cả chúng sanh chịu khổ trong đường địa ngục, khiến các chúng sanh ấy đều được giải thoát. Tội nhơn khổ quả đồng thời tiêu diệt. Từ nay trở đi, rốt ráo vĩnh viễn đoạn trừ hết nghiệp địa ngục, rốt ráo không đọa trong ba đường ác, bỏ sống địa ngục dược sống tịnh độ, bỏ mạng địa ngục, được mạng trí huệ, bỏ thân địa ngục, được thân kim cang, bỏ khổ địa ngục, được vui Niết bàn. Nhớ khổ địa ngục phát tâm Bồ đề; tứ đẳng lục độ thường được hiện tiền. Tứ biện lục thông như ý tự tại.
Dõng mãnh tinh tấn, không thôi không nghĩ, tiến lên cho đến mãn hạnh Thập địa, trở lại độ thoát hết thảy chúng sanh, đồng nhập Kim cang, thành đẳng Chánh giác.
TỪ BI ĐẠO TRÀNG SÁM PHÁP
          QUYỂN THỨ TƯ
                   (HẾT).
                                            CUỐI QUYỂN TƯ

Lương Hoàng Bảo Sám,
Sắc mạng Sa môn,
Huỳnh kim điện thương diễn huyền văn,
 Cung các ái tường vân,
 Pháp võ tân phân,
Trần thế cảm hoàng ân.
Lương Hoàng Bảo Sám vạn đức hồng danh,
Linh văn tứ quyển tối hoằng thâm,
Tự tự miễn tai truân.
Đảnh lễ Phật danh,
Tiêu tai bảo an ninh.
Nam mô Diệm Huệ Địa Bồ-tát Ma Ha Tát.(3lần)

CUNG VĂN:
Thiên thượng thiên hạ duy Phật độc tôn, thế xuất thế gian, thử pháp tối thắng. Cam lộ phổ triêm ư sa giới, Bồ đề hương tán ư nhơn gian. Đảnh thư bạch ngọc chi hào quang. Thể lộ huỳnh kim chi diệu tướng. Phàm tình khẩn đảo, ứng niệm hiện tiền. Duy nguyện Hồng từ ai lân nhiếp thọ.
Thượng lai phụng vì cầu sám đệ tử đẳng… tu sùng Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp, kim đương đệ tứ quyển, lễ tụng tương hoàn, công huân cáo tất. Bi tâm trùng vận khắc niệm kiền thành : hương đàn trầm thuỷ chi tường vân, chúc thổ ưu đàm chi hoa nhụy. Hiến thiên trù chi diệu cúng, liệt thuyền duyệt chi tô đà. Chung khánh tiếp thiên nhạc chi tề minh ; phạm âm hòa Diệu Âm chi diễn xướng. Tập tư thiện lợi phổ ích hữu tình. Hồi hướng Giác Thiên kim tướng, mãn nguyệt năng nhơn. Mãn bán mãn chi chơn thuyên, học vô học chi Thượng sĩ, Thiên địa Minh dương Linh triết, nhân gian, liệt miếu âu cơ, giám thử quỳ hoát chi tâm, phổ giáng ân quang chi tỳ. Xuất sanh công đức, phụng vì cầu sám đệ tử đẳng…
Sám trừ tứ chủng chi thâm khiên, đắc nhập tứ không chi chánh định. Phục nguyện tứ sanh căn bổn nhơn do, như than ốc tuyết; tứ trú phiền não chướng cấu, tợ nhật dung sương. Hánh xuất tứ lưu, ly ái hà chi cốt một, tốc thành tức đức, thú lạc độ chi huyền do. Tứ an lạc hạnh dĩ hiện tiền, tứ hoằng thệ nguyện nhi kiên cố.
 Đa sanh phụ mẫu đồng đăng giải thoát chi môn. Lụy kiếp oan thân, cọng chứng Bồ đề chi quả. Thị tắc y văn sám hối, thành khẩn túc nghiệp vị trừ ; tái lao tôn chúng, đồng cầu sám hối.
 Nam mô Sám Hối Sư Bồ-tát Ma Ha Tát. (3 lần)
 Lương Hoàng Bảo Sám, tứ quyển công đức lực, nguyện diệt đệ tử đẳng tội chướng, thân chứng Bồ-tát Diệm Huệ Địa.
 Sám văn cử xứ tội hoa phi,
Giải liễu oan, sám liễu tội,
Tiêu tai tăng phước huệ,
Thoát khổ sanh Đao Lợi.
Giải liễu oan, sám liễu tội,
Tiêu diêu trực nhập
Long Hoa Hội,
Long Hoa tam hội nguyện tương phùng,
 Di Lặc Phật tiền thân thọ ký.
Nam mô Long Hoa Hội Bồ-tát Ma Ha Tát.(3lần)
Lương Hoàng Bảo Sám,
Tứ quyển dĩ vân châu,
Hồi hướng tứ ân tịnh tam hữu,
Bái sám chúng đẳng tăng phước thọ,
Nguyện tương pháp thủy tẩy khiên vưu,
Duy nguyện vong giả vãng Tây du.
 Diệm Huệ Địa Bồ-tát
Duy nguyện ai nạp thọ.
Nam mô Đăng Vân Lộ Bồ-tát Ma Ha Tát. (3lần)
 Ma ha Bát nhã Ba-la-mật đa  tâm kinh…
/77
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »