TỰA
Thiết nghĩ ngoài những Kinh, Luật, Luận của Thánh giáo đã phiên dịch, nhiều sách vở của Hiền nhân chế tác về sau đều do nơi sự cảm ứng mà làm ra cả. Nếu riêng từng phẩm loại mà nói thì không dễ gì kể ra cho hết được. Ngay như bản văn linh thiêng nầy vì sao mà gọi là Thủy Sám, tôi xin nói rõ đến căn do.
Thuở xưa về triều vua Đường Ý Tông có một vị Quốc sư hiệu là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư trong ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh Ca- ma- la (bệnh cùi) ai cũng gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm kích phong thái của ngài Tri Huyền mới dặn rằng: Sau nầy ông có nạn chi nên qua núi Cửu lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.
Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến chùa An quốc thì đức độ của ngài càng vang khắp. Vua Ý Tông thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ban ân rất hậu cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.
Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.
Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm đau khổ của mình. Nhà sư ấy nói:
Không hề gì đâu, dưới núi nầy có một dòng suối, sáng ngày rửa mụn ghẻ ấy khỏi ngay.
Mờ sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì mụn ghẻ kêu lên:
Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Triều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?
Tôi có đọc.
Ông đã đọc rồi có lẽ nào lại không biết chuyện Viên Áng giết Triều Thố vậy. Thố bị chém ở chợ phía Đông oan ức biết dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bậc cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện về báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ Tôn giả Ca-nặc-ca lấy nước pháp Tam-muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa.
Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết Thánh hiền ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là Chí Đức Thiền Tự. Có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép việc nầy rõ ràng.
Khi đó ngài Ngộ Đạt nghĩ đến mối oan trái đã bao đời nếu không gặp Thánh nhân thì do đâu khỏi được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám nầy để mai chiều lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.
Ba quyển sám đây tức là bài văn của ngài làm ra lúc đó vậy.
Nghĩa chính của bài văn nầy là lấy nước Tam-muội rửa sạch nghiệp oan khiên nên mới đặt tên là Thủy Sám. Lại ngài Ngộ Đạt cũng vì cảm điềm dị ứng của đức Ca-nặc-ca nên dùng tên ấy mà đặt tên cho bộ Sám văn nầy để đáp đền thâm ân kia.
Nay tôi kể rõ sự thật và nêu công của Tiên đức để cho những người lật bộ Sám văn nầy, hoặc lễ, hoặc tụng đều biết được sự tích của người xưa vì lẽ nhân quả tuy nhiều kiếp cũng không sai chạy.
Khải vận từ bi đạo tràng sám pháp.
Nhất tâm quy mạng tam thế chư Phật.
Nam-mô Quá khứ Tỳ-bà-thi Phật.
Nam-mô Thi-khí Phật.
Nam-mô Tỳ-xá-phù Phật.
Nam-mô Câu-lưu-tôn Phật.
Nam-mô Câu-na-hàm Mâu-ni Phật.
Nam-mô Ca-diếp Phật.
Nam-mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Nam-mô Đương lai Di-lặc Tôn Phật.