Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 166, Bộ Chư Tông VI, Số 1888- 1910

Đại Tập 166, Bộ Chư Tông VI, Số 1888- 1910

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 800.

Chương 38: Lương Hoàng Bảo Sám - Quyển 4: Đầu Quyển Bốn, Chương Thứ Bảy: Nói Rõ Quả Báo (tt) (Trang 599 - 607)

TỪ BI ĐẠO TRÀNG SÁM PHÁP

                ĐẦU QUYỂN TƯ

Tào Khê Thủy.
Nhất phái hướng Đông lưu.
Quan Âm bình nội trừ tai cựu.
Đề hồ quán đãnh địch trần cấu.
Dương chi sái xứ nhuận tiêu khô.
 Yết hầu trung cam lộ tự hữu quỳnh tương thấu.
 Nam mô Phổ Hiền Vương Bồ-tát Ma Ha Tát.(3 lần)

CUNG VĂN
 Tứ trí viên minh chi diệu thể, nghiêm nhược tinh trung chi kiểu nguyệt. Tự vô ngại biện chi huyền âm, cao siâu kiếp ngoại chi không đàm. Vận tứ tâm ư tứ tác thú trung; ly tư tướng ư tứ sanh giới nội. Tín Phật ân chi quảng bố. Ngưỡng Thánh đức chi di cao. Duy nguyện hồng ân giám nạp thành khẩn.
 Thượng lai phụng vì kim thời cầu sám đệ tử đẳng… khải kiến Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp, tư đương đệ tứ quyển nhập đàn duyên khởi. Tứ tất đàn nhân tam nghiệp thanh tịnh. Khắc niệm nhiếp niệm dĩ đầu thành, tâm chánh thân chánh nhi tác lễ. Bình trâm tam đảo chi xuân quang, lô nhiệt lục thù chi hương cái. Đăng nhiên huệ cự cúng hiến Thuần Đà, lễ bái truyền nhiễu, phúng vịnh tán dương, phát lộ phi thành, khắc cần sám hối.
 Thiết niệm cầu sám đệ tử đẳng… tự tùng vĩnh kiếp, trực chí kim sanh, mê tứ đại chi sắc thân, thọ tứ sanh chi luân chuyển, khởi tứ tướng chi điên đảo, phạm tứ chủng chi oai nghi. Tùng mê chí mê, do khổ nhập khổ, tùy cảnh phong chi nghịch thuận. Nịch ái thủy chi trầm luân. Vô minh duy trọng duy thâm, phiền não như dao như tất. Bằng đại pháp dĩ hồng tuyên, trượng chân thuyên nhi giải thích. Kim tắc thốn tâm khánh khoái, khắc cốt minh cơ. Tập đại đưc chi cao lưu, vận nhất tâm nhi sám hối. Ngưỡng khấu hồng ân từ minh huân gia bị.
 Tứ bát đoan nghiêm vi diệu tướng.
Tăng kỳ tam đại kiếp tu lai.
Diện như mãn nguyệt mục như liên.
Thiên thượng nhân gian hàm cung kỉnh.
Khởi vận Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp, nhất tâm quy mạng tam thế chư Phật :
Nam mô Quá Khứ Tỳ Bà Thi Phật .
 Nam mô Thi Khí Phật .
Nam mô Tỳ Xá Phù Phật .
Nam mô Câu Lưu Tôn Phật .
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật .
Nam mô Ca Diếp Phật .
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật .
Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật .
CHƯƠNG THỨ BẢY: NÓI RÕ QUẢ BÁO (Tiếp Theo)
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng lại phải chí thành đảnh lễ, nhất tâm lắng nghe.
Lúc bấy giờ Phật ở  Thành Vương Xá, trong vườn trúc Ca-lan-đà, Ngài Mụv Kiền Liên từ thiền định đứng dậy đi dạo trên bờ sông Hằng thấy các Ngạ quỷ chịu tội không đồng nhau.
Khi ấy các Ngạ quỷ đồng sanh lòng cung kính đến hỏi Ngài Mục Liên về nhơn duyên đời trước. Một Ngạ quỷ hỏi rằng: “Tôi một đời lại đây, thường bị đói khát , muốn vào nhà xí lấy phẩn mà ăn; trên nhà xí đã có con đại lực quỷ lấy gậy đánh tôi; tôi không đấn gần nhà xí được. Vì cớ gì mà tôi mắc phải tội ấy?”
 Ngài Mục Liên đáp rằng: “Đời trước lúc làm người, ngươi làm chủ chùa, có khách Tỳ kheo đến xin ăn. Ngươi keo kiết không đãi khách ăn. Chờ khách đi rồi mới cho các thầy thường ở trong chùa ăn.
 Vì ngươi vô đạo, tham tiếc của chúng, do nhơn duyên ấy nên mắc phải tội như vậy.
 Đó là hoa báo, quả báo sẽ ở địa ngục”.
 - Lại có một Ngạ quỷ hỏi Ngài Mục Liên rằng: “Tôi một đời lại đây, trên vai có cái bình đồng lớn, đựng đầy nước sôi. Tôi tự lấy gáo múc xối từ trên đầu xuống, đau khổ vô cùng, không thể chịu được. Tôi vì tội gì mà phải như thế?”
Ngài Mục Liên đáp rằng: “Lúc ngươi làm  người, ngươi làm Duy na trong chùa, xem việc trong đại chúng. Có một bình sữa ngươi giấu chỗ kín, đúng giờ không đem chia cho chúng, đợi khách đi rồi mới đem chia cho các người trong chùa. Sữa là vật chiêu đề, thuộc của chúng Tăng trong mười phương, mọi người đều có phần; vì duyên ấy, nên mắc phải tội như vậy. Đó là hoa bao, quả báo sẽ ở địa ngục”.
- Lại có một Ngạ quỷ hỏi Ngài Mục Liên rằng: “Tôi một đời trở lại đây, thường nuốt những hoàn sắt nóng. Vì những tội gì mà phải như vậy?”
 Ngài Mục Liên đáp rằng:
 “Lúc làm người, ngươi làm một vị Sa di nhỏ, lấy nước trong sạch khuấy đường phèn cho chúng. Đường phèn cứng rắn, ngươi sanh tâm trộm cắp, đập nhỏ lấy chút ít. Đại chúng chưa uống, ngươi đã uống trộm trước một hớp. Do nhơn duyên ấy nên mắc phại tôi như vậy. Đó là hoa
 báo, quả báo sẽ ở địa ngục.”
 Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nghe những việc Ngài Mục Liên đã nghe đã thấy, rất đáng sợ hãi.
Chúng con có thể làm những tội ấy. Vì vô minh ngăn che, chúng con không tự nhớ biết. Giả sử như chúng con đã tạo vô lượng tội nghiệp như vậy, đời sau quyết phải lãnh thọ quả báo đau khổ ấy. Vậy nên bây giờ phải chí tâm tha thiết, đầu thành đảnh lễ, hổ thẹn cầu xin sám hối. Nguyện trừ diệt sạch những tội lỗi ấy và nguyện xin sám hối thế cho hết thảy Ngạ quỷ khắp mười phương tận hư không giới.
Lại nguyện xin sám hối thế cho các cha mẹ và các sư trưởng, nguyện xin sám hối thế cho các bậc đồng đàn tôn chứng; thượng trung hạ tòa.
 Nguyện xin sám hối thế cho tất cả thiện ác tri thức, rộng ra cho đến khắp cả mười phương tận hư không giới vô cùng vô tận hết thảy chúng sanh, trong tứ sanh lục đạo.
 Những tội đã làm nhơn nay sám hối mà được trừ diệt. Những tội chưa làm thề không dám làm.
Nguyện xin mười phương chư Phật chứng biết cho chúng con.
Nam mô Di Lặc Phật .
 Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật .
Nam mô Câu Lưu Tôn Phật .
 Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật .
 Nam mô Ca Diếp Phật .
Nam mô Sư Tử Phật .
Nam mô Minh Viêm Phật .
Nam mô Mâu Ni Phật .
Nam mô Diệu Hoa Phật .
Nam mô Hoa Thị Phật .
Nam mô Thiện Túc Phật .
Nam mô Đạo Sư Phật .
 Nam mô Đại Tý Phật .
Nam mô Đại Lực Phật .
Nam mô Túc Vương Phật .
 Nam mô Tu Dược Phật .
Nam mô Danh Tướng Phật .
Nam mô Đại Minh Phật .
Nam mô Viêm Kiên Phật .
Nam mô Chiếu Diệu Phật .
 Nam mô Nhật Tạng Phật .
Nam mô Nguyệt Thị Phật .
Nam mô Chúng Viêm Phật .
 Nam mô Thiện Minh Phật .
 Nam mô Vô Ưu Phật .
Nam mô Sư Tử Du Hý Bồ-tát .
Nam mô Sư Tử Phấn Tấn Bồ-tát .
Nam mô Vô Biên Thân Bồ-tát .
Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát .
 Nam mô Phật Đà. Nam mô Đạt Mạ.
Nam mô Tăng Già.
Lại quy y như vậy mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo. Nguyện xin Tam bảo dũ lòng đại từ bi cứu vớt  hết thảy chúng sanh khắp mười phương hiện đang chịu khổ trong đường Ngạ quỷ.
 Lại nguyện xin cứu vớt hết thảy chúng sanh khắp mười phương hiện đương chịu khổ vô lượng trong đường địa ngục; trong đường súc sanh và trong nhân loại; làm cho các chúng sanh ấy liền được giải thoát đoạn ba nghiệp chướng, trừ năm sợ hãi, chứng tam giải thoát, dùng bốn hoằng thệ độ thoát chúng sanh, đảnh lẽ Thế Tôn, thưa thỉnh giáo lý vi diệu; không rời đương xứ, sạch hết hữu lậu, tùy tâm tự tại, dạo khắp cõi Phật , hạnh nguyện viên mãn, chóng thành chánh giác.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng, lại chí thành lắng lòng mà nghe.
Lúc bấy giờ Phật ở thành Vương Xá, phía đông nam có một hồ nước, bao nhiêu tiểu dãi ô uế đều chảy vào hồ ấy, hôi thúi không thể đến gần được. Có một cvon trùng lớn sanh ở trong hồ ấy, thân dài mấy trượng không tay chân, quằn quại lăn lóc, hàng ngàn người đến xem. Ngài A Nan thấy vậy về bạch Phật. Phật và đại chúng cùng nhau đến hồ ấy xem. Đại chúng nghĩ rằng:
 “Nay đây đức Như Lai sẽ nói rõ đầu đuôi việc con trùng ấy cho mọi người nghe.
 Phật bảo đại chúng: “Sau khi đức Phật Duy Vệ nhập Niết Bàn rồi, có năm trăm thầy Tỳ kheo đi qua một ngôi chùa. Lúc ghé vào chùa, chủ chùa rất hoan hỷ vui mừng, mời đại chúng ở lại để cúng dường. Ông hết lòng thiết đãi không tiếc món gì.
 Sau đó có năm trăm người đi buôn vào biển lấy ngọc, lúc về cũng ghé lại chùa. Các người ấy thấy năm trăm thầy Tỳ kheo tu hành tinh tấn liền hân hoan, phát tâm cúng dường, mới cùng nhau nghĩ rằng: “Phước điền khó gặp chúng ta nên cúng dường lễ mọn.”
Mỗi người cúng mỗi viên ngọc, cộng được năm trăm ma ni châu, đem gửi chủ chùa. Sau đó chủ chùa sanh tâm không tốt, lập mưu muốn đoạt lấy một mình, không đem ra cúng dường chúng tăng.
 Đại chúng mới hỏi: Ngọc châu của khách buôn bố thí nên đem ra cúng dường đại chúng? Chủ chùa đáp rằng: “Ngọc châu ấy cúng cho ta, nếu các ngươi muốn đọat thì có phẩn uế cho các ngươi. Nếu các ngươi không đi ngay bây giờ ta sẽ chặt tay chân quẳng vào hầm phẩn”.
 Đại chúng thương người ấy quá ngu si bèn làm thinh bỏ đi.
 Vì tội ác ấy nên nay chủ chùa kia phải làm thân trùng này, sau sẽ vào địa ngục chịu vô lượng đau khổ”.
- Lại nữa, khi ấy Phật ở thành Vương Xá, thấy một chúng sanh có một các lưỡi rất dài lớn, có đinh sắt đóng vào lưỡi, lửa phát cháy hừng hực, chịu đau khổ suốt ngày đêm.
Ngài Mục Liên bèn hỏi Phật: “Chúng sanh ấy vì tội gì mà chịu khổ như vậy?”
 Phật đáp:
 “Người ấy xưa kia từng làm chủ chùa, hay mắng nhiếc xua đuổi các thầy Tỳ kheo ở lâu trong chùa hay khách Tăng mới đến cũng vậy mà không cho ăn uống. Không bình đẳng cúng dường. Vì nhơn duyên ấy nên mắc phải tội như vậy”.
- Lại có một chúng sanh thân thể dài lớn, trên đầu có cái vạc nước đồng sôi, bốc lửa cháy hừng hực, nước đồng sôi chảy tràn ra tứ phía, chảy khắp thân thể, chúng sanh ấy nương hư không mà đi mãi không nghĩ.
 Ngài Mục Liên hỏi Phật: “Chúng sanh ấy vì tội gì mà phải chịu khổ như thế?”
Phật đáp: “Người ấy đời xưa làm Tri sự trong chùa, Đàn việt cúng dầu thắp, Tri sự không chia cho khách Tăng. Đợi khách Tăng đi rồi mới chia cho các thầy thường ở trong chùa.
 Vì nhơn duyên ấy nên nay người ấy mắc phải tội như vậy”.
- Lại có một chúng sanh bị các hoàn sắt cháy đỏ hừng hực, từ trên đầu mà vào, từ dưới chân mà ra, nương hư không mà đi, người ấy đau khổ vô cùng không thể chịu được.
Ngài Mục Liên hỏi Phật : “Chúng sanh ấy vì tội gì mà phải chịu khổ như vậy?”
Phật đáp rằng:
“Người ấy đời trước làm ông Sa di có trộm bảy trái me trong vườn chúng Tăng. Sau khi chết rồi, Sa di ấy đã chịu vô lượng khổ trong địa ngục. Nay nghiệp báo chưa hết, hảy còn dư ươn, nên phải chịu khổ như vậy”.
- Lại có một con cá lớn, một thân trăm đầu, mỗi đầu mỗi khác, bị sa vào lưới người. Thế Tôn thấy vậy bèn nhập định “Từ tâm Tam muội” gọi con cá ấy. Cá ấy tức thời ứng khẩu trả lời.
Thế Tôn hỏi cá:
- Mẹ ngươi ở đâu?
- Mẹ tôi làm con trùng rúc trong nhà xí!
Phật bảo các Tỳ kheo: Lúc Phật Ca Diếp ra đời, con cá lớn này làm vị Tam Tạng Tỳ Kheo; vì ác khẩu nên chịu quả báo nhiều đầu. Mẹ nó bấy giờ thọ hưởng lợi dưỡng của nó, nên đọa làm con trùng rúc trong cầu tiêu.
 Phật dạy tiếp rằng: Mắc phải báo ấy đều do chúng sanh ác khẩu, nói lời thô tháo cứng xẳng, tuyên truyền bỉ thử, làm cho hai bên tranh đấu loạn lạc lẫn nhau. Chết rồi vào địa ngục, bị ngục tốt đốt đỏ cái bể sắt trong ngoài nóng đỏ như nước đồng sôi để nung cái lưỡi người có tội. Quỉ lại đốt đỏ móc sắt, móc có ba lưỡi sắt bén như mũi nhọn để đoạn cái lưỡi của tội nhơn. Lại kéo dài cái lưỡi ra như trâu kéo cày.
 Lại đốt đỏ cái chày sắt dộng vào yết hầu, trải qua ngàn vạn kiếp, tội hết mới ra khỏi địa ngục, làm loài chim muông.
Phật dạy: “Nếu có chúng sanh nào đàm luận việc vua chúa, chánh trị, cha mẹ và sư trưởng, thì tội lại còn nặng hơn”.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp trong đạo tràng nghe Phật dạy lời ấy, rất đáng sợ hãi. Bấy giờ đại chúng đã thấy rõ ràng: thiện ác hai đường không sai, tội phứơc và quả báo chắc thật, quyết định không còn nghi ngờ gì nữa.
Vậy nên hết lòng hổ thẹn, siêng năng tu hành, cầu xin sám hối. Đại chúng đã cùng nhau xem kinh, đã đồng thấy những việc như trên, nếu không cố gắng, lười biếng muốn thối lui thì việc tu hành không do đâu có kết quả.
Ví như người nghèo thiếu, lòng thèm khát các vị cao lương mà thật tế không có một vị nào thì rốt cuộc cũng không có ích gì cho sự
 thèm khát khổ não kia.
Cho nên biết rằng: Người nào muốn cầu có pháp môn nhiệm mầu thù thắng, muốn độ thoát hết thảy chúng sanh, người ấy không thể nói suông rằng: Tôi chỉ tu tâm mà được. Người ấy cần phải có tâm mà cũng cần thực hành bằng sự tướng nữa mới được. Cần phải có sự, có lý. Sự lý đi đôi công việc mới có kết quả hoàn toàn, thành tựu viên mãn.
Vậy nên đại chúng phải nỗ lực tinh tấn tu hành cầu xin sám hối. Cùng nhau chí tâm tha thiết, đầu thành đảnh lễ Tam bảo. Nguyện xin thay thế hết thảy chúng sanh trong đường địa ngục, đường ngạ quỷ, đường súc sinh và đường nhơn loại mà cầu xin sám hối.
 Lại nguyện vì cha mẹ, sư trưởng, thiện ác tri thức và cùng hết thảy bà con mà cầu xin sám hối. Những tội đã làm rồi nguyện xin trừ diệt. Những tội chưa làm thề không dám làm.
Nhất tâm đảnh lễ quy y thế gian Đại Từ Bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật .
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật .
Nam mô Đề Sa Phật .
Nam mô Minh Diệu Phật .
Nam mô Trì Man Phật .
Nam mô Công Đức Minh Phật .
Nam mô Thị Nghĩa Phật .
Nam mô Đăng Diệu Phật .
Nam mô Hưng Thịnh Phật .
 Nam mô Dược Sư Phật .
 Nam mô Thiện Nhu Phật .
 Nam mô Bạch Hào Phật .
Nam mô Kiên Cố Phật .
Nam mô Phước Oai Đức Phật .
Nam mô Bất Khả Hoại Phật .
Nam mô Đức Tướng Phật .
Nam mô La Hầu Phật .
Nam mô Chúng Chủ Phật .
Nam mô Phạm Thanh Phật .
Nam mô Kiên Tế Phật .
 Nam mô Bất Cao Phật .
 Nam mô Tác Minh Phật .
Nam mô Đại Sơn Phật .
 Nam mô Kim Cang Phật .
 Nam mô Tương Chúng Phật .
Nam mô Vô Úy Phật .
Nam mô Chân Bảo Phật .
 Nam mô Sư Tử Phan Bồ-tát .
Nam mô Sư Tử Tác Bồ-tát .
 Nam mô Vô Biên Thân Bồ-tát .
Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát .
Lại quy y như vậy, mười phương tận hư không giới hết thảy Tam bảo. Nguyện xin Tam bảo dùng đại từ bi lực, đại trí huệ lực, vô lượng tự tại thần lực, không thể tư nghị, độ thoát nhất thế chúng sanh lực trong lục đạo, diệt trừ hết thảy đau khổ cho chúng sanh trong lục đạo; khiến các chúng sanh ấy đoạn trừ hết tội nghiệp trong ba đường ác, rốt ráo không tạo năm tội nghịch, không tạo mười ác nghiệp nữa. Từ nay trở đi các chúng sanh ấy không sanh vào chỗ khổ báo, được sanh về tịnh độ, bỏ mạng sống khổ báo được mạng sống trí tuệ, bỏ thân khổ báo được thân kim cang, bỏ khổ ác thú được vui Niết Bàn, nhớ khổ trong ác thú, phát tâm bồ đề. Bốn vô lượng tâm, sáu Ba-la-mật thường được hiện tiền. Bốn vô ngại biện, sáu sức thần thông được tự tại như ý, dõng mãnh tinh tấn, không thôi không nghĩ và thắng tấn tu hành cho đến khi mãn hạnh Thập địa, trở lại độ thoát hết thảy chúng sanh.
/77
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »