LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 166
BỘ CHƯ TÔNG
VI
SỐ 1888- 1910
HỘI VĂN HOÁ GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
Lời Giới Thiệu
Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
Thứ nhất, hầu hết các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh cho riêng họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một giảm sút dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lâu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau. Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác Phẩm chú thích, sớ giải v.v... của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học sĩ cận đại.
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh –Tiến sĩ Tiết học– hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương
đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm họ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
-Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa, góp ý v.v...
-Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình ấn loát, xuất bản v.v...
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đến tiền đồ Phật giáo Việt Nam, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp thiện thần gia bị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quý vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát tác đại chứng minh.
Sài Gòn, ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh
Lời Nói Đầu
Ba Tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng Kinh.
Trải qua mấy mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hôi đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vò sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đúng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nhận cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại Tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện đại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày khoảng một ngàn trang khổ 17 x 24 cm, như
_________________
*Trung Quốc Triết Học Sử, xb 1970 tại Đài Loan.
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vị Phật học gia. Phật học bổn vị Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kì gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.”
quý vị đang có trước mắt.
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Wantanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay, Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về mặt hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng Giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544 (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
I-Viết hoa toàn bộ:
1.Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm…
2.Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan…
3.Tôn xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác…
4.Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-hàm…
II-Viết hoa chữ đầu:
1.Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi Lợi….
2.Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế…
3.Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác,….
4.Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành vương xá…
III- Viết hoa chữ đầu+ gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pāli)
1.Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất…
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ,…
3. Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà,…
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di,…
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát,…
IV- Gạch nối: (danh từ chung được phiên âm từ Pāli)
Ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần…
V- Số:
1.Viết thành chữ: (những số qua lớn nên chú thích thêm số)
Ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)…
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
Ví dụ: Đại I, trang 15, cht.52…
VI- Đặc biệt:
Âm “y” và “i” dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L, M, T, Q vẫn viết theo thói quen cũ.
Ví dụ: kỷ cương, lý luận,…
梵: viết là “Phạm” không viết là “Phạn”(phát âm theo chữ Brahma)
慧: viết là “Tuệ” không viết là “Huệ”.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
MỤC LỤC
(BỘ CHƯ TÔNG 6 – TẬP 166)
SỐ 1888 – NÓI VỀ BỎ MÊ HIỀN TRÍ THÀNH MƯỜI MINH BI 3
SỐ 1889 – LUẬN TAM MUỘI HẢI ẤN.......................................... 25
SỐ 1890 – HOA NGHIÊM NHẤT THỪA THÀNH PHẬT DIỆU NGHĨA
KINH................................................................................................ 37
SỐ 1891 – PHẬT QUỐC THIỀN SƯ VĂN THÙ CHỈ NAM ĐỒ TÁN
........................................................................................................... 101
SỐ 1892 – QUANG TRUNG SÁNG LẬP GIỚI ĐÀN ĐỒ KINH... 123
SỐ 1893 – TỊNH TÂM GIỚI QUÁN PHÁP.................................... 153
LỜI TỰA............................................................................................ 155
QUYỂN THƯỢNG............................................................................. 156
QUYỂN HẠ....................................................................................... 181
SỐ 1894 – THÍCH MÔN CHƯƠNG PHỤC NGHI......................... 209
SỐ 1895 – TÂN KHẮC LƯỢNG XỨ NẶNG NHẸ NGHI.............. 227
LỜI TỰA............................................................................................ 229
PHẦN ĐẦU........................................................................................ 231
PHẦN CUỐI....................................................................................... 251
SỐ 1896 – THÍCH MÔN QUY KÍNH NGHI................................. 275
QUYỂN THƯỢNG............................................................................. 277
QUYỂN HẠ....................................................................................... 301
SỐ 1897 – GIÁO GIỚI TÂN HỌC TỲ KHEO HÀNH HỘ LUẬT NGHI
........................................................................................................... 325
SỐ 1898 – LUẬT TƯỚNG CẢM THÔNG TRUYỆN..................... 347
SỐ 1899 – TRUNG THIỀN TRÚC XÁ VỆ QUỐC KỲ HOÀN TỰ ĐỒ
KINH................................................................................................ 373
SỐ 1900 – HÌNH VẼ PHẬT CHẾ SÁU VẬT CHO TỲ KHEO...... 419
SỐ 1901 – PHÁP NGHI QUỶ HỘ MẠNG PHÓNG SANH............ 437
SỐ 1902 – PHÁP THỌ DỤNG TÂM THỦY YẾU HÀNH.............. 441
SỐ 1903 – THUYẾT TỘI YẾU HÀNH PHÁP................................ 447
SỐ 1904 – CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ XUẤT GIA
THỌ CẬN VIÊN YẾT MA NGHI PHẠM....................................... 451
SỐ 1905 - CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ BÍ SÔ TẬP
HỌC LƯỢNG PHÁP........................................................................ 475
SỐ 1906 – BỘ TÁT GIỚI BẢN TÔNG YẾU................................... 483
SỐ 1907 – BỒ TÁT GIỚI BẢN TRÌ PHẠM YẾU KÝ.................... 499
SỐ 1908 – ĐẠI THỪA LỤC TÌNH SÁM HỐI................................ 509
SỐ 1909 – LƯƠNG HOÀNG BẢO SÁM......................................... 515
QUYỂN 1........................................................................................... 517
- NGHI THỨC TỤNG LƯƠNG HOÀNG SÁM.................................. 525
- TỪ BI BAO TRÀNG SÁM PHÁP – QUYỂN THỨ NHẤT............... 529
- CHƯƠNG THỨC NHẤT: QUY Y TAM BẢO................................. 531
- CHƯƠNG THỨ HAI: DỨT NGHI NGỜ.......................................... 537
- CHƯƠNG THỨ BA: SÁM HỐI....................................................... 544
LƯƠNG HOÀNG BẢO SÁM –ĐẦU QUYỂN HAI............................ 552
QUYỂN 2........................................................................................... 554
- CHƯƠNG THỨ TƯ: PHÁT BỒ ĐỀ TÂM........................................ 554
- CHƯƠNG THỨ NĂM: PHÁT NGUYỆN......................................... 562
- CHƯƠNG THỨ SÁU: PHÁT TÂM HỒI HƯỚNG........................... 567
QUYỂN 3: ĐẦU QUYỂN BA............................................................ 574
- CHƯƠNG THỨ BẢY: NÓI RÕ QUẢ BÁO..................................... 576
QUYỂN 4: ĐẦU QUYỂN 4............................................................... 599
- CHƯƠNG THỨ BẢY: NÓI RÕ QUẢ BÁO (TIẾP THEO)............... 601
- CHƯƠNG THỨ TÁM: RA KHỎI ĐỊA NGỤC................................. 608
QUYỂN 5: ĐẦU QUYỂN 5............................................................... 624
- CHƯƠNG THỨ CHÍN: GIẢI OAN THÍCH KIẾT............................ 626
QUYỂN 6:.......................................................................................... 644
- CHƯƠNG THỨ CHÍN: GIẢI OAN THÍCH KIẾT (TIẾP THEO)...... 644
QUYỂN 7:.......................................................................................... 660
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI: TỰ VUI MỪNG........................................ 662
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT: TƯỞNG NHỚ ƠN TAM BẢO......... 665
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI: CHỦ SẮM LỄ TẠ ĐẠI CHÚNG........ 668
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI BA: TỔNG PHÁT ĐẠI NGUYÊN.............. 670
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI BỐN: LỄ PHẬT THẾ CÁC CÕI TRỜI........ 673
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI LĂM: LỄ PHẬT THẾ CÁC VỊ TIÊN.......... 676
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI SÁU: LỄ PHẬT THẾ CÁC VỊ TRỜI PHẠM VƯƠNG,
ĐẾ THÍCH V.V... ............................................................................. 678
QUYỂN 8........................................................................................... 680
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI BẢY: LỄ PHẬT THẾ A TU LA VÀ HẾT THẢY
THIỆN THẦN.................................................................................... 680
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI TÁM: LỄ PHẬT THẾ CÁC LONG VƯƠNG 682
- CHƯƠNG THỨ MƯỜI CHÍN: LỄ PHẬT THẾ CÁC MA VƯƠNG.. 684
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI: LỄ PHẬT THẾ CHO NHƠN ĐẠO, QUỐC
VƯƠNG V.V..................................................................................... 686
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI MỐT: LỄ PHẬT THẾ QUYẾN THUỘC CỦA
QUỐC CHỦ...................................................................................... 689
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI HAI: LỄ PHẬT THẾ CHA MẸ............ 691
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI BA: LỄ PHẬT THẾ CHA MẸ CÁC ĐỜI
TRƯỚC.............................................................................................. 693
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI BỐN: LỄ PHẬT THẾ SƯ TRƯỞNG... 695
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI LĂM: LỄ PHẬT THẾ MƯỜI PHƯƠNG TỲ
KHEO VÀ TỲ KHEO NI.................................................................... 697
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI SÁU: LỄ PHẬT THẾ TỨ CHÚNG QUÁ
KHỨ................................................................................................... 699
QUYỂN 9:.......................................................................................... 701
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI BẢY: LỄ PHẬT THẾ CHÚNG SANH TRONG
ĐỊA NGỤC A TỲ............................................................................... 701
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI TÁM: LỄ PHẬT THẾ CÁC CHÚNG SANH
TRONG ĐỊA NGỤC KHÔI HÀ, ĐỊA NGỤC THIẾT HOÀN V.V...... 705
- CHƯƠNG THỨ HAI MƯƠI CHÍN: LỄ PHẬT THẾ CÁC CHÚNG SANH
TRONG NHỮNG ĐỊA NGỤC UỐNG NƯỚC ĐỒNG SÔI, ĐỊA NGỤC HẦM
HỐ V.V.............................................................................................. 707
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI: LỄ PHẬT THẾ CÁC CHÚNG SANH TRONG
ĐỊA NGỤC ĐAO BINH, ĐỒNG PHỦ V.V....................................... 709
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI MỐT: LỄ PHẬT THẾ CHÚNG SANH TRONG
CÁC ĐỊA NGỤC HỎA THÀNH, ĐAO SƠN V.V.............................. 710
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI HAI: LỄ PHẬT THẾ CHÚNG SANH TRONG
ĐƯỜNG NGẠ QUỸ........................................................................... 713
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI BA: LỄ PHẬT THẾ CHÚNG SANH TRONG
ĐƯỜNG SÚC SANH......................................................................... 715
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI BỐN: VÌ SÁU ĐƯỜNG CHÚNG SANH MÀ
PHÁT NGUYỆN................................................................................ 717
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI LĂM: CẢNH TỈNH VÔ THƯỜNG...... 718
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI SÁU: LỄ PHẬT THẾ NGƯỜI LÀM CÔNG
QUẢ Ở CHÙA................................................................................... 721
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI BẢY: PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG. 723
QUYỂN 10......................................................................................... 726
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI TÁM: BỒ TÁT HỒI HƯỚNG.............. 726
- CHƯƠNG THỨ BA MƯƠI CHÍN: PHÁT NGUYỆN....................... 730
SỐ 1910 – PHÁP TỪ BI THỦY SÁM.............................................. 747
LỜI TỰA THỦY SÁM DO VUA SOẠN:........................................... 749
TỰA .................................................................................................. 751
QUYỂN THƯỢNG:............................................................................ 753
QUYỂN TRUNG:............................................................................... 762
QUYỂN HẠ:..................................................................................... 776