LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 171
BỘ CHƯ TÔNG
XI
SỐ 1957- 1969
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
Lời Giới Thiệu
Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
Thứ nhất, hầu hết các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh cho riêng họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một giảm sút dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lâu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau. Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác Phẩm chú thích, sớ giải v.v... của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học sĩ cận đại.
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh –Tiến sĩ Tiết học– hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương
đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm họ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
-Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa, góp ý v.v...
-Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình ấn loát, xuất bản v.v...
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đến tiền đồ Phật giáo Việt Nam, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp thiện thần gia bị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quý vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát tác đại chứng minh.
Sài Gòn, ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh
Lời Nói Đầu
Ba Tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng Kinh.
Trải qua mấy mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hôi đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vò sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đúng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nhận cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại Tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện đại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày khoảng một ngàn trang khổ 17 x 24 cm, như
_________________
*Trung Quốc Triết Học Sử, xb 1970 tại Đài Loan.
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vị Phật học gia. Phật học bổn vị Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kì gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.”
quý vị đang có trước mắt.
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Wantanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
Hôm nay, Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về mặt hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng Giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544 (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
I-Viết hoa toàn bộ:
1.Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm…
2.Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan…
3.Tôn xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác…
4.Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-hàm…
II-Viết hoa chữ đầu:
1.Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi Lợi….
2.Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế…
3.Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác,….
4.Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành vương xá…
III- Viết hoa chữ đầu+ gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pāli)
1.Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất…
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ,…
3. Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà,…
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di,…
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát,…
IV- Gạch nối: (danh từ chung được phiên âm từ Pāli)
Ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần…
V- Số:
1.Viết thành chữ: (những số qua lớn nên chú thích thêm số)
Ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)…
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
Ví dụ: Đại I, trang 15, cht.52…
VI- Đặc biệt:
Âm “y” và “i” dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L, M, T, Q vẫn viết theo thói quen cũ.
Ví dụ: kỷ cương, lý luận,…
梵: viết là “Phạm” không viết là “Phạn”(phát âm theo chữ Brahma)
慧: viết là “Tuệ” không viết là “Huệ”.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
VÀI NÉT VỀ TẬP 47
Tập 47 – Chư Tông Bộ phần 4 được thu lục vào trong Hán tạng Đại Chánh Tân Tu gồm 44 luận sớ Kinh từ No 1957 đến 2000 và được chuyển dịch Việt ngữ thành 4 quyển 171, 172, 173, 174 của Tạng Linh Sơn Pháp Bảo Tạng Kinh Việt Nam. Nội dung tập 47 này có thể chia làm hai phần:
Phần 1 nói về ý nghĩa Tịnh độ, gồm 18 luận từ No- 1957 đến No- 1984:
No 1957- Lược luận An Lạc Tịnh Độ nghĩa 1 quyển, do ngài Đàm Loan soạn vào đời Hậu Ngụy. Nội dung giải thích xoay quanh về nhân quả của Hóa chủ tức Đức Phật A di Đà và quả tướng của chúng sanh. Luận này dựa vào 3 kinh: Vô lượng thọ, Quán Vô lương thọ, A di đà và 1 luận Vô lương thọ Ưu ba đề xá nguyện sanh kệ mà giải thích.
No 1958- An Lạc Tập 2 quyển, do ngài Đạo Xước soạn vào đời Đường. Dựa vào giáo nghĩa Phật giáo, ba bộ kinh Tịnh độ, nhất là thuyết đời mạt pháp nói trong kinh Đại Tập, tác giả cực lực xiển dương pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh thế giới Cực lạc, bất chấp nạn bài Phật của Vũ đế Bắc chu đương thời.
No 1959- Quán niệm A Di Đà Phật tướng hải Tam muội công đức pháp môn 1 quyển, do ngài Thiện Đạo tập hợp ghi chép vào đời Đường.
No 1960- Thích Tịnh độ quần nghi luận 7 quyển, do ngài Hoài Cảm soạn vào đời Đường. Nội dung sách này được soạn theo hình thức vấn đáp gồm 116 chương, nhằm giải đáp những nghi ngờ về việc vãng sinh Tịnh độ được nêu ra trong Nhiếp luận, Duy thức học v.v..có thể nói đây là độ Bách khoa toàn thư của tông Tịnh độ đương thời.
No 1961- Tịnh độ thập nghi luận 1 quyển, do ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy. Y cứ vào giáo nghĩa vãng sinh Tịnh độ, ngài nêu ra mười điều nghi và tự giải đáp để làm sáng tỏ tôn chỉ tinh yếu của pháp môn Tịnh độ.
No 1962- Ngũ phương tiện niệm Phật môn 1 quyển, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy. Nội dug, tác giả đưa ra 5 phương tiện thiền của pháp môn niệm Phật, từ cạn đến sâu thích hợp với mọi căn cơ từ dễ đến khó, từ sự đến cuối cùng lý dứt bỏ Nhị biên phân biệt mà thành tựu Viên quán.
No 1963- Tịnh độ luận 3 quyển, do ngài Ca Tài soạn vào đời Đường. Cũng gọi là Ca Tài Tịnh độ luận. Luận này sữa chữa hoàn bị bộ An Lạc tập của ngài Đạo Xước, dùng thể tài vấn đáp để trình bày pháp nghĩa Tịnh độ và nêu rõ tư tưởng trong An Lạc tập.
No 1964- Tây phương yếu quyết thích nghi thông quy 1 quyển, do ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường. Nội dung sách này giải thích rõ ràng những điểm còn hoài nghi đối với việc vãng sinh Tây phương để khuyến khích mọi người nên tinh tấn tu tập.
No 1965- Du tâm an lạc đạo 1 quyển, do ngài Nguyên Hiểu người nước Tân La soạn. Nội dung sách chia làm 7 môn như Tôn chỉ lập tông, Xác định cõi Tịnh độ có thật, v.v..để nói rõ sự yên vui ở Tịnh độ và nhân duyên vãng sinh.
No 1966- Niệm Phật Kính ( Cảnh) 2 quyển, do ngài Đạo Kính và Thiện Đạo chung soạn. Ý tác giả cổ xúy pháp môn niệm Phật là thù thắng hơn cả, như tấm gương sáng giúp mọi người tăng thêm niềm tin và dứt trừ nghi hoặc
No 1967- Niệm Phật Tam muội bảo vương luận 3 quyển, do ngài phi Tích soạn vào đời Đường. Tác giả lấy Niệm Phật Tam muội làm bảo vương trong các thiền Tam muội đề xướng thuyết Vạn thiện đồng quy, ba đời đều tu niệm Phật: niệm Phật vị lai, niệm Phật hiện tại, niệm Phật trong suốt ba đời đều là Phật.
No 1968- Vãng sinh Tịnh độ quyết nghi hạnh nguyện nhị môn 1 quyển, do ngài Tuân Thức soạn vào đời Tống.
No 1969- Lạc bang văn loại 5 quyển, và Lạc bang di cảo do ngài Tông Hiểu soạn vào đời Tống. Đây là tập sưu tập toàn bộ những bài văn trọng yếu trong các kinh luận có liên quan đến tông Tịnh độ, cho đến các trước tác, thi kệ, truyện ký... của các sư.
No 1970- Long thư tăng quảng Tịnh độ văn 12 quyển, do ngài Vương Nhật Hưu soạn vào đời Tống. Sách này nguyên của chính tác
giả có 10 quyển, nội dung chia làm 10 chương thu chép các kinh luận, truyện ký v.v..có liên quan đến việc vãng sinh Tịnh độ. Người đời sau tăng thêm thành 12 quyển, tức gọi là Quảng Tịnh độ văn vậy.
No 1971- Tịnh độ cảnh quán yếu môn 1 quyển, do ngài Hoài Tắc soạn thuật vào đời Nguyên.
No 1972- Tịnh độ hoặc vấn 1 quyển, do ngài Thiên Như Tắc sáng tác vào đời Nguyên.
No 1973- Lô sơn Liên tông bảo giám 10 quyển, do ngài Phổ Độ biên soạn vào đời Nguyên. Sách này dựa theo tông chỉ Niệm Phật Tam muội của Bạch liên xã do ngài Lô sơn Tuệ Viễn đời Đông Tấn chủ xướng mà soạn thành. Nội dung gồm 10 thiên luận về niệm Phật: chính nhân, chính giáo, chính tông, chính phái, chính tín, chính hạnh, chính nguyện, chính quyết, chính báo và chính luận.
No 1974- Bảo vương Tam muội niệm Phật trực chỉ 2 quyển, do ngài Diệu Hiệp soạn vào đời Minh.
No 1975- Tịnh độ sinh vô sinh luận 1 quyển, do ngài Truyền Đăng soạn vào đời Minh. Nội dung sách này sử dụng nghĩa chính yếu trong các kinh luận để nói rõ về việc sinh vô sinh trong giáo nghĩa Tịnh độ. Sách này cùng với Tịnh độ thập nghi luận của ngài Trí Khải đời Tùy, Niệm Phật Tam muội Bảo vương luận hợp thành Tịnh độ Tam luận.
No 1976- Tây phương hợp luận 10 quyển, do ngài Viên Công Đạo soạn vào đời Minh. Nội dung kế thừa chủ trương của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ...nói rộng về yếu chỉ Thiền Tịnh song tu, hiển bày nghĩa đích thật của Tam muội niệm Phật.
No 1977- Tịnh độ nghi biện 1 quyển, do ngài Châu Hoằng soạn vào đời Minh.
No 1978- Tán A Di Đà Phật kệ 1 quyển, do ngài Đàm Loan soạn vào đời Hậu Ngụy.
No 1979- Chuyển Kinh hành đạo nguyện Vãng sinh Tịnh độ pháp sự tán 2 quyển, do ngài Thiên Đạo soạn vào đời Đường.
No 1980- Vãng sinh lễ tán kệ 1 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường. Cũng gọi là Lục thời lễ tán kệ, Vãng sinh lễ tán của các ngài Long Thọ, Thế Thân làm
nền tảng mà định ra 6 thời lễ tán của hành giả tu pháo môn niêm Phật.
No 1981- Y Quán Kinh đẳng minh Ban Chu Tam muội hành đạo vãng sinh tán 1 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường.
No 1982- Tập chư Kinh đẳng minh Ban Chu Tam muội hành đạo vãng sinh tán 1 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường.
No 1983- Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán 2 quyển, do ngài Pháp Chiếu soạn vào đời Đường. Sách này ghi chép sơ lược về những nghi tắc của ngũ hội niệm Phật.
No 1984- Vãng sinh Tịnh độ sám nguyện nghi 1 quyển, do ngài Tuân Thức soạn vào đời Tống. Nội dung sách này y cứ vào kinh Đại Vô lượng thọ, kinh Xưng tán Tịnh độ mà nêu ra 10 pháp tu hành của người tu theo pháp môn Tịnh độ. Trong đó chủ yếu chỉ bày cách thức bài biện đạo tràng, dâng hương, sám hối phát nguyện, lễ Phật, kinh hành v.v..
Phần 2 nói về ngữ lục của các Thiền sư, gồm 26 luận từ No-1985 đến No- 2000:
No 1985- Trấn châu Lâm Tế Tuệ Chiếu Thiền sư ngữ lục 1 quyển, do ngài Tuệ Nhiên soạn vào đời Đường.
No 1986- Quân châu Đổng sơn Ngộ Bổn Thiền sư ngữ lục 1 quyển, do ngài Tuệ Ấn người Nhật bổn soạn. Thụy châu Đổng sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục, do ngài Ngữ Phong, Viên Tín, Quách Ngưng biên soạn vào đời Minh.
No 1987- Phủ châu Tào sơn Bổn Tịch Thiền sư ngữ lục 2 quyển, do ngài Tuệ Ấn người Nhật Bổn soạn.
No 1988- Vân Môn Khuông Chấn Thiền sư quảng lục 3 quyển, do ngài Thủ Kiên soạn vào đời Tống.
No 1989- Đàm châu Quy sơn Linh Hựu Thiền sư ngữ lục 1 quyển, do ngài Ngữ Phong, Viên Tín, Quách Ngưng biên soạn vào đời Minh.
No 1990- Viên châu Ngưỡng sơn Tuệ Tịch Thiền sư ngữ lục 1 quyển, do ngài Ngữ Phong, Viên Tín, Quách Ngưng biên soạn vào đời Minh.
No 1991- Kim Lăng Thanh Lương viện Văn Ích Thiền sư ngữ lục 1 quyển, do ngài Ngữ Phong, Văn Tín, Quách Ngưng biên soạn vào đời Minh.
No 1992- Phần Dương Vô Đức Thiền sư ngữ lục 3 quyển, do ngài Huệ Tuyền soạn vào đời Tống. Hoàng Long Tuệ Nam Thiền sư ngữ lục tục bổ 1 quyển, do ngài Đông Cảo ngươi Nhật Bổn soạn tập.
No 1993- Hoàng Long Tuệ Nam Thiền sư ngữ lục 1 quyển, do ngài Huệ Tuyền soạn vào đời Tống. Hoàng Long Tuệ Nam Thiền sư ngữ lục tục bổ 1 quyển, do ngài Đông Cảo người Nhật bổn soạn tập.
No 1994- Dương Kỳ Phương Hội Hòa thượng ngữ lục 1 quyển, do các ngài Nhân Dũng... soạn. Dương Kỳ Phương Hội Hòa thượng hậu lục
No 1995- Pháp Diễn Thiền sư ngữ lục 3 quyển, do các ngài Tài Lương...soạn vào đời Tống.
No 1996- Minh Giác Thiền sư ngữ lục 6 quyển, do ngài Duy Cát Trúc biên soạn vào đời Tống. Phụ: Minh Châu Tuyết Bảo sơn Tư Thánh tự Lục tổ Minh Giác đại sư tháp minh 1 quyển, do ngài Lữ Hạ Khanh soạn vào đời Tống.
No 1997- Viên Ngộ Phật Quả thiền sư ngữ lục 20 quyển, do các ngài Thiệu Long... biên soạn vào đời Tống.
No 1998- Đại Tuệ Phổ Giác Thiền sư ngữ lục 30 quyển, do ngài Uẩn Văn biên soạn vào đời Tống. Đại Tuệ Phổ Giác Thiền sư Tông môn Vũ khố 1 quyển, do ngài Đạo Khiêm soạn vào đời Tống.
No 1999- Mật Am Hòa thượng ngữ lục 1 quyển, do các ngài Sùng Nhạc, Liễu Ngộ... biên soạn vào đời Tống.
No 2000- Hư Đường Hòa thượng ngữ lục 1 quyển, do các ngài Diệu Nguyên biên soạn vào đời Tống.
Trên đây là tóm tắt sơ lược nội dung tập 47 Hán Tạng Đại chánh Tân tu.
BAN BIÊN TẬP
MỤC LỤC
(BỘ CHƯ TÔNG 11 – TẬP 171)
SỐ 1957 – LƯỢC LUẬN AN LẠC TỊNH ĐỘ LUẬN................ 3
SỐ 1958 – AN LẠC TẬP................................................................ 15
QUYỂN THƯỢNG :........................................................................ 15
-PHẦN 1 :.......................................................................................... 15
-PHẦN 2 : ......................................................................................... 26
-PHẦN 3 : ......................................................................................... 43
QUYỂN HẠ :.................................................................................... 50
-PHẦN 4 :.......................................................................................... 50
-PHẦN 5 :.......................................................................................... 57
-PHẦN 6 :.......................................................................................... 62
-PHẦN 7 :.......................................................................................... 64
-PHẦN 8 :.......................................................................................... 66
-PHẦN 9 : ......................................................................................... 69
-PHẦN 10 :........................................................................................ 72
-PHẦN 11 : ....................................................................................... 73
-PHẦN 12 : ....................................................................................... 75
SỐ 1959 – QUÁN NIỆM A DI ĐÀ PHẬT TƯỚNG HẢI TAM
MUỘI CÔNG ĐỨC PHÁP MÔN.................................................. 83
SỐ 1960 – THÍCH TỊNH ĐỘ QUẦN NGHI LUẬN.................... 111
LỜI TỰA........................................................................................... 111
QUYỂN 1 :........................................................................................ 113
QUYỂN 2 : ....................................................................................... 131
QUYỂN 3 :........................................................................................ 151
QUYỂN 4 :........................................................................................ 171
QUYỂN 5 :........................................................................................ 192
QUYỂN 6 :........................................................................................ 212
QUYỂN 7 : ....................................................................................... 232
SỐ 1961 – TỊNH ĐỘ THẬP NGHI LUẬN................................... 255
LỜI TỰA : ........................................................................................ 255
Tịnh Độ Thập Nghi Luận.................................................................. 258
Luận Bàn Về Tịnh Độ Thập Nghị Luận............................................ 272
SỐ 1962 – NGŨ PHƯƠNG TIỆN NIỆM PHẬT MÔN............... 277
SỐ 1963 – TỊNH ĐỘ LUẬN........................................................... 285
LỜI TỰA : ........................................................................................ 285
QUYỂN THƯỢNG :........................................................................ 287
QUYỂN TRUNG :........................................................................... 311
QUYỂN HẠ : ................................................................................... 338
SỐ 1964 – TÂY PHƯƠNG YẾU QUYẾT THÍCH NGHI THÔNG
QUỸ................................................................................................. 365
SỐ 1965 – DU TÂM AN LẠC ĐẠO.............................................. 393
SỐ 1966 – NIỆM PHẬT CẢNH..................................................... 427
LỜI TỰA :......................................................................................... 427
QUYỂN THƯỢNG :........................................................................ 431
QUYỂN HẠ : ................................................................................... 450
SỐ 1967 – NIỆM PHẬT TAM MUỘI BẢO VƯƠNG LUẬN.... 479
LỜI TỰA : ........................................................................................ 479
QUYỂN THƯỢNG :........................................................................ 480
QUYỂN TRUNG : .......................................................................... 496
QUYỂN HẠ : ................................................................................... 509
SỐ 1968 – VÃNG SANH TỊNH ĐỘ QUYẾT NGHI HÀNH NGUYỆN
NHỊ MÔN........................................................................................ 523
SỐ 1969 – LẠC BANG VĂN LOẠI – LẠC BANG DI CẢO..... 539
LỜI TỰA 1 :...................................................................................... 539
LỜI TỰA 2 :...................................................................................... 541
QUYỂN 1 :........................................................................................ 543
QUYỂN 2 :........................................................................................ 591
QUYỂN 3 :........................................................................................ 652
QUYỂN 4 :........................................................................................ 697
QUYỂN 5 : ....................................................................................... 746
LỜI TỰA SAU.................................................................................. 808
- LẠC BANG DI CẢO.................................................................... 809
QUYỂN THƯỢNG :........................................................................ 811
QUYỂN TRUNG :........................................................................... 842
QUYỂN HẠ :.................................................................................... 845