Thiện Đức dẫn đầu, bảo với đại chúng:
-Các ông nên biết, ta nhớ từ trong quá khứ vô lượng kiếp, có Phật ra đời tên là Bảo Uy Đức Thượng Vương. Phật khi ra đời cũng như bây giờ, nói pháp Tam thừa. Sau khi Phật diệt độ, trong đời mạt pháp có một vị Tỳ-kheo đem chín người đệ tử, đi đến tháp Phật, lễ bái Phật tượng, thấy có một bảo tượng, trang nghiêm rực rỡ. Chư vị quán rồi thì kính lễ, mắt chiêm ngưỡng không rời, mỗi vị nói một bài kệ để khen ngợi Phật, rồi tùy thuận tu tập. Sau đó, mỗi vị khi mạng chung, liền sinh ra trước Phật. Từ đó đến nay, các vị ấy thường được gặp vô lượng chư Phật; ở trong cõi Phật rộng tu phạm hạnh, đều đắc niệm Phật Tam-muội. Khi đã đắc ngộ thì thường thấy chư Phật hiện tiền, và được thọ ký, thành bậc Chánh giác ở trong mười phương quốc độ. Phật Thiện Đức ở phương Đông đó, chính là ta đây. Còn chư Phật ở chín phương khác, chính là chín người đệ tử trước đó. Do lễ tháp, nói kệ tán thán mười phương chư Phật mà thành tựu đạo quả khắp trong mười phương quốc độ.”
Khi ấy, mười phương chư Phật từ trên không trung phóng ra ngàn tia sáng chiếu soi rực rỡ, lại hiện ra sắc thân tướng tốt bạch hào. Mỗi vị đều ngồi tòa của Phật Thích-ca, và bảo với A-nan rằng:
-Ông nên biết, Phật Thích-ca Văn từng tu tinh tấn vô lượng, chịu trăm ngàn khổ hạnh, cầu trí tuệ Phật, được quả báo ở thân này. Nay vì ông mà diễn thuyết, ông nên vâng giữ lời Phật nói. Trong đời vị lai, hàng Thiên long, bốn chúng đệ tử đều nên quán tướng hảo của Phật và niệm Phật Tam-muội.
Chư Phật nói lời ấy rồi, đều đến chào hỏi Phật Thích-ca, xong rồi thì mỗi vị đều trở về bản quốc.
PHẦN 6
Trong phần thứ sáu này gồm có ba nội dung chính:
-So sánh mười phương Tịnh độ với cõi Cực lạc.
-Suy rõ nghĩa lý.
-Nói về sự trụ diệt của kinh điển.
I.So Sánh Mười Phương Tịnh Độ Với Tây Phương:
Có ba ý:
1)Theo kinh Tùy Nguyện Vãng Sinh nói: “Mười phương Phật quốc đều rất nghiêm tịnh, tùy nguyện lực của chúng sinh mà được vãng
sinh về đó. Tuy nhiên, tất cả cõi đó đều không bằng với nước Vô Lượng Thọ ở Tây phương.” Ý này là gì? Khi Đức A-di-đà cùng Quán Âm, Thế Chí phát tâm trước tiên, từ cõi này đi đến thế giới kia, đối với chúng sinh ở đây, Phật riêng có duyên, cho nên Đức Thích-Ca tán thán khuyên cầu sinh về đó.
2)Căn cứ vào Đại kinh có nói: “Pháp Tạng Bồ-tát, nơi Phật Thế Nhiêu Vương, phát nguyện đầy đủ, xin giữ cõi Tịnh độ. Bấy giờ Phật nhân đó mà thuyết giảng về hai trăm mười ức cõi Phật, cùng nói rõ các cõi tịnh uế, thiện ác của hàng Thiên nhân. Khi ấy Bồ-tát Pháp Tạng, phát nguyện thành Phật ở cõi Tây phương, hiện là nước Cực lạc.”
3)Như trong Kinh quán có nói: “Phu nhân Vi-đề-hy lại cầu thỉnh sinh Tịnh độ. Như Lai phóng hào quang hiện ra mười phương Tịnh quốc.” Vi-đề phu nhân bạch Phật:
-Chư Phật Quốc độ tuy đều thanh tịnh trang nghiêm, đều có ánh sáng tỏ chiếu rực rỡ. Con nay chỉ thỉnh cầu sinh về thế giới Cực lạc của Phật A-di-đà.
Như vậy đủ biết, trong mười phương Quốc độ, thì thế giới An lạc là thù thắng hơn cả.
II.Suy Biện Nghĩa Lý:
Hỏi: Vì sao lại cần phải ngồi xoay mặt về hướng Tây, lễ niệm quán Phật?
Đáp: Vì cõi Diêm-phù-đề được gọi là nơi mặt trời mọc, là sự sống. Mặt trời lặn là tử, mượn đó để gọi đất chết, thần minh thù nhập, cùng tương trợ nhau. Cho nên Bồ-tát Pháp Tạng nguyện thành Phật ở phương Tây, vì lòng Từ bi muốn tiếp độ chúng sinh. Do đó mà ngồi quán lễ niệm hướng về cõi Phật, đó là tùy theo lễ nghi ở đời. Nếu là Thánh nhân được phi báo tự tại, thì không luận phương sở. Nhưng hạng phàm phu, thân tâm cũng tùy theo đó. Nếu hướng các phương khác mà cầu vãng sinh về Tây phương thì khó. Cho nên trong luận Trí Độ nói: “Có một vị Tỳ-kheo, hằng ngày thường tụng kinh A-di-đà và niệm Bát-nhã ba-la-mật. Khi qua đời, Tỳ-kheo bảo với đệ tử: Phật A-di-đà cùng chư Thánh chúng đang ở trước mắt ta. Nói rồi, chấp tay quy y, trong khoảnh khắc liền mạng chung. Chúng đệ tử y pháp làm lễ táng thầy dùng lửa hỏa táng, mọi thứ cháy hết nhưng cái lưỡi vẫn còn nguyên, chúng đệ tử thu về xây tháp cúng dường.”
Bồ-tát Long Thọ giải thích: “Người tụng kinh A-di-đà, khi sắp mạng chung, Phật sẽ đến nghênh tiếp. Vì niệm Bát-nhã ba-la-mật, cho