Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 171, Bộ Chư Tông XI, Số 1957- 1969

Đại Tập 171, Bộ Chư Tông XI, Số 1957- 1969

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 883.

Chương 9: Số 1958- An Lạc Tập, Quyển Hạ, Phần 8 (Trang 66 - 68)

Phương này phần nhiều mọi người tu các pháp Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ còn chưa rốt ráo. Từ cả vạn kiếp đến nay, họ chưa bao giờ tránh khỏi bị rơi vào trong nhà lửa điên đảo. Cho nên, gọi đó là sự dụng công mà gặp quả báo ngụy tà.
Trong Đại kinh lại nói: “Sinh về nước ta, đó là con đường tắt vượt qua năm ác thú.” Nay ước theo đây để đối lại với Tịnh quốc Di-đà.
Năm đạo ở cõi Ta-bà, đều gọi chung là ác thú như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh... cõi trời, người ở Ta-bà, do hướng theo tạp nghiệp, nên cũng gọi là ác thú.
Nếu y vào phương này tu niệm đoạn trừ, trước tiên cần phải đoạn kiến hoặc, lìa hết nhân trong Tam đồ, diệt quả Tam ác đạo. Sau đó đoạn trừ tu hoặc, lìa hết người trong cõi trời người, tuyệt cả quả trời người. Đây chỉ tạm đoạn trừ dần dần, cho nên không thể gọi là đoạn trừ nhanh chóng được. Nếu khi chúng ta được vãng sinh về Tịnh quốc, thì năm đạo trong Ta-bà này sẽ nhất thời dứt bỏ, cho nên gọi là đốn siêu, như vậy năm ác thú đó là dứt hết quả. Ác thú tự nhiên dứt thì nhân cũng dứt. Ý này nói rõ về xa lìa.
Thắng đạo vô cùng cực đó, là nêu bày chỗ sở đắc. Nếu phát nguyện hồi hướng về Tây phương, trên tận hết một đời, dưới cho đến mười niệm, đều được vãng sinh cả. Một khi đến cõi Cực lạc, liền nhập vào chánh định tụ, công đức đồng với một vạn kiếp tu đạo ở đây.


                                                      PHẦN 8
Trong phần thứ tám này gồm có ba nội dung chính:
-Nêu kinh dẫn chứng, khuyên bỏ Ta-bà, cầu sinh Tịnh độ.
-So sánh Đức Phật A-di-đà với Phật Thích-ca.
-Giải thích ý nghĩa của vãng sinh.
 
I.Nêu Kinh Dẫn Chứng, Khuyên Bỏ Ta-Bà, Cầu Sinh Tịnh
 
Lược nêu các kinh điển Đại thừa do Phật thuyết để dẫn chứng, nhằm khuyên bỏ đây để cầu sinh kia.
-Trong núi Kỳ-xà-quật, Phật thuyết Đại kinh, gồm hai quyển.
-Ở trong Vương cung Kỳ-xà, Phật hai lần thuyết giảng trọn bộ Quán Vô Lượng Thọ kinh.
-Ở tại thành Xá-vệ, Phật thuyết giảng Tiểu Quyển Vô Lượng
Thọ kinh, và Thập Phương Tùy Nguyện Vãng Sinh kinh.
-Lại có kinh Vô Lượng Thanh Tịnh Giác, hai quyển, do Phật thuyết.
-Lại có Thập Vãng Sinh kinh, một quyển, do Phật thuyết.
Còn các bộ kinh Đại thừa khác, phần nhiều là tán thán cõi Tịnh độ như “Thỉnh Quán Âm Đại Phẩm kinh” v.v...
Lại có các bộ luận của Bồ-tát Long Thọ, Thiên Thân, tán thán khuyên vãng sinh không phải một; và đều nói mười phương cõi Tịnh độ khác không bằng phương này.
 
II.So Sánh Đức Phật Thích-Ca Với Đức Phật A-Di-Đà:
Nghĩa là, Phật Thích-ca trụ thế tám mươi năm ở cõi này, tạm đến rồi đi, đi mà không trở lại. Ở đây so với trời Đao lợi thì không bằng một ngày.
Lại nữa, Phật Thích-ca lúc tại thế, việc cầu duyên cũng kém, như đến nước Tỳ-xá-ly cứu người mắc nạn v.v...
Vì sao? Lúc ấy ở nước Tỳ-xá-ly, nhân dân bị năm loại bệnh hiểm nghèo:
1)Mắt đỏ như máu.
2)Hai tai chảy mũ.
3)Mũi ra máu.
4)Lưỡi không phát ra tiếng.
5)Thức ăn đều bị hóa thành vật thô lậu.
Sáu thức bế tắc, chẳng khác gì kẻ say. Bấy giờ có năm con quỷ Dạ-xoa, hay còn gọi là Hất-nộ-ca-la, mặt đen như mực, có năm mắt, răng nanh lòi ra ngoài, hút tinh khí của người. Dù lương y tài giỏi dùng đủ đạo thuật mà vẫn không thể cứu được.
Khi ấy có vị trưởng giả tên là Nguyệt Cái làm thủ bộ lãnh của bệnh nhân, đều quy về Phật, khấu đầu cầu thỉnh. Bấy giờ Đức Thế Tôn khởi lòng từ bi vô lượng, bảo với người bệnh: “Ở phương Tây có Phật A-di-đà, cùng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ-tát... ông nên chánh tâm hiệp chưởng cầu thỉnh.” Thế là mọi người đều quy hướng về Phật, chấp tay cầu thỉnh.
Bấy giờ, Phật A-di-đà phóng hào quang chiếu sáng, có Quán Âm, và Thế Chí Bồ-tát ở hai bên, nói Đại thần chú, khiến cho tất cả bệnh khổ đều tiêu tan, dân chúng được bình phục trở lại.
Mặc dù thần lực của hai vị Phật đều như nhau, nhưng Thích-ca Như Lai không thể tự mình khuyến tấn, mà muốn tất cả chúng sinh quy
hướng về Cực lạc. Cho nên, Pháp sư Đàm Loan chánh ý cũng quy về Tây phương, nên có làm bài tán trong Đại kinh rằng:
An lạc Thanh văn, Bồ-tát chúng
Trí tuệ trời người đều thông suốt
Thân tướng trang nghiêm không khác biệt
Chỉ thuận phương khác nên liệt danh
Dung nhan đoan chánh không gì bằng
Tinh vi thân diệu phi trời người

Thân hư vô không có cực thể
Cho nên đảnh lễ lực bình đẳng.
 
III.Giải Thích Ý Nghĩa Vãng Ssinh:
Trong nội dung này gồm có hai ý:
1)Giải thích ý nghĩa vãng sinh.
2)Nêu vấn đáp để làm rõ.
Hỏi: Nay nguyện sinh Tịnh độ, chưa biết ý này thế nào?
Đáp: Chỉ muốn bệnh mau thành, tự lợi lợi tha, lợi vật đều sâu rộng. Hàng Thập tín, Tam hiền đều nhiếp thọ chánh pháp, khế hội bất nhị, kiến chứng Phật tánh, hiểu rõ được thật tướng, quán chiếu tự tâm, hữu vô Nhị đế, nhân quả trước sau, sự ưu liệt trong hàng Thập địa, Tam nhẫn, Tam đạo, Kim cang vô ngại, chứng đại Niết-bàn, Đại thừa soi sáng rộng lớn, nhưng đều muốn trụ thế lâu dài, để độ tận vô biên sinh tử cho chúng sinh.
Hỏi: Nguyện sinh Tịnh độ, vì muốn lợi lạc chúng hữu tình. Như thế, vì muốn cứu độ chúng sinh trong hiện nay cho nên phát tâm nguyện này. Vậy tại sao đã đắc được tâm này, trước phải nguyện sinh Tịnh độ, gần như là bỏ chúng sinh, tự cầu Bồ-đề An lạc cho riêng mình?
Đáp: Nghĩa này không đồng. Vì sao? Như Trí Độ luận nói: “Như có hai người, đều thấy cha mẹ quyến thuộc của mình rơi vào vực sâu. Một người nhảy xuống hết sức cứu giúp, không đủ sức nên cùng chìm. Một người chạy ra xa, kiếm một chiếc thuyền, bơi vào cứu hộ, nên đều được thoát nạn.”
Bồ-tát cũng như thế, khi chưa phát tâm thì cũng chịu sinh tử lưu chuyển như chúng sinh. Nhưng khi đã phát tâm Bồ-đề, thì trước phải nguyện sinh về Tịnh độ, đem thuyền đại bi, nương pháp biện tài vô ngại, nhập vào biển sinh tử, để cứu độ chúng sinh”.
Đại Trí Độ luận lại nói: “Bồ-tát sinh về Tịnh độ, đầy đủ đại thần thông, biện tài vô ngại, khi giáo hóa chúng sinh, còn không thể khiến
/51
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »