được sinh lên trời. Lại có một vị trưởng giả, tên là Chấp Trì, hoàn trả giới lại cho Phật, hiện đã bị ác quỷ đánh chết.”
Hỏi: Niệm Phật Tam-muội chỉ có thể đối trị các điều ác, chỉ nhận quả báo thế gian còn đối với quả báo xuất thế vô thượng Bồ-đề có chiêu cảm được không?
Đáp: Được. Vì sao? Như trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Địa nói: “Bắt đầu từ Sơ địa cho đến Thập địa, ở trong mỗi địa đều nói nhập địa gia hạnh đạo địa đầy đủ công đức lợi mình, không trụ vào đạo, rồi kết luận rằng: Chư Bồ-tát tuy tu hành khác, nhưng đều không lìa pháp niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, cúng dường Tam bảo, đầy đủ các thứ phương tiện diệu lạc.” Văn này, chứng tỏ các Bồ-tát, cho đến thượng địa, vẫn thường học niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, mới có thể thành tựu Vô lượng hạnh nguyện, đầy đủ biển công đức . Huống gì là Nhị thừa, phàm phu cầu sinh Tịnh độ, mà không học niệm Phật! Vì sao? Vì niệm Phật Tam-muội này tức đầy đủ Tứ Nhiếp, Lục Độ, làm bạn đồng hành.
Hỏi: Bồ-tát từ Sơ địa trở lên, cùng chứng lý Chân như đồng như Phật, gọi là sinh tại Phật gia. Tự có thể làm Phật, cứu độ chúng sinh, đâu cần niệm Phật Tam-muội, phát nguyện thấy Phật?
Đáp: Luận về Chân như, thì rộng lớn vô cùng, bằng như hư không, lượng chúng khó tính biết được. Thí như một ngôi nhà lớn tối tăm, nếu chỉ đốt một hai ngọn đèn, thì ánh sáng tuy tỏ chiếu mà không thể sáng hết được. Nếu để nhiều đèn, tuy gọi là đại minh (tỏ sáng) mà sao bằng với ánh sáng mặt trời? Chứng trí của Bồ-tát, đã chứng đắc, tuy so sánh trong từng Địa đều có thứ hạng đáng kể nhưng đâu có thể bằng Phật, như ánh sáng mặt trời.
PHẦN 5
Trong phần thứ năm này có bốn nội dung chính sau:
-Lược nói về sự cần kíp tu đạo để khiến mau chứng quả Bất thoái.
-So sánh giữa Thiền và Tịnh, khuyến khích tin tưởng vãng sinh.
-Nói về hai cảnh Tịnh-uế, cũng gọi là hữu lậu và vô lậu.
-Dẫn kinh giáo chứng minh, khuyến hậu thế tin nguyện vãng sinh.
I.Lược Nói Về Cần Kíp Tu Đạo:
Trong nội dung này gồm có hai ý:
1)Nói rõ sự cần kíp phải tu đạo.
2)Nếu vấn đáp để giải thích.
Nói đến phải tu đạo cần kíp, tức là tất cả chúng sinh không ai mà không chán khổ cầu vui, sợ ràng buộc cầu giải thoát, đều muốn sớm chứng quả Vô thượng Bồ-đề. Muốn vậy thì trước phải phát tâm Bồ-đề, tâm này khó biết khó khởi. Nếu như đã phát tâm, tùy y theo kinh tu tập mười chủng hạnh, bao gồm: Tín, tấn, niệm, giới, định, tuệ, xả, hộ pháp, phát nguyện, và hồi hướng tiến đến Bồ-đề. Nhưng thân tu đạo, liên tục không ngừng, trải qua một vạn kiếp, mới chứng quả vị Bất thoái. Hàng phàm phu ngày nay, niềm tin nhẹ tợ lông, đó là giả danh, cũng gọi là Bất định tụ, là ngoại phàm phu, chưa ra khỏi nhà lửa.
Làm sao biết được như vậy? Theo kinh Bồ-tát Anh Lạc thì cần phải đầy đủ hạnh vị pháp vị mới nhập đạo, cho nên gọi là nan hành đạo. Lại chỉ lấy trong một kiếp, thọ thân sinh tử còn không thể biết hết, huống chi trong muôn kiếp chịu biết bao khổ hoạn? Nếu tin Phật kinh, nguyện sinh về Tịnh độ, tùy thọ mạng dài ngắn, một đời liền đến ngôi vị Bất thoái, bằng công đức tu cả vạn kiếp. Chư Phật tử vì sao không suy lường, không bỏ khó mà cầu dễ?
Như trong Câu-xá luận cũng nói rõ hai loại: nan hành, dị hành. Nan hành tức như trong luận nói: “Ở trong ba A-tăng-kỳ kiếp, trong mỗi mỗi kiếp đều có đủ phước trí tư lương, tất cả chư hành, sáu Ba-la-mật. Mỗi hạnh nghiệp đều có trăm vạn đạo nan hành, mới đầy đủ một vị, đó là nan hành đạo vậy.” Dị hành đạo đó, tức trong luận nói: “Như riêng có phương tiện, có giải thoát, gọi là dị hành đạo.”
Nay đã khuyên quy về Cực lạc, tất cả hạnh nghiệp đều quy hướng về kia. Nếu chuyên tâm nhất chí, thọ mạng tận nhất định sẽ được vãng sinh. Được sinh về Cực lạc rồi, tức là nơi cứu cánh thanh lương, há không phải là dị hành đạo sao? Cần hiểu rõ ý này .
Hỏi: Như nói nguyện sinh về Tịnh độ, phát nguyện rồi thì khi lâm chung sẽ được vãng sinh. Điều đó có Thánh giáo chứng minh không?
Đáp: Để trả lời câu hỏi này thì có bảy chứng cứ được rút ra từ kinh luận:
1)Như trong Đại kinh nói: “Phật bảo A-nan: Nếu có chúng sinh,muốn trong đời này thấy Phật Vô Lượng Thọ, nên phát tâm Vô thượng Bồ-đề, tu hành công đức, nguyện sinh về nước kia, tức sẽ được vãng sinh.” Cho nên trong Đại kinh có bài tán thán rằng:
Như nghe Đức hiệu Phật A-di-đà,
Hoan hỷ tán ngưỡng tâm quy y,
Do nhất niệm được lợi ích lớn,
Thế là đầy đủ công đức bảo.
Giả như lửa tràn khắp đại thiên,
Cũng nên vượt qua nghe Phật danh,
Nghe Phật A-di-đà không thoái chuyển,
Thế nên chí tâm cúi đầu lễ.
2)Dựa vào Kinh quán, ở trong chín phẩm đều nói, khi qua đời mà chánh niệm thì liền được vãng sinh.
3)Như trong Khởi Tín luận nói: “Dạy chúng sinh quán Chân như bình đẳng nhất thật. Cũng có Bồ-tát mới phát tâm Bồ-đề còn yếu đuối, tự cho là không thể gặp được Phật, thân cận cúng dường, ý muốn thoái chuyển. Nên biết, Như Lai có phương tiện thù thắng, nhiếp hộ người có tín tâm. Nghĩa là lấy nhân duyên chuyên ý niệm Phật, thuận theo nguyện mà được vãng sinh. Vì thường thấy Phật, nên vĩnh viễn xa lìa ác đạo.”
4)Trong kinh Cổ Âm Đà-la-ni nói: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: Ta nay vì các ông mà diễn nói về thế giới Tây phương an lạc. Hiện nay có Phật hiệu là A-di-đà. Nếu có bốn chúng có thể chánh thọ trì danh hiệu Phật, giữ tâm kiên cố, ghi nhớ không quên, sau mười ngày đêm, trừ bỏ hết sự tán loạn, tinh cần tu tập niệm Phật Tam-muội, nếu có thể niệm niệm không dứt, trong mười ngày liền được vãng sinh, tận mắt thấy Phật A-di-đà.”
5)Theo kinh Pháp Cổ lại nói: “Nếu người khi lâm chung mà không thể tác niệm, chỉ cần biết bên cõi Tây phương có Phật, liền có ý cầu vãng sinh, liền được vãng sinh.”
6)Như trong kinh Thập Phương Tùy Nguyện Vãng Sinh có nói: “Nếu có người khi lâm chung, hoặc sau khi chết bị đọa vào địa ngục, hàng quyến thuộc vì người mất mà niệm Phật, chuyên tụng trai phước, thì người mất đó liền thoát khỏi địa ngục, vãng sinh về Tịnh quốc.”
Huống chi bây giờ mọi người tự mình tu niệm, sao lại không được vãng sinh? Cho nên trong kinh nói rằng: “Hiện tại quyến thuộc vì người mất mà cầu phước, như cúng cho người, ắt sẽ được ăn.”
7)Rộng dẫn chứng từ các kinh như trong kinh Đại Pháp Cổ nói: “Như có thiện nam, thiện nữ nào có thể chuyên tâm xưng danh hiệu chư Phật, thì mười phương chư Phật, tất cả các bậc Thánh hiền thường thấy người này, như hiện ra trước mặt. Vì thế mà kinh này được gọi là “Đại
Pháp Cổ”. Nên biết, người này ở trong mười phương Tịnh độ đều tùy nguyên vãng sinh.”
Lại nữa, trong kinh Đại Bi có nói: “Sao gọi là Đại Bi? Nếu như người chuyên niệm Phật liên tục không gián đoạn, thì khi qua đời, nhất định sẽ được vãng sinh. Nếu cùng khuyên người hành trì niệm Phật, nên biết những người này được gọi là người hành Đại bi vậy.” Cho nên trong kinh Niết-bàn nói: “Phật bảo Đại vương: Nếu như mở kho tàng lớn, bố thí cho tất cả chúng sinh trong một tháng, thì công đức đó không bằng người xưng niệm danh hiệu Phật một câu; công đức ấy rất lớn, không thể suy lường.”
Lại như trong kinh Tăng Nhất A-hàm nói:
Phật bảo A-nan:
-Có chúng sinh nào cúng dường cho hết thảy mọi người trong cõi Diêm-phù-đề này các thứ y phục, thức ăn, ngoạ cụ, thuốc thang… thì bì, mọi công đức ấy có nhiều không?
A-nan thưa:
-Bạch Thế Tôn! Rất nhiều! Rất nhiều! Không thể đo lường hết được.
Phật bảo A-nan:
-Nếu có chúng sinh thiện tâm liên tục, xưng danh hiệu Phật, thì trong khoảng thời gian vắt một đấu sửa công đức có được còn nhiều gấp bội, không thể đo lường hết được.
Trong Đại Phẩm kinh nói: “Nếu người tán tâm niệm Phật, cho đến khổ hết mà phước cũng không tận. Nếu người rải hoa niệm Phật, nhẫn đến hết khổ, mà phước cũng không tận.” Cho nên biết, niệm Phật được công đức lợi lớn không thể nghĩ bàn. Trong kinh Thập Vãng Sinh và các kinh Đại thừa, đều có văn chứng, không thể dẫn chứng đầy đủ.
II.So Sánh Thiền Và Tịnh Để Khuyến Tín Vãng Sinh:
Thứ đến so sánh với Thiền quán, khuyên người cầu vãng sinh. Chỉ có người ở cõi uế độ này cảnh loạn tâm tưởng nên khó nhập định cho dù tu đắc cũng chỉ đạt được sự định, phần nhiều thích đắm vị thiền. Lại chỉ có thể hàng phục nghiệp báo, sinh về thượng giới, mạng hết phần nhiều bị thoái chuyển. Cho nên trong Trí Độ luận nói:
Đa văn trì giới thiền
Chưa đắc pháp vô lậu
Tuy có công đức này
Mà việc chưa thể tin.
Nếu muốn hướng về Tây phương tu tập, về cảnh sự thì thanh tịnh sáng suốt, định quán dễ thành, trừ tội nghiệp nhiều kiếp, vĩnh viễn tinh tiến, cứu cánh thanh lương thì, như trong Đại kinh đã nói rõ.
Hỏi: Nếu cảnh giới Tây phương thù thắng, có thể được thiền định chiêu cảm, thì sắc giới thiên này kém, không nên do thiền định chiêu cảm?
Đáp: Nếu luận về nhân tu định, thì thông suốt cả hai. Muốn đạt quả vị Bất thoái chuyển ở cảnh giới kia, thì phải nhờ tha lực hộ trì. Cho nên nói là thù thắng. Cõi này tuy cũng tu định, nhưng chỉ có nhân tự phần, không có tha lực nhiếp hộ, nghiệp hết thì khó tránh bị thoái đọa. Do đó mà nói là không bằng.
III.Nói Về Hai Cõi Tịnh Và Uế, Hữu Lậu Và Vô Lậu:
Nếu luận về cảnh giới ở xứ này, chỉ có ba đường khổ hãi, đất thì đầy núi hang sông rạch, cát đá, cây cỏ gai góc, gió to mưa lớn, sấm chớp dậy trời, độc xà thú dữ, tà đạo ác tặc, hỗn loạn phá tán, tam tai làm cho bại hoại. Nói về chánh báo thì có tam độc bát đảo, ưu bi tật đố, đa bệnh đoản mệnh, đói khát nóng lạnh, đầy cả sự ác xấu thật không thể nói hết được. Cho nên gọi là Hữu lậu, thật đáng nhàm chán vậy.
Vãng sinh về cõi Tịnh độ thật là thù thắng. Căn cứ vào Đại kinh nói: “Mười phương chúng trời người chỉ cầu xin về nước kia, đâu đâu cũng đạt được lợi ích an lạc. Vì sao? Vì khi sinh về nước kia, bước đi thì có sen vàng đỡ chân, ngồi thì có bảo tòa. Mỗi khi xuất hiện thì có Đế Thích trước mắt, người thì có Phạm vương theo sau. Tất cả Thánh chúng đều là bạn hữu với ta, Phật A-di-đà là Đại sư của ta; có thể qua lại du hành dưới các hàng cây báu rừng báu. Trong ao tám công đức ta đến rửa chân, thân thì sắc vàng, thọ mạng bằng với Phật, học thì các pháp môn đều tiến, dừng nghỉ thì có Nhị đế hư dung. Mười phương qua lại đều vận đại thần thông, an nghỉ tạm thời thì ngồi trên tam không môn; du hành thì nhập vào con đường tám Chánh đạo; đến thì đến bờ đại Niết-bàn.” Tất cả chúng sinh khi sinh về nước kia, đều chứng được lợi ích này, vì sao ta lại không tư lương, không mau cầu sinh về đây?
IV.Dẫn Kinh Giáo Chứng Thành, Khuyên Hậu Thế Cầu Vãng Sinh:
Căn cứ vào kinh Quán Phật Tam-muội có nói: “Bấy giờ, trong hội có mười phương chư Phật, mỗi vị Phật ngồi trên đài hoa sen, kiết già phu tọa ở trên không trung hiện ra. Đức Như Lai ở phương Đông hiệu là