nên thiệt căn không cháy.” Lời văn chứng cớ này, đủ biết là tất cả hạnh nghiệp chỉ có thể hồi hướng, không nơi nào mà không vãng sinh. Cho nên, trong kinh Tu-di Tứ Vực có nói: “Trời đất lúc sơ khai, chưa có mặt trời mặt trăng và các vì sao tinh tú. Nếu như có người cõi trời qua lại thì chỉ có thể dùng ánh sáng nơi cổ chiếu ra. Bấy giờ nhân dân phần nhiều sinh khổ não. Lúc ấy, Phật A-di-đà sai hai vị Bồ-tát, một vị tên là Bảo Ứng Thinh, một vị tên là Bảo Kiết Tường, tức là Phục Hy và Nữ Oa. Hai vị Bồ-tát này cùng thương nghị, hướng về Phạm thiên thứ bảy, lấy ra bảy báu đem đến cõi này, tạo ra vầng nhật nguyệt và hai mươi tám vì sao chiếu sáng khắp thiên hạ; định ra bốn thời Xuân Hạ Thu Đông. Lúc này, hai vị Bồ-tát cùng nói: “Sở dĩ mặt trời mặt, trăng và tinh tú đều nằm hướng Tây là vì tất cả chúng trời người đều cung kính lễ Phật A-di-đà, cho nên nhật nguyệt tinh tú đều xoay về hướng Tây.”
III.Nói Về Sự Trụ Diệt Của Kinh Điển:
Biện kinh trụ diệt: Nghĩa là Đức Thích-ca Như Lai, suốt một đời thuyết pháp, để cho Chánh pháp trụ thế năm trăm năm, Tượng pháp một ngàn năm, Mạt pháp một vạn năm. Khi chúng sinh diệt tận, kinh điển cũng diệt. Như Lai vì thương xót ai mẫn chúng sinh, cho nên lưu lại kinh này, để nó được trụ thêm một trăm năm nữa. Lời văn chứng này, đủ biết cõi nước kia tuy là Tịnh độ, nhưng thể thông trên dưới, biết tướng vô tướng, thường sinh vào quả vị trên. Hàng phàm phu ở trong nhà lửa thảy đều quy hướng về đây để phát nguyện cầu vãng sinh.
PHẦN 7
Trong phần thứ bảy này gồm có hai nội dung chính:
-Biện giải về chấp tướng hai cõi, cởi bỏ ràng buộc.
-Nói về dụng công tu đạo khinh trọng mà được quả báo chân hay nguỵ, do đó khuyến tín cầu sinh Tây phương.
I.Nói Về Sự Chấp Tướng Hai Cõi:
Nếu chấp Tây phương tịnh tướng, mau được giải thoát, đốn thọ Cực lạc, trí nhãn khai sáng. Nếu chấp lấy uế tướng ở phương này, thì duy chỉ có vọng lạc, si ám buộc ràng ưu não.
Hỏi: Y vào các bộ kinh Đại thừa, đều nói vô tướng là con đường chính yếu xuất ly. Chấp tướng sẽ làm chướng ngại, không khỏi bị ràng
buộc. Nay khuyên chúng sinh xả bỏ cõi uế độ này mà vui thích cầu sinh Tịnh độ, đó nghĩa là gì?
Đáp: Nghĩa này không nhất định. Vì sao? Phàm tướng có hai loại:
1)Ở trong năm trần dục cảnh vọng ái tham nhiễm, tùy cảnh chấp trước, đây đều là tướng, đều là sự buộc ràng.
2)Vì ưa thích Phật công đức mà nguyện sinh Tịnh độ. Tuy nói là tướng mà tên là giải thoát. Tại sao? Như trong kinh Thập Địa nói. “Bậc sơ địa Bồ-tát còn tự mình quán về Nhị đế; mọi chuyển tâm tác niệm, trước đều y vào tướng mà cầu, cuối cùng thành ra vô tướng. Dần dần tăng tiến lên thể đại Bồ-đề, cho đến địa thứ bảy thì tướng tâm mới bắt đầu dứt, nhập vào Bát địa, tuyệt ở nơi tướng cầu, đó mới gọi là vô công dụng vậy.” Cho nên trong luận nói: “Từ Thất địa trở xuống thì lấy ác tham làm chướng, thiện tham để trị. Từ Bát địa trở lên, thì thiện tham là chướng, vô tham là trị.” Huống gì nay nguyện sinh về Tịnh độ, hiện là ngoại phàm, sở tu thiện căn đều do ưa thích công đức Phật mà sinh ra, há lại cho là phược sao?
Trong kinh Niết-bàn nói: “Chúng sinh có hai loại ái: Một là thiện ái; hai là bất thiện ái. Ái bất thiện đó, chỉ hạng ngu si mới cầu. Ái thiện pháp thì chư Bồ-tát đều cầu.”
Cho nên trong Tịnh độ luận nói: “Quán quốc độ Phật là Thanh tịnh vị; nhiếp thọ chúng sinh là Đại thừa vị, khởi hạnh nguyện là giữ Phật độ vị; trụ trì cứu cánh bất hư là Tác vị. Có vô lượng Phật đạo vị như thế.”
Cho nên, tuy nói là thủ tướng, mà chẳng phải chấp phược. Lại nói, tướng trong cõi Quốc độ đó chính là tướng vô lậu, là tướng thật tướng vậy.
II.Nói Về Từ Sự Dụng Công Khinh Hay Trọng Mà Cảm Quả Báo Chân Hay Ngụy:
Trong nội dung thứ hai này nói về công dụng tu đạo khinh trọng của kia đây mà đạt được quả báo chân ngụy. Nếu muốn phát tâm quy hướng về Tây phương, nếu chỉ có một ít thời lễ quán niệm Phật, tùy thọ mạng dài ngắn, rồi khi lâm chung, Phật phóng quang tiếp dẫn, mau đến cõi kia, chứng vào ngôi vị Bất thoái.
Cho nên trong Đại kinh nói: “Mười phương trời người cầu sinh về nước ta, nếu cứu cánh không đến chỗ diệt độ và có thoái chuyển thì ta không thành Chánh giác.”