Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 757.
Ý kiến bạn đọc
PHẨM QUẢNG THỪA
THỨ MƯỜI CHÍN
Ðức Phật bảo ngài Tu Bồ Ðề:
Có đại Bồ tát Ðại thừa gọi là Tứ niệm xứ. Thế nào là bốn?
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát, trong nội thân, theo thân quán sát, cũng không có thân giác, vì bất khả đắc vậy. Trong ngoại thân, theo thân quán sát, cũng không có thân giác, vì bất khả đắc vậy. Trong nội ngoại thân, theo thân quán sát, cũng không có thân giác, vì bất khả đắc vậy.
Nội thọ, nội tâm, nội pháp; ngoại thọ, ngoại tâm, ngoại pháp; nội ngoại thọ, nội ngoại tâm, nội ngoại pháp; đại Bồ tát theo thọ tâm pháp quán sát; cũng không có thọ giác, tâm giác, pháp giác, vì bất khả đắc vậy, siêng tinh tấn nhứt tâm trừ sự tham ưu của thế gian.
Nầy Tu Bồ Ðề! Thế nào là đại Bồ tát trong nội thân theo thân quán sát?
Lúc đại Bồ tát đi thì biết là đi, lúc đứng thì biết là đứng, lúc ngồi thì biết là ngồi, lúc nằm thì biết là nằm. Thân hành động thế nào thì biết như vậy. Ðây là trong nội thân, đại Bồ tát theo thân quán sát, siêng tinh tấn nhứt tâm trừ sự tham ưu của thế gian, vì bất khả đắc vậy.
Ðại Bồ tát lúc đến, lúc đi, lúc nhìn ngó, co duỗi, cúi ngửa, lúc đắp y, cầm bát, lúc ăn uống, lúc nằ nghỉ, ngủ, thức, ngồi, đứng, nói, nín, lúc nhập thiền, xuất thiền cũng thường nhứt tâm. Ðây là trong nội thân, đại Bồ tát theo thân quán sát lúc thực hành Bát nhã ba la mật, vì bất khả đắc vậy.
Trong nội thân, lúc theo thân quán sát, đại Bồ tát nhứt tâm niệm, lúc thở vào biết là thở vào, lúc thở ra biết là thở ra. Lúc thở vào dài thì biết là thở
Ðại Bồ tát quán sát thân tứ đại nghĩ rằng trong thân thể có địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại. Ví như nhà hành thịt dùng dao bén giết bò chia làm bốn phần rồi hoặc đứng hoặc ngồi quán sát bốn phần thịt bò nầy.
Cũng vậy, đại Bồ tát lúc thực hành Bát nhã ba la mật quán sát thân thể bốn đại: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại. Ðây là trong nội thân, đại Bồ tát theo thân quán sát, vì bất khả đắc vậy
Ðại Bồ tát lại quán sát thân thể từ đảnh đầu đến chân, da mỏng bao bọc, nhiều thứ bất tịnh đầy trong thân. Nghĩ rằng: thân thể có tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dầy, gân, thịt, xương, tủy, tim, gan, phổi, tùy, cật, mật, tiểu trường, đại trường, bao tử, bàng quang, phân dãi, mồ hôi, cáu ghét, nước mắt, nước mũi, nước miếng, máu, mủ, đàm, nhớt, não óc.
Ví như trong kho của nhà nông chứa lộn lạo đầy những lúa, nếp, mè, đậu, bắp. Người có đôi mắt sáng mở kho liền thấy rõ là lúa, là nếp, là mè,
Ðại Bồ tát nếu thấy thân người chết đã trải qua một ngày, hai ngày đến năm ngày, xanh ứ sình trương mủ nước rỉ chảy, tự nghĩ rằng: Thân thể của ta đây rồi cũng sẽ như vậy, tất chẳng thoát khỏi thế ấy. Ðây là đại Bồ tát trong nội thân theo thân quán sát, siêng tinh tấn nhứt tâm trừ sự tham ưu của thế gian, vì bất khả đắc vậy.
Ðại Bồ tát nếu thấy thân người chết vất bỏ đã sáu ngày, bảy ngày bị chồn, chó, sài lang, quạ, kên kên xé ăn; tự nghĩ rằng: Thân thể của ta đây rồi cũng sẽ như vậy, tất chẳng thoát khỏi thế ấy. Ðây là đại Bồ tát trong nội thân theo thân quán sát, siêng tinh tấn nhứt tâm trừ sự tham ưu của thế gian, vì bất khả đắc vậy.
Ðại Bồ tát nếu thân người chết vất bỏ bị cầm thú xé ăn rã rời hôi thúi bất tịnh, tự nghĩ rằng: Thân thể của ta đây rồi cũng sẽ như vậy, tất chẳng thoát khỏi thế ấy. Nếu thấy thân người chết vất bỏ, da thịt đã tan, lộ bày gân xương liên tỏa, đại Bồ tát tự nghĩ rằng: Thân thể của ta đây rồi cũng như vậy, tất chẳng thoát khỏi thế ấy. Nếu
Như quán sát nội thân, với ngoại thân cùng nội ngoại thân, cũng theo thân quán sát như vậy. Cũng phải theo như trên đây mà giải thuyết rộng về thọ niệm xứ, tâm niệm xứ và pháp niệm xứ. Ðây gọi là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chính là Tứ chánh cần. Những gì là bốn?
Ðại Bồ tát đối với những pháp ác bất thiện chưa pháp sanh, vì làm cho pháp ác chẳng sanh
Nầy Tu Bồ Ðề! Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chính là Tứ như ý phần. Những gì là bốn?
Ðại Bồ tát dùng sự mong muốn định hạnh thành tựu mà tu như ý phần, dùng sự tinh tấn định hạnh thành tựu mà tu như ý phần, dùng sự tư duy định hạnh thành tựu mà tu như ý phần, dùng sự nhứt tâm định hạnh thành tựu mà tu như ý phần. Ðây gọi là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy,
Nầy Tu Bồ Ðề! Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chính là Ngũ căn. Những gì là năm? Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, huệ căn. Ðây là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chính là Ngũ lực. Những gì là năm? Tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực, đây là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có Bát thánh đạo phần là đại Bồ tát Ðại thừa. Những gì là tám? Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Ðây gọi là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có ba môn tam muội là đại Bồ tát Ðại thừa. Những gì là ba? Không tam muội, Vô tướng tam muội và Vô tác tam muội.
Không tam muội là nói các pháp tự tướng rỗng không. Ðây gọi là Không giải thoát môn. Vô tướng tam muội là nói diệt hoại các pháp tướng, không nghĩ, không nhớ. Ðây gọi là Vô tướng giải thoát môn. Vô tác tam muội là nói đối với các pháp không mong cầu tạo tác. Ðây gọi là Vô tác giải thoát môn. Ba môn nầy là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chính là khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tận trí, vô sanh trí, pháp trí, tỷ trí, thế trí, tha tâm trí, và như thiệt trí.
Lại có Tam căn là đại Bồ tát Ðại thừa. Những gì là ba? Vị tri dục tri căn, tri căn và trí giả căn.
Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn, ngũ căn của hành Hữu học chưa đắc quả, đây gọi là vị tri dục căn. Ngũ căn của hành Hữu học đã đắc quả, đây gọi là tri căn. Ngũ căn của bậc Vô học, hoặc A la hán, Bích chi Phật,
Lại có Tam tam muội là đại Bồ tát Ðại thừa. Những gì là ba? Hữu giác hữu quán tám muội, Vô giác hữu quán tam muội và Vô giác vô quán tam muội.
Rời những dục nhiễm và rời những pháp ác bất thiện có giác, có quán, rời dục nhiễm pháp sanh hỷ lạc nhập Sơ thiền, đây gọi là Hữu giác hữu quán tam muội. Chặng giữa của Sơ thiền và Nhị thiền, đây gọi là Vô giác hữu quán tam muội. Từ Nhị thiền đến phi hữu tưởng Phi vô tưởng định, đây gọi là Vô giác vô quán tam muội. Tam tam muội nầy là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có thập niệm là đại Bồ tát Ðại thừa. Những gì là mười? Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm xả, niệm Thiên, niệm thiện, niệm xuất nhập tức, niệm thân và niệm tử. Mười chánh niệm nầy là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có Tứ thiền, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định, Bát bội xả và Cửu thế đệ định là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chính là Thập lực. Những gì là mười?
Mười trí lực nầy là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Phật nói lời thành thiệt rằng: “Ta là bực Nhứt thiết chánh trí”. Ðối với những điều như như thiệt gạn hỏi về các pháp của tất cả đại chúng, Phật không tự thấy có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật được rất an ổn, được vô sở úy an trụ ngôi Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử hống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả hàng Sa môn, Bà la môn, chư Thiên Vương, Phạm Vương, Ma Vương, cùng chúng sanh khác đều không chuyển được. Ðây là vô sở úy thứ nhứt.
Phật nói lời thành thiệt rằng: “Ta là bực tất cả lậu đã dứt diệt hết sạch”. Ðối với chỗ gạn hỏi như thiệt về lậu phiền não dứt diệt đây của tất cả đại chúng, Phật không tự thấy có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật được rất an ổn, được vô sở úy, an trụ ngôi Thánh chúa, ở giữa đại chúng chư sư tử hống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả trời, người cùng chúng sanh khác không chuyển được. Ðây là vô sở úy thứ hai.
Phật nói lời thành thiệt rằng: “Đây là những pháp chướng ngại chánh đạo giải thoát”. Ðối với những lời gạn hỏi như thiệt về pháp chướng đạo đây của tất cả đại chúng, Phật không tự thấy có
Phật nói lời thành thiệt rằng: “Những Thánh đạo mà Ta đã dạy quyết định có thể ra khỏi thế gian, theo đây thực hành thì có thể hết khổ”. Ðối với những lời gạn hỏi như thiệt về Thánh đạo đây của tất cả đại chúng, Phật không tự thấy có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật được rất an ổn, được vô sở úy, an trụ bực Thánh chúa, ở giữa đại chúng như sư tử hống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả Nhơn, Thiên cùng chúng sanh khác đều không chuyển được. Ðây là vô sở úy thứ tư.
Tứ vô sở úy nầy là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chính là Tứ vô ngại trí. Những gì là bốn? Pháp vô ngại trí, Nghĩa vô ngại trí, Từ vô ngại trí và Lạc thuyết vô ngại trí. Đây là đại Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.
Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chánh là Thập bát bất cộng pháp. Những gì là mười tám?
Một là thân của chư Phật không lỗi. Hai là khẩu của chư Phật không lỗi. Ba là ý niệm của
Lại có đại Bồ tát Ðại thừa, chính là Tự đẳng Ngữ đẳng chư tự nhập môn.
Những gì là Tự đẳng Ngữ đẳng chư tự nhập môn?
A tự môn, vì tất cả pháp từ đầu vốn là bất sanh vậy.
LA tự môn, vì tất cả pháp ly cấu vậy.
BA tự môn, vì tất cả pháp đệ nhứt nghĩa vậy.
NA tự môn, vì tất cả pháp rời danh tánh tướng bất đắc bất thất vậy.
LÃ tự môn, vì tất cả pháp thoát khỏi thế gian vậy, cũng là vì ái chi nhơn duyên dứt diệt vậy.
ÐÀ tự môn, vì tất cả pháp thiện tâm phát sanh, cũng là tướng xả thí vậy.
BÀ tự môn, vì các pháp BÀ tự rời lìa vậy.
ÐỒ tự môn, vì các pháp ĐỒ tự thanh tịnh vậy.
SA tự môn, vì các pháp tự tại tánh thanh tịnh vậy.
HÒA tự môn, vì nhập vào các pháp, dứt bặt ngữ ngôn vậy.
ÐA tự môn, vì nhập vào các pháp, như tướng bất động vậy.
DẠ tự môn, vì nhập vào các pháp, như thiệt bất sanh vậy.
TRA tự môn, vì nhập vào các pháp, chiết phục bất khả đắc vậy.
CA tự môn, vì nhập vào các pháp, tác giả bất khả đắc vậy.
TA tự môn, vì nhập vào các pháp, thì gian bất khả đắc vậy, vì các pháp thì gian lay chuyển vậy.
GÌA tự môn, vì nhập vào các pháp, khứ giả bất khả đắc vậy.
THA tự môn, vì nhập vào các pháp, xứ sở bất khả đắc vậy.
XÀ tự môn, vì nhập vào các pháp, sanh bất khả đắc vậy.
BẢ tự môn, vì nhập vào các pháp, BẢ tự bất khả đắc vậy.
ÐÀ tự môn, vì nhập vào các pháp, tánh bất khả đắc vậy.
XA tự môn, vì nhập vào các pháp, định bất khả đắc vậy.
KHƯ tự môn, vì nhập vào các pháp, hư không bất khả đắc vậy.
XOA tự môn, vì nhập vào các pháp, diệt tận bất khả đắc vậy.
ÐÁ tự môn, vì nhập vào các pháp, hữu bất khả đắc vậy.
NHÃ tự môn, vì nhập vào các pháp, trí bất khả đắc vậy.
THA tự môn, vì nhập vào các pháp, tha tự bất khả đắc vậy.
XA tự môn, vì nhập vào các pháp, dục bất khả đắc vậy, ngũ ấm như ảnh cũng bất khả đắc vậy.
MA tự môn, vì nhập vào các pháp, MA tự bất khả đắc vậy.
HỎA tự môn, vì nhập vào các pháp, kêu gọi bất khả đắc vậy.
TA tự môn, vì nhập vào các pháp, TA tự bất khả đắc vậy.
NOA tự môn, vì nhập vào các pháp, chẳng đến, chẳng đi, chẳng đứng, chẳng ngồi, chẳng nằm vậy.
PHẢ tự môn, vì nhập vào các pháp, biên bờ bất khả đắc vậy.
CA tự môn, vì nhập vào các pháp, tụ họp bất khả đắc vậy.
SAI tự môn, vì nhập vào các pháp, SAI tự bất khả đắc vậy.
GÌA tự môn, vì nhập vào các pháp, hiện hành bất khả đắc vậy.
TRA tự môn, vì nhập vào các pháp, cong vạy bất khả đắc vậy.
Quá chữ ÐỒ thì không chữ có thể tuyên thuyết. Tại sao vậy? Vì không còn có chữ vậy. Các chữ vô ngại vô danh, cũng diệt, chẳng nói được, chẳng thấy được, chẳng thấy được, chẳng biên chép được.
Nầy Tu Bồ Ðề! Phải biết tất cả pháp như hư không. Ðây gọi là đà la ni môn chính là nghĩa của chữ A. Nếu đại Bồ tát, nơi những tự môn ấn, A tự ấn nầy, hoặc nghe, hoặc thọ, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc trì, hoặc giảng nói cho người khác, thì biết rằng sẽ được hai mươi công đức. Những gì là hai mươi?
Ðược nhớ biết dai. Được tàm quí. Ðược tâm kiên cố. Ðược chỉ thú của kinh. Ðược trí huệ. Ðược lạc thuyết vô ngại. Dễ được những môn đà la ni khác. Ðược tâm không nghi hối. Ðược nghe lành chẳng mừng, nghe dữ chẳng giận. Ðược chẳng cao chẳng hạ, an trụ tâm không tăng không giảm. Ðược thiện xảo biết lời nói của chúng sanh. Ðược khéo phân biệt ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới, thập nhị nhơn duyên, tứ duyên và tứ đế. Ðược khéo phân biệt những căn tánh lợi độn của các chúng sanh. Ðược khéo biết tâm niệm của kẻ
Những đà la ni môn, tự môn, A tự môn nầy gọi là đai Bồ tát Ðại thừa, vì bất khả đắc vậy.