Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 757.
Ðức Phật bảo ngài Tu Bồ Ðề: Ý kiến bạn đọc
BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT
THỨ HAI MƯỜI
Ông hỏi: “Thế nào là đại Bồ tát Ðại thừa phát thú?”. Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát lúc thực hành sáu ba la mật, từ một địa đến một địa, đây gọi là đại Bồ tát Ðại thừa phát thú”.
Ngài Tu Bồ Ðề thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ tát từ một địa đến một địa?".
Ðức Phật nói:
Ðại Bồ tát biết tất cả pháp không có tướng lai khứ, cũng không có pháp hoặc lai khứ, hoặc đến
Lúc an trụ bực Sơ địa, đại Bồ tát thực hành mười việc: Một là thâm tâm kiên cố, vì dụng vô sở đắc vậy. Hai là đối với tất cả chúng sanh tâm bình đẳng, vì chúng sanh bất khả đắc vậy. Ba là bố thí cho người, vì thọ giả bất khả đắc vậy. Bốn là thân cận thiện tri thức, cũng chẳng tự cao vậy. Năm là cầu pháp, vì tất cả pháp bất khả đắc vậy. Sáu là thường xuất gia, vì gia bất khả đắc vậy. Bảy là mến thích Phật thân, vì tướng hảo bất khả đắc vậy. Tám là diễn nói giáo pháp xuất thế, vì các pháp chẳng phân biệt bất khả đắc vậy. Chín là phá kiêu mạn, vì pháp sanh huệ bất khả đắc vậy. Mười là thiệt ngữ, vì những ngữ ngôn bất khả đắc vậy. Trên đây là mười sự trị địa nghiệp của đại Bồ tát an trụ trong bực Sơ địa tu tập.
Nầy Tu Bồ Ðề! Đại Bồ tát an trụ trong bực Nhị địa thường niệm tám pháp. Những gì là tám?
Một là giới thanh tịnh. Hai là biết ơn và báo ơn. Ba an trụ nhẫn nhục lực. Bốn là thọ hoan hỷ. Năm là chẳng rời bỏ tất cả chúng sanh. Sáu là nhập đại bi tâm. Bảy là tin kính và thưa hỏi nơi thầy.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong bực Tam địa thực hành năm pháp. Những gì là năm?
Một là học vấn nhiều không nhàm đủ. Hai là thanh tịnh pháp thí cũng chẳng tự cao. Ba là thanh tịnh Phật độ cũng chẳng tự cao. Bốn là nhận chịu vô lượng sự cần khổ thế gian mà vẫn chẳng nhàm. Năm là an trụ nơi tàm quý. Ðây là năm pháp mà đại Bồ tát an trụ trong bực tam địa phải đầy đủ.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong bực Tứ địa phải thọ hành chẳng bỏ mười pháp. Những gì là mười?
Một là chẳng bỏ chỗ ở a lan nhã. Hai là thiểu dục. Ba là tri túc. Bốn là chẳng bỏ công đức đầu đà. Năm là chẳng bỏ giới. Sáu là trách ghét các dục nhiễm. Bảy là nhàm tâm thế gian, thuận tâm Niết bàn. Tám là xả bỏ tất cả sở hữu. Chín là tâm chẳng trầm một. Mười là chẳng tiếc tất cả vật. Ðây là mười pháp mà đại Bồ tát an trụ trong bực tứ địa chẳng bỏ .
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong bực Ngũ địa xa rời mười hai pháp. Những gì là mười hai?
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong bực Lục địa nên đầy đủ sáu pháp, chính là sáu ba la mật.
Bực Lục địa lại có sáu pháp chẳng nên làm. Những gì là sáu? Một là chẳng móng tâm Thanh văn, Bích chi Phật. Hai là chẳng có ý lo ngại khi bố thí. Ba là bị đòi hỏi cầu xin, không có lòng trốn tránh. Bốn là những vật sở hữu đều đem bố thí. Năm là sau khi bố thí xong, không có lòng hối tiếc. Sáu là chẳng nghi ngờ pháp thâm diệu.
Ðây là sáu pháp phải đầy đủ và sáu pháp phải xa lìa của đại Bồ tát an trụ trong bực Lục địa.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong bực Thất địa phải xa lìa hai mươi pháp chẳng nên chấp trước. Những gì là hai mươi?
Lại có hai mươi pháp mà bực Thất địa phải đầy đủ. Những gì là hai mươi?
Một là đầy đủ Không. Hai là chứng vô tướng. Ba là biết vô tác. Bốn là ba phần thanh tịnh. Năm là ở trong chúng sanh đầy đủ trí từ bi. Sáu là chẳng niệm tưởng tất cả chúng sanh. Bảy là bình đẳng xem tất cả pháp, nơi trong đây cũng chẳng
Trên đây là hai mươi điều chẳng nên chấp trước và hai mươi điều phải đầy đủ của bực Thất địa đại Bồ tát.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong Bát địa phải đầy đủ năm pháp. Những gì là năm?
Một là thuận nhập vào tâm chúng sanh. Hai là du hý các thần thông. Ba là thấy các Phật quốc. Bốn là tự trang nghiêm quốc độ mình như Phật quốc đã thấy. Năm là quán thân Phật như thiệt, tự trang nghiêm Phật thân.
Lại phải đầy đủ năm điều. Một là biết các căn tánh thượng hạ. Hai là thanh tịnh Phật độ. Ba là nhập như huyễn tam muội. Bốn là thường nhập tam muội. Năm là tùy theo thiện căn mà chúng sanh đáng được để thọ thân.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong Cửu địa phải đầy đủ mười hai pháp. Những gì là mười hai?
Một là nhiếp thọ vô biến thế giới mà phần mình hóa độ. Hai là Bồ tát được như chỗ nguyện cầu. Ba là biết tiếng nói của các Thiên, Long, Dạ xoa, Càn thát bà để thuyết pháp cho họ. Bốn là thành tựu thai sanh. Năm là thành tựu gia thế. Sáu là thành tựu chỗ sanh. Bảy là thành tựu họ. Tám là thành tựu quyến thuộc. Chín là thành tựu xuất sanh. Mười là thành tựu xuất gia. Mười một là thành tựu Bồ đề thọ trang nghiêm. Mười hai là thành tựu tất cả những công đức lành. Trên đây là mười hai pháp mà bậc Cửu địa đại Bồ tát phải đầy đủ.
Nầy Tu Bồ Ðề! Phải biết bậc Thập địa đại Bồ tát thì như đức Phật.
Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là thâm tâm, nhẫn đến thế nào là thiệt ngữ?
Ðức Phật nói:
Nếu đại Bồ tát đúng với tâm Nhứt thiết trí tích tập tất cả thiện căn, đây gọi là thâm tâm trị địa
Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát chẳng có tâm niệm xu hướng Thanh văn, Bích chi Phật và những sự phá giới chướng ngại Phật đạo, đây gọi là giới thanh tịnh. Nếu thực hành Bồ tát hạnh, cho đến một chút ơn nhỏ còn chẳng quên huống là nhiều, đây gọi là biết ơn báo ơn. Nếu đối với tất cả chúng sanh không giận hờn không làm não hại, đây gọi là an trụ sức nhẫn nhục. Lấy sự thành tựu chúng sanh làm niềm vui, đây gọi là thọ hoan hỷ. Nghĩ nhớ muốn cứu tất cả chúng sanh, đây gọi là chẳng bỏ tất cả chúng sanh. Nếu nghĩ như vầy: tôi vì mỗi mỗi chúng sanh mà chịu cần khổ trong địa ngục đến hằng sa kiếp chừng nào chúng sanh ấy thành Phật nhập Niết bàn, đây là vì tất cả chúng sanh mười phương mà nhẫn thọ sự khổ nhọc nên gọi là nhập đại bi tâm. Nếu đối với bực Sư trưởng xem như Phật, đây gọi là tin tưởng cung kính học hỏi nơi thầy. Nếu nhứt tâm siêng cầu các môn ba la mật mà không cầu sự khác, đây gọi là cần cầu các ba la mật. Trên đây gọi là tám pháp đầy đủ của đại Bồ tát an trụ trong bực Nhị địa.
Thế nào là học vấn nhiều không nhàm đủ, nhẫn đến an trụ nơi tàm quý?
Thế nào là chẳng bỏ chỗ ở a lan nhã, nhẫn đến chẳng tiếc tất cả vật?
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát có thể hơn bực Thanh văn, Bích chi Phật, đây gọi là chẳng bỏ chỗ ở a lan nhã. Còn không có niệm mong muốn Vô thượng Bồ đề huống là những sự mong muốn khác, đây gọi là thiểu dục. Được Nhứt thiết chủng trí, đây gọi là tri túc. Quán sát các thâm pháp nhẫn, đây gọi là chẳng bỏ đầu đà công đức.
Thế nào là xa lìa gần gũi hàng bạch y nhẫn đến xa lìa tham, sân, si?
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát sanh nơi đâu cũng đều xuất gia, từ một Phật quốc đến một Phật quốc thường xuất gia cạo đầu mặc cà sa, đây gọi là xa lìa gần gũi bạch y. Chẳng ở chung với Tỳ kheo ni, nhẫn đến chẳng nghĩ tưởng dầu là khoảng khảy móng tay, đây gọi là xa lìa Tỳ kheo ni. Bồ tát suy nghĩ như vầy: Tôi phải an lạc chúng sanh, nay họ giúp tôi an lạc thì đâu nên sanh lòng tham tiếc, đây gọi là xa lìa sự lẫn tiếc nhà người khác. Nếu có chỗ nào luận đàm có thể phát sanh tâm Thanh văn, Bích chi Phật thì tôi phải xa lìa, đây gọi là xa lìa chỗ luận đàm vô ích. Chẳng để cho yâm giận hờn tâm não hại, tâm đấu tranh xen
Thế nào là đầy đủ sáu pháp? An trụ trong sáu ba la mật có thể vượt đến bờ kia, đây gọi là đầy đủ sáu pháp.
Thế nào là chẳng móng tâm Thanh văn, Bích chi Phật, nhẫn đến chẳng nghi ngờ pháp thâm diệu?
Nầy Tu Bồ Ðề! Bồ tát nghĩ rằng: Tâm Thanh văn, Bích chi Phật chẳng phải đạo Vô thượng Bồ đề, đây gọi là chẳng móng tâm Thanh văn, Bích chi Phật. Bồ tát nghĩ rằng: Bố thí có lòng lo ngại thì là chẳng phải đạo Vô thượng Bồ đề, đây gọi là bố thí chẳng sanh lòng lo sợ. Bồ tát nghĩ rằng: Thấy người cầu xin mà có tâm trốn tránh chẳng phải đạo Vô thượng Bồ đề, đây gọi là chẳng có
Thế nào là chẳng chấp ngã,nhẫn đến chẳng chấp nơi sự thấy là phải nương nơi giới?
Nầy Tu Bồ Ðề! Vì rốt ráo vô ngã, vì chúng sanh đến tri giả, kiến giả đều rốt ráo bất khả đắc nên chẳng chấp trước những pháp ấy. Không có pháp đoạn diệt vì các pháp rốt ráo bất sanh nên chẳng chấp đoạn kiến. Nếu pháp đã chẳng sanh thì cũng chẳng thường nên chẳng chấp thường kiến. Vì không các phiền não nên chẳng chấp lấy tướng. Vì chư kiến đều chẳng thể thấy được nên chẳng khởi nhơn duyên kiến. Vì danh sắc, ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới, tam giới, tâm nguyện và y chỉ đều là tánh không nên chẳng chấp trước. Vì khởi sự thấy là phải nương nơi Phật thì chẳng thấy Phật nên chẳng khởi sự thấy y chỉ nơi Phật. Vì Pháp chẳng thể thấy nên chẳng khởi sự thấy y chỉ Pháp. Vì Tăng tướng vô vi chẳng thể nương nên chẳng khởi sự thấy y chỉ nơi Tăng. Vì nơi tội cùng vô tội đều không dính mắc
Thế nào là đầy đủ Không, nhẫn đến chẳng nhiễm ái?
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðầy đủ tự tướng Không của các pháp, đây là đầy đủ Không. Chẳng tưởng nhớ các tướng, đây là chứng vô tướng. Chẳng tạo tác trong tam giới, đây là biết là vô tác. Ðầy đủ mười nghiệp đạo lành, đây là ba phần thanh tịnh. Vì được đại bi nên đầy đủ trí từ bi. Vì đầy đủ thanh thanh tịnh Phật độ nên chẳng niệm tưởng tất cả chúng sanh. Vì chẳng tổn ích đối với tất cả pháp nên bình đẳng quán sát tất cả pháp. Vì các pháp thiệt tướng là vô tri nên Bồ tát biết thiệt tướng của các pháp. Vì các pháp bất sanh bất diệt, bất tác nên Bồ tát được vô sanh pháp nhẫn. Vì biết danh sắc bất sanh nên được vô sanh trí. Vì tâm chẳng hiện hành hai tướng nên tuyên nói các pháp nhứt tướng. Vì tất cả pháp chẳng phân biệt nên phá tướng phân biệt. Vì vô lượng tưởng niệm lớn nhỏ chuyển nên Bồ tát chuyển nhớ tưởng. Vì kiến chấp Thanh văn, Bích chi Phật chuyển nên chuyển kiến. Vì dứt trừ những phiền não nên chuyển phiền não. Vì được Nhứt thiết chủng trí nên định huệ đồng đẳng. Vì bất động đối với tam
Thế nào là đại Bồ tát thuận nhập tâm chúng sanh, nhẫn đến tự trang nghiêm Phật thân?
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát dùng một tâm biết rõ tâm và tất sở của tất cả chúng sanh, đây là thuận nhập tâm chúng sanh. Dùng thần thông từ một Phật quốc đến một Phật quốc, cũng không có tưởng niệm Phật quốc, đây là các thần thông tự tại. Từ ở cõi mình mà thấy vô lượng Phật quốc, cũng không có tưởng Phật quốc, đây là xem thấy các Phật quốc. Trụ ngôi Chuyển Luân Thánh Vương đi khắp Ðại thiên thế giới để tự trang nghiêm nước của mình, đây là tự trang nghiêm nước mình như Phật quốc đã được thấy. Vì như thiệt quán pháp thân nên là như thiệt quán Phật thân. Trên đây là đại Bồ tát an trụ trong bực Bát địa đầy đủ năm pháp.
Thế nào là biết các căn tánh thượng hạ, nhẫn đến thế nào là tùy theo thiện căn để thọ thân?
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong Phật thập lực biết những căn tánh thượng hạ của tất cả
Thế nào là đại Bồ tát nhiếp thọ vô biên thế giới mà phần mình hóa độ, nhẫn đến công đức thành tựu đầy đủ?
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát hóa độ chúng sanh trong vô biên thế giới đúng như chỗ đáng được độ của Phật pháp mà độ thoát đó, đây là nhiếp thọ vô biên thế giới mà phần mình hóa độ. Ðược đầy đủ sáu ba la mật, đây la được như chỗ nguyện cầu. Do từ vô ngại biện lực nên biết tiếng nói của chư Thiên, Long, Càn thát bà. Vì đời đời được hóa sanh nên thai sanh được thành tựu. Vì thường sanh trong nhà vọng tộc nên nhà được thành tựu. Vì sanh nơi dòng Sát đế lợi hoặc Bà la môn nên chỗ sanh thành tựu. Như dòng họ của Bồ tát quá khứ sanh mà sanh trong đó nên dòng họ được thành tựu. Vì thuần dùng hàng đại Bồ tát làm quyến thuộc nên quyến thuộc được thành tựu. Vì lúc sanh ra quang minh của Bồ tát chiếu khắp vô
Thế nào là đại Bồ tát an trụ trong bực Thập địa phải biết như Phật?
Nầy Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ tát đầy đủ sáu ba la mật, tứ niệm xứ, nhẫn đến đầy đủ mười tám pháp bất cộng và Nhứt thiết chủng trí, dứt tất cả phiền não và tập khí, thì gọi là đại Bồ tát an trụ trong bực Thập địa phải biết là chư Phật.
Nầy Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ tát an trụ trong bực Thập địa nầy dùng sức phương tiện để thực hành sáu ba la mật, tứ niệm xứ nhẫn đến thực hành mười tám pháp bất cộng, vượt qua bực Càn huệ địa, bực Tánh địa, bực Bát nhơn địa, bực Kiến địa, bực Bạc địa, bực Ly dục địa, bực Dĩ tác địa, bực Bích chi Phật địa, bực Bồ tát địa. vượt qua
Ðây gọi là đại Bồ tát Ðại thừa phát thú.