thân xuất gia. ... Không nên cho người đi khập khiễng xuất gia. ... Không nên cho người già yếu xuất gia. ... Không nên cho người mù xuất gia. ... Không nên cho người câm xuất gia. ... Không nên cho người điếc xuất gia. ... Không nên cho người mù và câm xuất gia. ... Không nên cho người mù và điếc xuất gia. ... Không nên cho người câm và điếc xuất gia. ... Không nên cho người mù câm điếc xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa."
Dứt ba mươi hai trường hợp không nên cho xuất gia.
Dứt tụng phẩm 'Phần Thừa Kế' là thứ chín.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ; vị nào ban cho thì phạm tội dukkaṭa." Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ. Chẳng bao lâu sau, các vị ấy cũng trở thành các tỳ khưu ác xấu, không có liêm sỉ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ; vị nào sống thì phạm tội dukkaṭa."
2. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: 'Không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ và không nên sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm
sỉ,' vậy làm thế nào chúng ta biết được (vị nào) là có liêm sỉ hoặc không có liêm sỉ?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép chờ đợi bốn năm ngày đến khi (xác định rằng): "Ta biết được bản chất của vị tỳ khưu."
3. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ du hành đường xa trong xứ Kosala. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: 'Không nên sống không nương nhờ,' và ta là cần có sự nương nhờ nhưng đang du hành đường xa, vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu đang du hành đường xa trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ."
4. Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu du hành đường xa trong xứ Kosala. Họ đã đi đến gần trú xứ nọ. Tại đó, một vị tỳ khưu đã bị lâm bệnh. Khi ấy, vị tỳ khưu bị bệnh ấy đã khởi ý điều này: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: 'Không nên sống không nương nhờ,' và ta là cần có sự nương nhờ nhưng bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ."
5. Khi ấy, vị tỳ khưu chăm sóc vị bị bệnh ấy đã khởi ý điều này: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: 'Không nên sống không nương nhờ,' và ta là cần có sự nương nhờ nhưng vị tỳ khưu này thì bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu chăm sóc vị bị
bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ (dầu) được yêu cầu."1
6. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trú ngụ ở rừng. Và ở chỗ trú ngụ ấy có được sự thoải mái cho vị ấy (trong việc tiến tu). Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: 'Không nên sống không nương nhờ,' và ta là cần có sự nương nhờ nhưng ta trú ngụ ở trong rừng. Và ở chỗ trú ngụ này có được sự thoải mái cho ta (trong việc tiến tu), vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- "Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ở rừng đang quan tâm đến việc trú ngụ thoải mái trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ (nghĩ rằng): "Khi nào có vị ban pháp nương nhờ thích đáng đi đến thì ta sẽ sống nương nhờ vào vị ấy.'"
7. Vào lúc bấy giờ, có người có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức Mahākassapa. Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã phái sứ giả đến gặp đại đức Ānanda nhắn rằng: "Ānanda hãy đi đến và đọc tuyên ngôn cho người này." Đại đức Ānanda đã nói như vầy: - "Tôi không thể nêu lên tên của ngài trưởng lão, ngài trưởng lão là bậc trưởng thượng của tôi." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tuyên ngôn với tên của dòng họ."
8. Vào lúc bấy giờ, có hai người có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức Mahākassapa. Họ tranh cãi rằng: "Tôi sẽ tu lên bậc trên trước, tôi sẽ tu lên bậc trên trước." Các vị
__________________________
1 Được vị bị bệnh yêu cầu là hãy sống nương nhờ vào vị ấy (VinA. v, 1032).
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hai (người) trong một lần tuyên ngôn."
9. Vào lúc bấy giờ, có những người có ý muốn tu lên bậc trên với nhiều vị trưởng lão. Họ tranh cãi rằng: "Tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên, tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên." Các vị trưởng lão đã nói như vầy: - "Này các đại đức, chúng ta hãy thực hiện hết thảy tất cả trong một lần tuyên ngôn đi." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hai hoặc ba (người) trong một lần tuyên ngôn. Và điều ấy là với cùng một thầy tế độ chứ không phải với thầy tế độ khác nhau."
10. Vào lúc bấy giờ, đại đức Kumārakassapa là hai mươi (tuổi) tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên. Sau đó, đại đức Kumārakassapa đã khởi ý điều này: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: 'Không nên cho tu lên bậc trên người chưa đủ hai mươi tuổi,' và ta là hai mươi (tuổi) tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên, vậy thì ta đã được tu lên bậc trên hay là chưa được tu lên bậc trên?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, khi tâm đầu tiên sanh khởi trong bụng của người mẹ thì thức đầu tiên đã xuất hiện; do điều ấy nên chính thời điểm đó là sự sanh ra của người ấy. Này các tỳ khưu, ta cho phép cho tu lên bậc trên người hai mươi (tuổi) tính theo thai bào."
11. Vào lúc bấy giờ, các vị đã tu lên bậc trên được phát hiện là có (liên quan đến) bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên được hỏi về mười ba pháp chướng ngại. Và này các tỳ khưu, nên hỏi như vầy:
'Ngươi có các bệnh như vầy không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không bị thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?'"
12. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu hỏi các pháp chướng ngại đến các người có ý muốn tu lên bậc trên chưa được giảng dạy trước. Các người có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy trước rồi hỏi các pháp chướng ngại sau." Các vị giảng dạy ngay tại chỗ ấy, ở giữa hội chúng. Như thế ấy, các người có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy ở một góc rồi hỏi các pháp chướng ngại ở giữa hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên giảng dạy như vầy: Trước tiên, nên bảo chọn vị thầy tế độ. Sau khi đã bảo chọn vị thầy tế độ rồi nên chỉ dẫn về y và bình bát: 'Đây là bình bát của ngươi, đây là y hai lớp, đây là thượng y, đây là y nội. Hãy đi đến đứng ở chỗ trống đàng kia.'"
13. Các vị (tỳ khưu) ngu dốt, thiếu kinh nghiệm giảng dạy. Những người có ý muốn tu lên bậc trên do được giảng dạy tồi nên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, vị (tỳ khưu) ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên giảng dạy; vị nào giảng dạy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu kinh nghiệm, đủ khả năng được chỉ bảo."
14. Những vị (tỳ khưu) chưa được chỉ định vẫn giảng dạy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, vị không được chỉ định không nên giảng dạy; vị nào giảng dạy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy đối với vị đã được chỉ định. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.
15. Và thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: 'Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ giảng dạy cho người tên (như vầy).' Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.
16. Và thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: 'Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên (như vầy) sẽ giảng dạy cho người tên (như vầy).' Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.
17. Vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy nên đi đến gần người có ý muốn tu lên bậc trên và nên nói như vầy: "Này người tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: 'Đúng;' nếu không đúng, nên nói: 'Không đúng.' Chớ nên bối rối, chớ nên mắc cở. Các vị sẽ hỏi ngươi như vầy: 'Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài
người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?"
18. Họ đi đến chung (cùng một lúc). - "Này các tỳ khưu, không nên đi đến chung (cùng một lúc). Vị giảng dạy nên đi đến trước và thông báo cho hội chúng:
19. "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Tôi đã giảng dạy cho người ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, thì người tên (như vầy) có thể đi đến." Và nên nói rằng: "Ngươi hãy đi đến."
20. Nên bảo (người ấy) đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và bảo thỉnh cầu sự tu lên bậc trên:
21. "Bạch các ngài, tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch các ngài, lần thứ nhì tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch các ngài, lần thứ ba tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót."
22. Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi người tên (như vầy) về các pháp chướng ngại." "Này người tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự
thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: 'Đúng;' nếu không đúng, nên nói: 'Không đúng.' Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?"
23. Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
"Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, người này có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
24. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, người này có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
25. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, người này có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
26. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, người này có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
27. Người tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy."
Dứt hành sự tu lên bậc trên.
*****
1. Ngay khi ấy, bóng nắng cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy, bốn pháp nương nhờ nên được chỉ dạy:
2. Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng. (1)
3. Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ; trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là (y làm bằng) sợi lanh, bông vải, tơ lụa, sợi len, gai thô, chỉ bố. (2)
4. Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây; trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động. (3)
5. Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật, đường mía." (4)
Dứt bốn pháp nương nhờ.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi cho tu lên bậc trên vị tỳ khưu nọ đã bỏ lại (vị ấy) mỗi một mình rồi ra đi. Sau đó trong khi đang đi chỉ mỗi một mình, giữa đường vị ấy đã gặp lại người vợ cũ. Cô ta đã nói như vầy: - "Nay chàng đã xuất gia rồi sao?" - "Đúng vậy, tôi đã xuất gia." - "Đối với các vị xuất gia việc đôi lứa là khó đạt được. Hãy đến và thực hiện việc đôi lứa đi." Vị ấy sau khi thực hiện việc đôi lứa với nàng ta đã đi về trễ. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: - "Này sư đệ, vì sao sư đệ đã đi về trễ như vậy?" Khi ấy, vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho người cộng sự và chỉ dạy bốn điều không nên làm ngay sau khi cho tu lên bậc trên:
2. Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên thực hành việc đôi lứa, thậm chí với loài thú cái. Vị tỳ khưu nào thực hành việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như người đàn ông đã bị chặt đầu không thể sống với việc gắn lại cái đầu ấy vào thân; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (1)
3. Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên lấy vật không được cho được xem là sự trộm cắp, thậm chí có liên quan đến cọng cỏ. Vị tỳ khưu nào lấy vật không được cho là một pāda hoặc tương đương một pāda hoặc hơn một pāda được xem là sự trộm cắp thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như chiếc lá vàng đã lìa khỏi cành không thể trở lại màu xanh; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi lấy vật không được cho là một pāda hoặc tương đương một pāda hoặc hơn một pāda được xem là sự trộm cắp thì
không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (2)
4. Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên tước đoạt lấy mạng sống của chúng sanh một cách cố tình thậm chí có liên quan đến loài kiến, mối. Vị tỳ khưu nào tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình thậm chí có liên quan đến việc phá thai thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như tảng đá lớn đã bị vỡ làm hai mảnh không gắn liền lại được; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình thì không còn là Sa- môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (3)
5. Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên khoe khoang về pháp của bậc thượng nhân thậm chí (nói rằng): 'Tôi thỏa thích trong ngôi nhà trống vắng.' Vị tỳ khưu nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, rồi khoe khoang về pháp của bậc thượng nhân (mà bản thân) không có, không thực chứng, là pháp thiền, hoặc là pháp giải thoát, hoặc là sự nhập định, hoặc là sự chứng đắc, hoặc là Đạo, hoặc là Quả thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như cây thốt nốt bị chặt ngọn không thể đâm chồi lại được nữa; tương tợ như thế, vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, sau khi khoe khoang về pháp của bậc thượng nhân (mà bản thân) không có, không thực chứng thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời." (4)
Dứt bốn điều không nên làm.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là người bị án treo về việc không nhìn nhận tội đã hoàn tục. Vị ấy đã quay trở lại và thỉnh cầu các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
2. - "Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo về việc không nhìn nhận tội lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và thỉnh cầu các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: 'Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ nhìn nhận' thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không nhìn nhận' thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: 'Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ nhìn nhận' thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không nhìn nhận' thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: 'Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ nhìn nhận' thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không nhìn nhận' thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: 'Ngươi nhìn nhận tội ấy?' Nếu vị ấy nhìn nhận thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không nhìn nhận thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy).
3. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo về việc không sửa chữa lỗi lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và thỉnh cầu các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: 'Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ sửa chữa' thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không sửa chữa' thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: 'Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ sửa chữa' thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không sửa chữa' thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên,
nên nói rằng: 'Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ sửa chữa' thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không sửa chữa,' thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: 'Ngươi sửa chữa lỗi ấy?' Nếu vị ấy sửa chữa thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không sửa chữa thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy).
4. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và thỉnh cầu các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: 'Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ từ bỏ' thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không từ bỏ' thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: 'Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ từ bỏ' thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không từ bỏ' thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: 'Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?' Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ từ bỏ' thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): 'Tôi sẽ không từ bỏ' thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: 'Ngươi từ bỏ tà kiến ác ấy?' Nếu vị ấy từ bỏ thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không từ bỏ thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy)."
Chương Trọng Yếu là thứ nhất.
*****