1. Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: 'Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.' (Nghĩ rằng): 'Lễ Pavāraṇā vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta,' các vị bỏ qua sự ngần ngại rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội dukkaṭa. (1)
2. Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: 'Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.' (Nghĩ rằng): 'Lễ Pavāraṇā vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta,' các vị bỏ qua sự ngần ngại rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội dukkaṭa. (2)
3. Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: 'Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.' (Nghĩ rằng): 'Lễ Pavāraṇā vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta,' các vị bỏ qua sự