không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
76. Này các tỳ khưu, trường hợp thân quyến của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy nhờ sứ giả đi đến gặp vị tỳ khưu (nói rằng): 'Bởi vì tôi bị bệnh. Đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của đại đức.' Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
77. Này các tỳ khưu, trường hợp người phụ giúp công việc cho vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy nhờ sứ giả đi đến gặp vị tỳ khưu (nói rằng): 'Bởi vì tôi bị bệnh. Các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các vị tỳ khưu.' Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày."
78. Vào lúc bấy giờ, trú xá lớn của hội chúng bị sụp đổ. Có nam cư sĩ nọ đã cho xẻ một số gỗ ở trong rừng. Người ấy đã phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): "Nếu các đại đức có thể cho chuyển đi số gỗ ấy thì tôi sẽ dâng số gỗ ấy đến các đại đức." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép đi với công việc cần phải làm của hội chúng. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày."
Dứt tụng phẩm về việc cư trú mùa mưa.
*****
1. Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ ở trong xứ Kosala, các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi
các thú dữ. Chúng đã vồ lấy, chúng đã giết hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các thú dữ. Chúng vồ lấy, chúng giết hại. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
2. Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các loài rắn. Chúng cắn, chúng giết hại. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
3. Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi những kẻ trộm cướp. Chúng cướp đoạt, chúng đánh đập. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
4. Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các yêu tinh. Chúng nhập vào (thân), đoạt lấy thần trí. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
5. Này các tỳ khưu, trường hợp ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị lửa đốt cháy. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc bởi đồ ăn khất thực. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
6. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ trú ngụ mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị lửa đốt cháy. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc về chỗ trú ngụ. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
7. Này các tỳ khưu, trường hợp ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị nước ngập. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc bởi đồ ăn khất thực. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
8. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ trú ngụ mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị nước ngập. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc về chỗ trú ngụ. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa."
9. Vào lúc bấy giờ, ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở tại trú xứ nọ đã di chuyển vì bọn trộm cướp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến ngôi làng." [1] Ngôi làng đã bị tách ra làm hai. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến nhóm đông hơn." Nhóm đông hơn không có đức tin, không lòng mộ đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến nhóm có đức tin, có lòng mộ đạo."
10. Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ trong xứ Kosala các vị tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa đã không nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc hảo hạng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa không nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc hảo hạng. (Nghĩ rằng): 'Chính
______________________
1 Nếu ngôi làng di chuyển không xa thì vẫn nên cư trú tại chính trú xá ấy và đi đến chỗ ở mới của ngôi làng để khuất thực, nếu xa thì có thể đi theo trường hợp bảy ngày, nếu không thể làm vậy thì có thể trú ngụ cùng dân làng tại chỗ ở mới (VinA. v, 1070)
điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
11. Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc hảo hạng, (nhưng) không nhận được các thức ăn thích hợp. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
12. Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc hảo hạng, nhận được các thức ăn thích hợp, (nhưng) không nhận được các dược phẩm thích hợp. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
13. Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc hảo hạng, nhận được các thức ăn thích hợp, nhận được các dược phẩm thích hợp, (nhưng) không nhận được người phục vụ phù hợp. (Nghĩ rằng): 'Chính điều này là sự chướng ngại!' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
14. Này các tỳ khưu, trường hợp người phụ nữ thỉnh mời vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa (nói rằng): 'Thưa ngài, hãy đến, tôi cho ngài vàng khối, hoặc tôi cho ngài vàng ròng, hoặc tôi cho ngài ruộng, hoặc tôi cho ngài vườn, hoặc tôi cho ngài bò đực, hoặc tôi cho ngài bò cái, hoặc tôi cho ngài tôi trai, hoặc tôi cho ngài tớ gái, hoặc tôi cho ngài con gái ruột để làm vợ, hoặc tôi trở thành vợ của ngài, hoặc tôi đưa đến cho ngài người vợ khác.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Đức Thế
Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
15. Này các tỳ khưu, trường hợp cô gái điếm thỉnh mời ―(như trên)― cô gái lỡ thời thỉnh mời ―(như trên)― kẻ vô căn thỉnh mời ―(như trên)― các thân quyến thỉnh mời ―(như trên)― các vị vua thỉnh mời ―(như trên)― những kẻ trộm cướp thỉnh mời ―(như trên)― những kẻ vô lại thỉnh mời vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa rằng: 'Thưa ngài, hãy đến, chúng tôi cho ngài vàng khối, hoặc chúng tôi cho ngài vàng ròng, hoặc chúng tôi cho ngài ruộng, hoặc chúng tôi cho ngài vườn, hoặc chúng tôi cho ngài bò đực, hoặc chúng tôi cho ngài bò cái, hoặc chúng tôi cho ngài tôi trai, hoặc chúng tôi cho ngài tớ gái, hoặc chúng tôi cho ngài con gái ruột để làm vợ, hoặc chúng tôi đưa đến cho ngài người vợ khác.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Đức Thế Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
16. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhìn thấy của cải chôn giấu không có chủ. Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Đức Thế Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
17. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu đang ra sức chia rẽ hội chúng. Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng. Hội chúng chớ có bị chia rẽ trong khi ta còn hiện diện' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
18. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng. Hội chúng chớ có bị chia rẽ trong khi ta còn hiện diện' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
19. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Các vị tỳ khưu ấy là những người bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: -Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.- Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
20. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Các vị tỳ khưu ấy không phải là những người bạn của ta. Tuy nhiên những người bạn của những người ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với những người bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những người ấy rằng: -Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.- Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
21. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia
nhiều vị tỳ khưu đã chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Các vị tỳ khưu ấy là những người bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: -Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.- Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
22. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu đã chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Các vị tỳ khưu ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên những người bạn của những người ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với những người bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những người ấy rằng: -Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.- Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
23. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni ra sức chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Các vị tỳ khưu ni ấy là những người bạn của ta, ta sẽ nói với các cô ấy rằng: -Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.- Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
24. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni ra sức chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Các vị tỳ khưu ni ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên các cô bạn của những cô ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với các cô bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những cô ấy rằng: -Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.- Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
25. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni đã chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Các vị tỳ khưu ni ấy là những người bạn của ta, ta sẽ nói với các cô ấy rằng: -Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.- Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
26. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: 'Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni đã chia rẽ hội chúng.' Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: 'Các vị tỳ khưu ni ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên các cô bạn của những cô ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với các cô bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những cô ấy rằng: -Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có vui mừng với việc chia rẽ hội chúng.- Họ sẽ
làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai' rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa."
27. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định vào mùa (an cư) mưa ở khu rào gia súc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở khu rào gia súc." Khu rào gia súc di chuyển. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép di chuyển theo khu rào gia súc."
28. Vào lúc bấy giờ, khi việc vào mùa (an cư) mưa đang đến gần, có vị tỳ khưu nọ có ý định đi theo đoàn xe tải. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở trong xe tải."
29. Vào lúc bấy giờ, khi việc vào mùa (an cư) mưa đang đến gần, có vị tỳ khưu nọ có ý định đi theo chiếc thuyền. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở trong chiếc thuyền."
30. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở trong bọng cây. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - "Giống như là các yêu tinh." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trong bọng cây; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa."
31. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở trên chạc ba của cây. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - "Giống như là các người săn thú." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trên chạc ba của cây; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa."
32. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở ngoài trời. Trong khi trời mưa, các vị chạy đến gốc cây, đến hốc cây nimba. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở ngoài trời; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa."
33. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa không có chỗ trú ngụ nên bị khó nhọc bởi vì sự lạnh, bởi vì sự nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, vị không có chỗ trú ngụ không nên vào mùa (an cư) mưa; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa."
34. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở nhà quàng tử thi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - "Giống như là những người thiêu xác chết." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở nhà quàng tử thi; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa."
35. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở chiếc lọng che. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - "Giống như là những người chăn bò." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở chiếc lọng che; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa."
36. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở trong vại đất nung. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - "Giống như là những kẻ ngoại đạo." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trong vại đất nung; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa."
37. Vào lúc bấy giờ, hội chúng ở thành Sāvatthi thực hiện điều thỏa thuận là: "Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa." Người cháu trai của bà Visākhā mẹ
của Migāra đã đi đến gặp các vị tỳ khưu và thỉnh cầu sự xuất gia. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: - "Này đạo hữu, hội chúng thực hiện điều thỏa thuận là: 'Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa.' Này đạo hữu, hãy chờ đến khi các vị tỳ khưu trải qua mùa (an cư) mưa; khi đã trải qua mùa (an cư) mưa các vị sẽ cho xuất gia."
38. Sau đó, khi đã trải qua mùa (an cư) mưa, các vị tỳ khưu ấy đã nói với người cháu trai của bà Visākhā mẹ của Migāra điều này: - "Này đạo hữu, giờ đây hãy đi đến và hãy xuất gia." Người ấy đã nói như vầy: - "Thưa các ngài, nếu tôi đã được xuất gia thì tôi còn có thể vui thích. Thưa các ngài, giờ đây tôi sẽ không xuất gia." Bà Visākhā mẹ của Migāra phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - "Vì sao các ngài đại đức lại thực hiện điều thỏa thuận có hình thức như vầy: 'Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa,' có khi nào mà Giáo Pháp lại không được thực hành?"
39. Các tỳ khưu đã nghe được bà Visākhā mẹ của Migāra phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - "Này các tỳ khưu, không nên thực hiện điều thỏa thuận có hình thức như vầy: 'Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa.' Vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa."
40. Vào lúc bấy giờ, chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala đã được đại đức Upananda con trai dòng Sakya nhận lời cho thời điểm trước.
41. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vào khoảng giữa đường vị ấy đã nhìn thấy hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy đã khởi ý điều này: "Hay là ta nên sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ này, như thế có nhiều y sẽ được phát sanh đến ta?"
42. Vị ấy đã sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ ấy. Đức vua Pasenadi xứ Kosala phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - "Tại sao ngài đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của chúng tôi lại nuốt lời? Không phải rằng đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?"
43. Các tỳ khưu đã nghe được đức vua Pasenadi xứ Kosala phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - "Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời? Không phải rằng đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?"
44. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Upananda con trai dòng Sakya rằng: - "Này Upananda, nghe nói ngươi sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời, có đúng không vậy?" - "Bạch Thế Tôn, đúng vậy." Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - "Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
45. - "Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước.
Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vào khoảng giữa đường vị ấy nhìn thấy hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy khởi ý như vầy: 'Hay là ta nên sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ này, như thế có nhiều y sẽ được phát sanh đến ta?' Vị ấy sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
46. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng.1 Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
47. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
48. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy
______________________
1 Tức là ngày mười sáu tháng sáu theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần. Việc tính âm lịch theo nửa tháng trăng hiện đang được sử dụng ở một số quốc gia (ND).
sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
49. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
50. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
51. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời
điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
52. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước lễ Pavāraṇā, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại.,1 này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
53. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
54. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―nt― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. ―nt― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―nt― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị
_________________________
1 "... na vā āgaccheyya" là 'không có thể trở lại' không nên hiểu 'có thể không trở lại' (ND).
ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời. ―nt― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
55. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày lễ Pavāraṇā, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
56. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
57. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần
thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
58. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
59. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
60. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
61. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi
đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
62. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày trăng tròn tháng Kattika là ngày lễ hội Cātumāsinī,1 vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
63. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
64. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú
____________________
1 Tức là rằm tháng mười âm lịch (ND).
ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời. ―(như trên)― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
65. Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày trăng tròn tháng Kattika là ngày lễ hội Cātumāsinī, vị ấy ra đi do công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời."
Dứt chương Vào Mùa Mưa là thứ ba.
*****