Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Ý Ba Kinh Một Luận Tịnh Độ

Đại Ý Ba Kinh Một Luận Tịnh Độ

Tác giả: Nhuận Hà - Hiệu Định: Định Huệ. Dịch giả: Nhuận Hà - Hiệu Định: Định Huệ. Năm xuất bản: 2016. Số trang: 355.

Chương 11: II. Chánh Thuyết (Trang 129 - 172)

trước hay phía sau, tất cả đều nằm trong cái mũ, đây gọi là ‘quan đái sơ hậu’.
 
Ý nghĩa của hai câu này là giống nhau.
 
Nắm vững được điểm quan trọng của đại ý
 
‘Đại ý’: Một bộ kinh từ đầu đến cuối, có lẽ phân lượng rất nhiều, rất dài, không ngại phiền hà mà giảng rõ ràng, thì rất cao xa huyền diệu, nhưng kinh này chủ yếu nói gì? Ở trong đoạn văn nào? Nếu có thể dẫn đoạn văn này thì phải giải thích thêm, dù cho bộ kinh này từ đầu đến cuối không hoàn toàn hiểu rõ hết được, nhưng cũng phải hiểu và nắm vững, bởi vì cốt lõi của bộ kinh này nói về tông chỉ Tịnh Độ.
 
II. CHÁNH THUYẾT
 
Kinh A-di-đà là phần Lưu thông trong kinh
 
Quán Vô Lượng Thọ
 
Chúng ta giảng về đại ý của bộ kinh A-di-đà này, từ xưa đến nay đều cho rằng kinh A-di-đà là phần Lưu thông trong kinh Quán Vô Lượng Thọ.
 
Bởi vì trong Quán kinh, kinh văn rất dài, không ngại rườm rà mà giảng 16 pháp quán, nhưng đến sau cùng tợ như trời đất đảo ngược, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni thay đổi 180 độ, không lưu thông và không phó chúc 16 pháp quán, mà chỉ
phó chúc phần Lưu thông xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Điều này hoàn toàn khác với 16 pháp quán được giảng trong kinh văn dài ở phần trước. Có thể thấy, mục đích giảng 16 pháp quán không nằm ở 16 pháp quán, mà nằm ở chỗ xưng danh niệm Phật. Như vậy, bước chuyển ngoặt này trùng khớp với tông chỉ của kinh Vô Lượng Thọ là ‘cho đến mười niệm’ của nguyện thứ 18 (Chú: Căn cơ lúc bình sanh, trêt suốt cả đời; căn cơ lúc lâm chung, dưới đến mười tiếng).
 
Kinh A-di-đà là phần Lưu thông ‘xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ trong Quán kinh mà Đức Phật Thích-ca-mâu-ni phó chúc cho tôn giả A-nan lưu truyền. Bởi vì trong Quán kinh, đoạn văn này rất súc tích, không nói rõ ràng. Chỗ nói rõ ràng nằm ở đâu? Nằm ở trong kinh A-di-đà.
 
Điểm thứ nhất trong ba điểm của đại ý của kinh A-di-đà là khen ngợi Y báo và Chánh báo ở Cực Lạc
 
Kinh A-di-đà đầu tiên nói về Y báo trang nghiêm và Chánh báo trang nghiêm ở thế giới Cực Lạc.
 
Mục đích để làm gì? Để làm cho chúng ta phát tâm hâm mộ mong muốn; phát tâm hâm mộ mong muốn thì có một nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Vì thế, mục đích là làm cho chúng ta phát nguyện
cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Cũng giống như kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói về 13 pháp quán Định thiện và tam phước cửu phẩm, nhưng mục đích cuối cùng chẳng phải yêu cầu chúng ta thực hành 13 pháp quán về Định thiện này, cũng không nằm ở trong tam phước cửu phẩm, mà mục đích là làm cho chúng ta hâm mộ sự trang nghiêm của thế giới Cực Lạc rồi cuối cùng chấp trì danh hiệu.
 
Kinh A-di-đà cũng như vậy, vừa bắt đầu nói về Y báo trang nghiêm và Chánh báo trang nghiêm, nhưng mục đích là khen ngợi chúng ta có tâm mong mỏi, tâm hoan hỷ đối với thế giới Cực Lạc, khiến chúng ta cầu vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Điểm thứ hai trong ba điểm đại ý là chỉ bày phương pháp vãng sanh
 
Tốt rồi, mục tiêu và chỗ trở về của chúng ta trong tương lai là thế giới Cực Lạc. Sau khi xác định mục tiêu, điều quan trọng nhất là phương pháp. Mục tiêu dù thù thắng trang nghiêm, thanh tịnh an lạc, vi diệu hương khiết đến cỡ nào đi nữa, nhưng bạn không có biện pháp để đạt được, đấy chỉ là lý tưởng mà thôi, hoàn toàn chẳng liên quan gì với chúng ta cả, cho nên phương pháp là quan trọng nhất.
Điểm thứ hai này là chỉ bày phương pháp vãng sanh. Đại ý thứ hai trong kinh A-di-đà chính là nói về phương pháp vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
 
Muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc, nếu như dựa vào sự tu hành của chúng ta thì đều là thiểu thiện căn, thiểu phước đức nhân duyên, không thể vãng sanh; muốn vãng sanh về Báo độ cao diệu thì chỉ có chấp trì danh hiệu. Sau khi nghe nói Phật A-di-đà mà chấp trì danh hiệu, đây chính là phương pháp vãng sanh, cũng chính là điểm thứ hai của đại ý kinh A-di-đà.
 
Điểm thứ ba trong ba điểm đại ý là chư Phật trong sáu phương chứng thật
 
Điểm thứ ba của đại ý kinh A-di-đà chính là chư Phật ở sáu phương chứng minh và khen ngợi ở phần sau.
 
Bởi vì kinh A-di-đà được Phật Thích-ca-mâu-ni tuyên thuyết. Ngài sợ chúng sanh trong mười phương khởi tâm nghi rất nặng, chỉ có một mình Ngài nói thì chúng ta không thể tin nhận, cho nên nói chư Phật trong sáu phương (sáu phương tức là mười phương) để chứng minh lời của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói, để khuyên bảo chúng ta tin nhận, không nên hoài nghi.
 
Đại ý của kinh A-di-đà chính là ba điểm này,
đương nhiên điểm quan trọng nhất là ‘nghe nói Phật A-di-đà, liền chấp trì danh hiệu’.
 
1. Khen ngợi Y báo và Chánh báo ở cõi Cực Lạc
 
Giải thích thêm ba điểm này:
 
Điểm thứ nhất: Khen ngợi Y báo và Chánh báo ở cõi Cực Lạc.
 
Kinh A-di-đà, ngay phần khởi đầu, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni không ai hỏi mà tự Ngài nói với tôn giả Xá-lợi-phất:
 
Từ đây đến Tây Phương hơn mười vạn ức1 cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc.
 
Ở thế giới Tây Phương, có thế giới tên là Cực Lạc, đây là chỉ cho phương vị.
 
Cõi Phật kia có Phật hiệu là A-di-đà.
 
Đây là chỉ cho chủ nhân của thế giới đó. Đây có phương vị (nơi), có hình tướng chủ nhân. Vì thế, pháp môn Tịnh Độ đầu tiên kiến lập trên ‘chỉ phương lập tướng’, hoàn toàn khác với ‘Tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh Độ’ của Thánh Đạo môn nói. Vừa bắt đầu kinh A-di-đà đã xuất hiện đoạn văn trên.
 
Tại sao gọi là Cực Lạc?
_________________________
1 Ức 億: Đơn vị tính số. Theo Du-già sư địa luận lược toản quyển 1, ở Ấn Độ có 4 thuyết về ức: 10 vạn là 1 ức, 100 vạn là 1 ức, 1.000 vạn là 1 ức, 10.000 vạn là 1 ức.
Thế giới đó tại sao gọi là Cực Lạc? Vì thế, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni lại hỏi ngài Xá-lợi-phất:
 
Cõi nước kia tại sao gọi là Cực Lạc?
 
Cõi nước này tại sao lấy ‘Cực Lạc’ làm tên? Tại sao gọi là ‘Cực Lạc’?
 
Chúng sanh nước ấy không có các thứ khổ, chỉ thọ nhận các điều vui, cho nên gọi là Cực Lạc.
 
Giải thích về ý nghĩa tên cõi nước Cực Lạc rất đơn giản.
 
‘Không có các thứ khổ, chỉ nhận các điều vui’: Nếu như chúng ta không hiểu rõ nội hàm của những chữ này, thì sơ suất lướt qua ‘thế giới Cực Lạc’ và ‘Phật A-di-đà’ ở phần trước, mà không biết rằng thật đáng quý, thật quan trọng biết dường nào, không biết rằng có liên quan với chúng ta. Nếu như hiểu cặn kẽ, chúng ta sẽ cảm thấy ‘Ôi da! Thật tốt quá! Rất khó được! Làm cho chúng ta cảm thấy vui mừng, hoan hỷ không gì bằng!’.
 
Tại sao? Vì ‘không có các thứ khổ, chỉ nhận các điều vui’! Mục đích của Phật giáo chẳng qua là cứu khổ ban vui, mục đích học Phật của chúng ta cũng là để giải thoát bản thân mình và vô lượng vô biên khổ đau của người khác, đạt đến cứu cánh Niết-bàn, an lạc. Chúng ta tu hành như thế nào đi


 
chăng nữa đều không thể đạt đến mục đích này. Hiện tại, cõi nước của Phật A-di-đà là nơi ‘không có các thứ khổ, chỉ nhận các điều vui’, cho nên chúng ta chỉ cần hiểu rõ ‘không có các thứ khổ, chỉ nhận các điều vui’, thì tâm thích cầu Cực Lạc này sẽ vĩnh viễn không thoái chuyển.
 
‘Không có các thứ khổ’, ‘khổ’ này nói đơn giản có tam khổ, ngũ khổ, bát khổ, nói rộng thì có vô lượng vô biên thứ khổ. Thông thường đều giải thích về ‘bát khổ’. ‘Bát khổ’ là: Sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Tám thứ khổ này ở thế giới Cực Lạc hoàn toàn không có, không có các thứ khổ; không những không có những thứ khổ này mà còn nhận vô lượng điều vui.
 
Dưới đây lược giải về bát khổ:
 
Thế giới Cực lạc không có sanh khổ
 
Thế giới Cực Lạc đều do hoa sen hóa sanh, cho nên không có ‘sanh khổ’ giống như thế giới Ta-bà của chúng ta, mười tháng ở trong thai mẹ, nếu mẫu thân ăn những đồ lạnh thì cảm nhận nỗi khổ ở địa ngục Hàn Băng; nếu mẫu thân ăn những đồ nóng thì cảm nhận nỗi khổ ở địa ngục Nhiệt Hỏa. Lúc vừa sanh ra, tuy đều quên hết, nhưng lúc đương thời vừa sanh ra kêu oa oa thì bị gió lạnh thổi, đây cũng là khổ. Huống gì từ lúc
sanh ra đến khi già đều là khổ, cho nên đời người là khổ. Phật Thích-ca-mâu-ni vừa bắt đầu thuyết pháp liền nói ‘khổ, tập, diệt, đạo’, ‘khổ’ đứng vị trí đầu tiên.
 
Thế giới Cực Lạc không có lão khổ
 
Người vãng sanh về thế giới Cực Lạc, vĩnh viễn giống người thanh niên cường tráng khoảng chừng hai mươi tuổi, không có già yếu. Chúng ta sống ở cõi Ta-bà thì có khổ già yếu, còn ở Cực Lạc thì không có khổ già yếu. Kinh Vô Lượng Thọ nói: Chúng sanh vãng sanh về thế giới Cực Lạc, đều là:
 
Dung mạo đoan chánh, nhan sắc vi diệu, chẳng phải trời cũng chẳng phải người.
 
Đã chẳng phải thiên nhân trên trời, cũng không phải tướng phàm phu của nhân gian chúng ta.
 
Đều thọ thân tự nhiên hư vô, thể vô cực.
 
Đây là tự nhiên ‘thân hư vô, thể vô cực’, cho thấy thân thể họ không giống với chúng ta, có người cao mấy thước, bề ngang mấy tấc, trọng lượng có nhiều loại, còn thân người ở Cực Lạc đều hơn hẳn chúng ta, thân thể của họ hiện hữu khắp hư không pháp giới. Hư không pháp giới lớn chừng nào thì thân thể họ lớn chừng ấy, khắp hư không khắp pháp giới đều nằm ở trong
thân tâm của họ. Vì thế, dù cho dùng thần túc thông đi đi lại lại, cũng không thể hình dung thân to lớn và sự tự do vô ngại trong hư không, ‘đều thọ thân tự nhiên hư vô, thể vô cực’, cho nên chúng sanh của thế giới Cực Lạc không có hiện tượng già.
 
Thế giới Cực Lạc không có bệnh khổ
 
Không có già, đương nhiên cũng không có bệnh, kinh Vô Lượng Thọ nói:
 
Nếu Tôi thành Phật, Bồ-tát trong nước Tôi không được thân Na-la-diên kim cang thì Tôi không thành Chánh giác.
 
Thân thể chắc như kim cang, sức mạnh như thần Na-la-diên. Vì thế, ở cõi nước đó không có sanh, lão, bệnh.
 
Thế giới Cực Lạc không có tử khổ
 
Không có chết, bởi vì một khi vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì giống Phật A-di-đà, đều là Vô lượng thọ, là siêu việt thời gian, là tồn tại vĩnh hằng.
 
Trong sáu đường, nơi vui nhất chính là thiên chúng trên cõi trời, nhưng thiên nhân vẫn phải chết, dù cho thọ mạng dài hơn chúng ta, nhưng thọ mạng hết thì vẫn phải chết, bởi vì họ không phải là Vô lượng thọ, thọ mạng của họ chẳng phải thật sự vĩnh hằng, siêu việt thời gian. Ngay khi
họ sắp chết thì có năm tướng suy hao1 của thiên nhân hiện ra. Nhưng thế giới Cực Lạc ‘chẳng phải trời cũng chẳng phải người’, đã chẳng phải chư thiên và cũng chẳng phải nhân gian, cho nên căn bản ở cõi đó không có năm tướng suy hao này hiện ra, và ở thế giới Cực Lạc đều không có sanh, lão, bệnh, tử.
 
Các vị ngồi ở đây, có những người tuổi tác cao, người tuổi tác cao sẽ dần dần cảm nhận đến cái khổ già yếu, nhiều hay ít đều sẽ nghĩ đến: “Nếu ta trẻ một chút, không có bệnh thì có thể sống thêm vài năm nữa, được vậy thì may mắn biết dường nào!”. Nhưng, không thể được, chỉ có vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì không cầu mà tự được.
 
Thế giới Cực lạc không có ái biệt ly khổ
 
Kế đến là ái biệt ly khổ. Vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì tự nhiên không có sanh ly tử biệt, cũng không có ái biệt ly khổ.
 
Hơn nữa, vãng sanh về thế giới Cực Lạc, tâm này siêu việt, không còn chấp trước các loại ái hận tình cừu (ái thì oán hận, tình thì thù hận), được mất thành bại, vả lại vốn không có những hiện
____________________________
1 Năm tướng suy hao: Năm tướng suy của chư thiên hiện ra khi tuổi thọ sắp hết, gồm: 1. Hoa trang sức trên đầu khô héo, 2. Nách tiết ra mồ hôi, 3. Áo quần dơ bẩn, 4. Thân mất vẻ oai nghi, có mùi hôi, 5. Không thích ngồi chỗ của mình.

 
tượng này, cho nên tự nhiên không có ái biệt ly khổ. Không chỉ như vậy, mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc đều ở chung với các bậc thượng thiện nhân, cho dù đi đến thế giới trong mười phương để độ chúng sanh, nhưng cũng giống như không đi vậy, cho nên không có ái biệt ly khổ.
 
Vì thế, nếu nói vợ chồng ân ái, cha con nghĩa nặng, chúng ta cần phải bảo cho họ biết:
 
Chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc mới có thể vĩnh viễn sống chung với nhau, loại thân tình này mới có thể trường tồn mãi mãi. Nếu không mỗi người đều theo nghiệp của mình mà lưu chuyển, không có cách nào ở với nhau vĩnh viễn được, bởi vì nghiệp của mỗi người ở quá khứ không giống nhau, nghiệp hiện tại cũng không giống nhau, một khi lìa thế gian này, sẽ không thể trở lại sống ở thế gian nữa; gia đình ấm áp, địa vị trong xã hội cao quí, mối quan hệ giao tiếp tốt đẹp, nhưng đều không thể quay lại được, tất cả đều xa lìa thế gian này, không liên quan chút nào cả. Giống như trong chiêm bao thấy những điều lạ, khi thức dậy rồi thì những điều khổ vui trong chiêm bao đều tan biến mất. Chiêm bao là huyễn hóa, nghĩ lại thì thế gian này cũng là một giấc mộng lớn, cũng là huyễn hóa.
 
Kinh Vô Lượng Thọ nói:
Người ở thế gian sống trong ái dục, một mình sanh ra rồi một mình chết đi, một mình đến rồi một mình đi, đi đến nơi khổ vui, tự thân mình phải gánh chịu, không ai thay thế cho nhau được.
 
Mấy câu này tuy rất ngắn gọn, nhưng nói lên được tướng trạng thật của thế gian.
 
‘Người ở thế gian, sống trong ái dục’: Giữa người với người, ai không có ái dục chấp trước? Vì thế, nói ‘người ở trong ái dục’, thì tâm có ái dục, đối diện cũng là hoàn cảnh ái dục.
 
‘Một mình sanh ra rồi một mình chết đi, một mình đến rồi một mình đi’: Cổ đức giải thích câu này nói: “Mỗi người chúng ta đều là cô độc, tách ra dĩ nhiên cũng cô độc, dù đoàn tụ lại một chỗ cũng là cô độc. Điều này rất có ý nghĩa, rất sâu xa. Dù cho người sống chung một nhà, ở trong một gia đình, nhưng đôi bên đều là tự cô độc. Bởi vì tâm ý của ta, đối phương không thể lý giải; tâm ý của đối phương, chúng ta cũng không thể lý giải, không thể cùng cảm nhận như đối phương. Vì thế, từ lúc sanh ra đến khi chết, đều chỉ có một mình. Sau khi chết rồi, đương nhiên mỗi người đều theo nghiệp của mình mà lưu chuyển, như vậy thì càng cô độc. Đó gọi là tụ nhau một thời, nhưng chẳng qua là nhân duyên một thời tụ hội mà thôi. Nhân
duyên đều có lúc phải xa lìa, nhân duyên lìa thì tất cả cũng là huyễn hóa tan biến mất, không tồn tại. Vì thế, theo căn bản mà nói thì thế gian này là không tướng1, đó gọi là ‘hữu’ cũng là không tướng, bởi vì ‘hữu’ này là nhân duyên nhất thời; nhân duyên nhất thời thì chẳng phải các thứ xưa nay vốn có, thì không thể nào không biến đổi, cho nên không thể vĩnh hằng tồn tại.
 
Chỉ có vãng sanh về thế giới Cực Lạc mới không có tất cả sự lo âu này. Vì thế, thế giới Cực Lạc không có ái biệt ly khổ.
 
Thế giới Cực Lạc không có oán tắng hội khổ
 
Người không muốn gặp mà bỗng nhiên gặp thì sẽ không thoải mái, nhưng cũng không sao; nếu người không muốn gặp mà phải sống chung dưới mái nhà, sống ngày qua ngày, như thế có thể hiểu là sống rất mệt mỏi, chán chường. Nhưng thế giới Cực Lạc thì không có hiện tượng oán tắng hội khổ này, đến nơi đó rồi thì tâm tự nhiên hóa giải sân hận, tật đố đều biến thành tâm đầy từ ái, tâm một chút cũng không chấp trước, tâm nghĩ đến đối phương, tâm thương yêu đối phương. Vì thế, muốn lìa các loại ái hận tình cừu, chỉ có vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
________________________
1 Không tướng 空相: Tướng trạng các pháp đều không, hoặc chỉ cho thể tướng chân không. Pháp do nhân duyên sanh không có tự tánh, tức là tướng trạng của Không.
Thế giới Cực Lạc không có cầu bất đắc khổ
 
Nguyện vọng của người thế gian vô lượng vô biên, nhưng thường không thể đạt đến. Phước báo của mỗi người không giống nhau, người có phước báo không cầu mà tự nhiên được, còn người không có phước báo dù theo đuổi như thế nào đi nữa nhưng vẫn uổng công vô ích, thất vọng quay về. Bởi vì tất cả việc làm trên thế gian này đều do nghiệp của quá khứ mang theo, hình thành. Bạn sanh ra ở quốc gia nào, sanh làm con của ai, diện mạo đẹp hay không đẹp, có trí huệ hay không có trí huệ, tương lai kết hôn với ai, sanh mấy đứa con, sự nghiệp phát đạt hay không phát đạt, gia đình mỹ mãn hay không mỹ mãn, đều 100% liên quan đến đời quá khứ, cho nên Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
 
Muốn biết nhân đời trước
Hãy xem quả đời nay
Muốn biết quả vị lai
Hãy xem nhân đời này.
 
Muốn biết quá khứ của chúng ta là thiện hay ác, có tu hành hay không, thì xem kỹ lại đời này của chúng ta đã thọ khổ hay là vui, có tiếp cận được Phật pháp không, có học Phật pháp không, đạo tâm học Phật sâu hay cạn, xét kỹ như vậy thì sẽ biết được. Như vậy, đời vị lai chúng ta sẽ đến


 
nơi đâu? Tức là căn cứ theo những việc chúng ta làm trong đời này, việc thiện nhiều hay việc ác nhiều. Vậy thì, dù cho việc thiện có nhiều đi nữa cũng vẫn luân hồi trong sáu đường.
 
Nếu như cả đời của chúng ta đều xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, và tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, như thế thì biết được đời vị lai của chúng ta chẳng phải là hạng phàm phu luân hồi trong thế giới Ta-bà, và ngay hiện tại bắt đầu trở thành một thành viên trong thánh chúng ở thế giới Cực Lạc.
 
Thế giới Cực Lạc không có cầu bất đắc khổ, thế giới Cực Lạc là cảnh giới như ý, tâm ý của chúng ta nghĩ gì, thì sẽ hiển hiện ra thứ đó, chúng ta muốn ăn, mặc, đồ dùng, muốn bất luận thứ gì, vừa động niệm thì tự nhiên xuất hiện, cho nên thế giới Cực Lạc là cảnh giới như ý, không có cầu bất đắc khổ.
 
Thế giới Cực Lạc không có ngũ ấm xí thạnh khổ
 
Ngũ ấm xí thạnh khổ là căn bản nhất trong bát khổ. Sở dĩ có bảy thứ khổ trước, chính là vì có ngũ ấm xí thạnh khổ căn bản này. Nếu như ngũ ấm không hiện hữu thì chẳng cảm nhận được bảy khổ trước. Đến thế giới Cực Lạc, mỗi người đều chứng nhập Niết-bàn, không có chướng ngại của sắc, thọ, tưởng, hành, thức quấy nhiễu nội tâm
chúng ta. Bởi vì tất cả đều đã lìa sự nhiễm ô của ngũ uẩn này, mỗi người đều chứng nhập Niết-bàn, đều chứng nhập cảnh giới không vô, lại chứng nhập Phật tánh tùy ý tự tại. Phật tánh lập tức hiển hiện, cho nên nói: “Không có chúng sanh khổ, chỉ nhận các điều vui”. Lạc là đối với khổ, đã không có khổ thì cũng không gọi là vui hay không vui, ‘Lạc’ này chỉ để hình dung trạng thái này, cái gọi là ‘thế giới Cực Lạc’, là bất đắc dĩ thêm chữ ‘Cực’ trước chữ ‘Lạc’.
 
Thế giới Cực Lạc đại khái mà nói, chúng sanh ở nơi đó ‘không có các thứ khổ, chỉ nhận các điều vui’, cho nên gọi là Cực Lạc. Nói theo phương diện môi trường thì kinh A-di-đà vừa bắt đầu đã nói có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây được hình thành bằng các châu báu. Kinh A-di-đà tuy nói bốn loại báu, nhưng kỳ thật là vô lượng báu, báu không thể nghĩ bàn; hơn nữa lại có ao bằng bảy báu, trong ao đều có các loại hoa sen có màu sắc; đồng thời phía trên có lầu gác bằng bảy báu, phía dưới là vàng ròng trải khắp mặt đất. Vàng ròng ở thế gian của chúng ta thì cứng và lạnh, nhưng vàng ròng ở thế giới Cực Lạc thì mềm mại mà lại ấm áp.
 
Thế giới Cực Lạc lại ‘thường trỗi thiên nhạc’. ‘Thiên’ tức là ý nghĩa thù thắng và tự nhiên, thiên nhạc là một loại Phạm âm, cũng chính là nói
chúng ta một khi nghe âm nhạc này thì có thể tiêu trừ được phiền não, chứng ngộ bồ-đề. Thiên nhạc này không giống với ca khúc lưu hành ở thế gian chúng ta, hoặc là nhạc nhẹ, hoặc nhạc trữ tình, không làm người ta an ổn, mà lại khiến cho người càng thêm xao động. Nếu âm nhạc của nhà Phật thì có thể làm cho tâm bực bội của chúng ta dần dần được an định, để cho chúng ta cảm nhận được sự tịch tĩnh của tự tánh. Phạm bối (âm nhạc) của nhà Phật nghe có vẻ khô khan vô vị, nhưng âm vị lại vô cùng vô tận, cho nên người có thể thưởng thức Phạm bối của nhà Phật, rất dễ tiếp cận được với tự tánh.
 
Trong mười hai thời ở thế giới Cực Lạc đều có hoa trời rơi lả tả, đồng thời lại có các loại chim đủ loại màu sắc kỳ diệu đang nói diệu pháp. Dù gió thổi hàng cây lay động cũng là nói pháp. Môi trường của thế giới Cực Lạc thảy đều tốt đẹp. Từ mặt đất đến trên trời đều có các loại vật báu trang nghiêm. Những vật báu trang nghiêm này khiến cho chúng ta thấy sắc, nghe âm thanh đều có thể tiêu trừ phiền não, có thể chứng ngộ Phật tánh.
 
Y báo có loại công năng này, và môi trường Y báo ở thế giới Cực Lạc thảy đều do bi nguyện của Phật A-di-đà mà được thành tựu.
Quang minh vô lượng cho nên gọi là A-di-đà
 
Tiếp theo, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni giới thiệu chủ nhân của thế giới Cực Lạc là Phật A-di-đà.
 
Đức Phật này là Đức Phật ở cảnh giới như thế nào? (Kinh A-di-đà từ đầu đến cuối chỉ có 1858 chữ, bất luận là giới thiệu về Y báo và Chánh báo, hoặc giới thiệu phương pháp vãng sanh, đều ngắn gọn và trong sáng, cho nên kinh này cũng ngắn gọn và trong sáng).
 
Phật A-di-đà là Đức Phật có quang minh vô lượng, là Phật quang minh, đầy đủ ánh sáng, hơn nữa ánh sáng này là vô lượng không bị chướng ngại.
 
Mấy ngày trước, pháp sư Tịnh Tông có giảng, vì ánh sáng này có vô lượng, nên phải có đức vô ngại, nếu như bị chướng ngại thì làm sao gọi là vô lượng được? Như vậy thì có hạn lượng! Tôi vừa nghe, cảm thấy pháp sư Tịnh Tông có sự thể ngộ rất tốt, đúng là vào sâu tâm Phật, quang minh của Phật A-di-đà vô lượng, không bị chướng ngại, cho nên gọi là Phật A-di-đà.
 
Đại sư Thiện Đạo giải thích về đức quang minh của Phật A-di-đà là Vô lượng quang, Vô ngại quang. Đại sư Thiện Đạo nói:
 
Phật A-di-đà có quang minh vô lượng, chiếu khắp mười phương cõi nước mà không bị chướng
ngại, chỉ quán sát chúng sanh niệm Phật và nhiếp thủ không bỏ, cho nên gọi là A-di-đà.
 
Quang minh vô lượng, vô ngại chỉ tìm đến chúng sanh niệm Phật, đồng thời bảo hộ người ấy, cứu độ người ấy, vĩnh viễn không lìa người ấy, mãi cho đến lúc người ấy lâm chung, nhất định khiến người ấy đến cõi Vô lượng quang minh, đây chính là ý nghĩa của ‘A-di-đà’.
 
Từ đoạn này, chúng ta có thể biết sự tồn tại của Đức Phật A-di-đà, là tồn tại vì mục đích gì? Mục đích cuối cùng của Ngài là để cứu độ người niệm Phật, ‘chỉ quán sát chúng sanh niệm Phật và nhiếp thủ không bỏ’. Nếu tu tám vạn bốn nghìn pháp môn khác thì không nằm ở trong sự nhiếp thủ quang minh của Phật A-di-đà, chỉ có người nào xưng danh niệm Phật thì Phật A-di-đà mới nhiếp thủ.
 
Vừa xem kết luận này, có vẻ rất hạn hẹp, rất nông cạn, nhưng lại có ý nghĩa sâu xa. Bởi vì danh hiệu và quang minh của Phật A-di-đà là một thể, cho nên bạn xưng niệm danh hiệu của Ngài thì tự nhiên tiếp xúc với quang minh của Ngài, đôi bên cùng dung hòa nhau trong quang minh của Ngài.
 
Nếu bạn không xưng danh hiệu Phật thì đương nhiên sẽ lìa quang minh của Ngài. Vì thế, rất ý nghĩa, đáng để chúng ta suy ngẫm: Chúng ta muốn lìa quang minh của Phật A-di-đà, hay là
muốn được bảo hộ trong quang minh của Phật A-di-đà?
 
Nếu muốn được bảo hộ trong quang minh của Phật A-di-đà, thì chúng ta phải chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
 
Thọ mạng vô lượng cho nên gọi là A-di-đà
 
Phật Thích-ca-mâu-ni lại giới thiệu Phật A-di-đà là Vô lượng thọ, cũng chính là nói Phật A-di-đà là Phật trường thọ.
 
Chữ ‘trường’ trong ‘trường thọ Phật’ này, không phải là trường của trường đoản, mà là trường của vô lượng. Trường của vô lượng là trường của tuyệt đối, vượt hẳn trường của thời gian, Phật A-di-đà là Phật Vô Lượng Thọ.
 
Chỉ có mình Đức Phật A -di-đà là Phật Vô Lượng Thọ, vẫn không phải ý nghĩa chân chính của Phật A-di-đà, mà hễ chúng sanh phát nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì cùng Vô lượng thọ như nhau, đây là hàm nghĩa của Phật A-di-đà.
 
Nếu chỉ có một mình Phật A-di-đà là Vô lượng thọ, chúng sanh vãng sanh về thế giới Cực Lạc, và chúng sanh tha thiết muốn vãng sanh, chúng sanh chưa vãng sanh mà không được Vô lượng thọ như nhau, thì không thể thành Phật A-di-đà. Ngày nay Ngài có thể trở thành Phật A-di-đà, thì bản thân
Ngài là Vô lượng thọ, nhưng người vãng sanh và người sắp vãng sanh cũng đều là Vô lượng thọ.
 
Vì thế, tuy trong kinh A-di-đà nói: “Thọ mạng của Đức Phật A-di-đà và nhân dân của Ngài vô lượng vô biên A-tăng-kỳ-kiếp”, có lẽ là nhân dân ở thế giới Cực Lạc, nhưng nghĩ kỹ lại thì bao gồm cả nhân dân sắp vãng sanh. Bởi vì người sắp vãng sanh một khi quả báo đời này hết thì không chịu quả báo phần đoạn sanh tử1 ở trong sáu đường. Bởi vì họ là một người chắc chắn được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, cho nên theo hiện tại mà tính thì họ đã có được thân phận Vô lượng thọ.
 
Đương nhiên, mỗi cá nhân, thể quả báo (A-lại-da-thức) của họ không có sanh diệt. Không có sanh diệt nhưng hiện ra hiện tượng sanh diệt, cho nên có phần đoạn sanh tử, là có sanh có tử, không thể chứng ngộ cảnh giới vô sanh vô diệt, bất sanh bất diệt, tam thế thường trụ.
 
Phật A-di-đà vượt hẳn chư Phật
 
Bản thân Phật A-di-đà dùng vô lượng trong Vô lượng thọ và Vô lượng quang, để bao hàm tất cả
__________________________
1 Phần đoạn sanh tử 分段生死 Đl: Biến dịch sanh tử. Cg: Phần đoạn tử, Hữu vi sanh tử. Sự sanh tử của chúng sanh trong ba cõi, một trong ba thứ sanh tử. Do quả báo sanh tử mà chúng sanh trong ba cõi chiêu cảm thân tướng và thọ mạng dài ngắn khác nhau nên gọi là Phần đoạn sanh tử.
vô lượng. Chư Phật đều có Vô lượng đức, Vô lượng đức này, Phật A-di-đà dùng Vô lượng thọ và Vô lượng quang bao hàm hết trong đó.
 
Đồng thời, điều mà chư Phật có thì Đức Phật A-di-đà đều có; nhưng điều mà Phật A-di-đà có chưa chắc chư Phật khác đã có. Thí như nói: Cứu độ chúng sanh trong mười phương khiến cho chúng sanh trong mười phương vãng sanh bình đẳng thành Phật, chư Phật trong mười phương không có điều này, chỉ có Đức Phật A-di-đà mới có mà thôi.
 
Bởi thế, để trở thành chư Phật khác thì rất dễ dàng, nhưng để trở thành Đức Phật A-di-đà thì rất khó khăn. Cho nên, Phật A-di-đà thành Phật phải trải qua năm kiếp tư duy, nhiều kiếp lâu xa tích lũy vun bồi vô lượng đức hạnh của Bồ-tát để thành tựu, đạo lý này nằm ngay nơi đây.
 
Thánh chúng Cực Lạc
 
Đồng thời, chúng Thanh văn, A-la-hán1 và chúng Bồ-tát vãng sanh về thế giới Cực Lạc nhiều
______________________
1 A-la-hán 阿羅漢 Hd: Ứng, Ứng cúng, Ứng chân, Sát tặc, Bất sanh, Vô sanh, Vô học, Chân nhân. Cg: A-lô-hán, A-la-ha, A-lê-ha, Át-la-hạt-đế. Gt: La-hán, La-ha. Bậc thánh đã đoạn hết kiến hoặc, tư hoặc trong 3 cõi, chứng được Tận trí, xứng đáng nhận tất cả sự cúng dường của thế gian; quả cuối cùng trong 4 quả thanh-văn, 1 trong 10 đức hiệu của Như Lai.
vô lượng vô biên A-tăng-kỳ1, không đếm được, không tính được. Điều này cho thấy, thế giới Cực Lạc là cảnh giới của bậc thánh nhân, không có người ác, không có người có thể làm cho chúng ta nhiễm theo thói xấu.
 
Tuy thế giới Cực Lạc có tên gọi A-la -hán và Bồ-tát, ấy là để chúng ta dễ hiểu, mới nói có A-la -hán, Bồ -tát. Kỳ thật, thánh chúng ở thế giới Cực Lạc đều được Vô lượng thọ, Vô lượng quang giống với Đức Phật A -di-đà. Đấy chẳng phải mọi người ở thế giới Cực Lạc đều có công đức bằng Phật sao? Tại sao Phật A-di-đà mới xưng là Phật, những chúng khác không gọi là Phật? Bởi vì mỗi thế giới chỉ có một Đức Phật, thánh chúng khác chỉ có thể hiện thân Bồ-tát đến để trang nghiêm thế giới Cực Lạc. Vì thế, nói chúng sanh vãng sanh về thế giới Cực Lạc đều là Bồ-tát nhất sanh bổ xứ2, hơn nữa hàng Bồ-tát nhất sanh bổ xứ này
___________________
1 A-tăng-kỳ 阿僧祇 Hd: Bất khả toán kế, Vô lượng số, Vô ương số. Cg: A-tăng-già, A-tăng-xí-da, A-tăng, Tăng-kì. Một đơn vị số lượng của Ấn Độ, là số cực lớn chẳng có thể đếm được. Theo cách đọc thì một A-tăng-kì có một nghìn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn triệu, tức là 10 lũy thừa 47.
2 Nhất sanh bổ xứ 一生補處 Cg: Nhất sanh sở hệ. Gt: Bổ xứ. Người còn bị sanh tử lần cuối cùng, nghĩa là sau đời hiện tại này sẽ được thành tựu Phật quả tại nhân gian. ‘Bổ xứ’ nhằm chỉ cho địa vị Bồ-tát tối cao là Bồ-tát Đẳng giác, như trường hợp của Bồ-tát Di-lặc.
nhiều vô lượng vô biên A-tăng-kỳ. Bởi vì chúng sanh vãng sanh nhiều thì đương nhiên số Bồ-tát nhất sanh bổ xứ dĩ nhiên cũng nhiều, vãng sanh nhiều bao nhiêu thì Bồ-tát nhất sanh bổ xứ cũng nhiều bấy nhiêu, mỗi người đều là Bồ-tát nhất sanh bổ xứ.
 
Đã là Bồ-tát nhất sanh bổ xứ thì thể hiện tư cách họ có đức hạnh và tài năng của Phật, nhưng không có được vị trí đó mà thôi.
 
Kinh A-di-đà giới thiệu ngắn gọn về Y báo và Chánh báo của thế giới Cực Lạc như vậy.
 
2. Chỉ bày phương pháp vãng sanh
 
Thế giới Cực Lạc đã thù thắng, trang nghiêm, tuyệt diệu, an lạc như vậy, không có người nào nghe đến mà không muốn vãng sanh cả, ai ai cũng muốn vãng sanh. Vậy thì, người muốn vãng sanh, vấn đề đặt ra là làm thế nào mới có thể vãng sanh?
 
Trước hết nói về thiểu thiện căn không được vãng sanh
 
Về việc làm thế nào mới có thể vãng sanh, dù mọi người luôn bị phiền não làm chướng ngại, thì kinh A-di-đà đã dạy chúng ta rất rõ ràng, đơn giản và ngắn gọn:
 
Không thể đem chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi nước kia.
Ý nói: Trong tám tông phái và tám vạn bốn nghìn pháp môn mà hạng phàm phu chúng ta đã tu tập ở thế giới Ta-bà này, bất luận bạn tu tập theo tông phái nào hay pháp môn nào, chỉ nương vào sức của mình mà tu tập đều là ít thiện căn, ít phước đức, nên không thể vãng sanh.
 
Vì thế, chẳng phải dựa vào công đức tu tập của chúng ta để cầu vãng sanh, không phải như thế! Thế thì nương vào đâu? Câu dưới đây sẽ giải đáp.
 
Kế đến dạy về trì danh được vãng sanh
 
Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
 
Nếu có người thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe nói Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày… nhất tâm bất loạn.
 
Đây chính là phương pháp vãng sanh.
 
Nhưng có người xem đoạn văn này thường hiểu sai ý nghĩa, như vậy thì dù cho Phật Thích-ca-mâu-ni nói rất rõ ràng, cũng giống không nói, chúng ta xem lại nhiều lần mà cũng như không.
 
Tại sao gọi là ‘nghe nói Phật A-di-đà’?
 
‘Văn’ (nghe) có hai tầng bậc:
 
Tầng bậc thứ nhất là dùng lỗ tai của chúng ta,
hoặc là dùng mắt của chúng ta để tiếp nhận giáo lý này nên gọi là nghe. Thí như nói dùng lỗ tai của chúng ta nghe pháp sư giảng hoặc nghe băng ghi âm về giáo pháp này, đó chính là nghe; chúng ta không chỉ dùng lỗ tai nghe, mà mắt xem kinh sách và giáo lý của pháp môn này cũng gọi là nghe.
 
‘Văn’, nghe gì? Là nghe mọi người nói về Đức Phật A-di-đà, bốn chữ ‘A-di-đà Phật’ đó, không chỉ nghe họ nói về bốn chữ này, mà còn nghe nói về nguyên lý của bốn chữ này. Nghe nói về nguồn gốc sự sanh khởi và ngọn nguồn của Phật A -di-đà, tại sao biết có bốn chữ này, tại sao biết có sự tồn tại của Phật A-di-đà, Ngài tại sao tồn tại, mục đích tồn tại là gì, sự tồn tại của Ngài và chúng ta có liên quan gì, nghe những điều này gọi là nghe.
 
‘Thính văn’, hoặc có người chỉ hiểu trên quan niệm, chứ chưa thật sự đi vào nội tâm. Vì thế, ‘nghe’ của tầng bậc thứ hai là sự từ bi của Phật A-di-đà chảy vào nội tâm, phá đi tâm hoài nghi lâu dài của chúng ta từ trước đến nay, đây chính là nghe, nghe như thế mới là nghe thật sự.
 
Loại nghe thứ nhất là thiển cận, nhãn căn xem sách, nhĩ căn nghe giảng, sáu căn đối với sáu trần mà sanh ra sáu thức.
 
Loại nghe thứ hai cũng có thể nói là vào sâu trong nội tâm tức là huân tập vào thức thứ tám
A-lại-da, trở thành chủng tử vĩnh hằng bất biến của chúng ta, phá vỡ nghi tình, nghi tâm, nhị tâm tồn tại trong A-lại-da thức. Cái gọi là ‘nghi tình’, ‘nghi tâm’, ‘nhị tâm’, ‘tự lực’, danh từ tuy có khác nhau nhưng ý nghĩa đều giống nhau. Loại nghe thứ hai là văn chân chính, loại nghe này chính là tín.
 
Vì thế, đoạn văn này có ý nghĩa và văn tự cũng giống với câu “nghe danh hiệu Phật, tín tâm hoan hỷ” được nói trong văn Thành tựu nguyện thứ 18 của kinh Vô Lượng Thọ. ‘Nghe nói Phật A-di-đà’ chính là ‘nghe danh hiệu Phật’; ‘chấp trì danh hiệu’ chính là ‘tín tâm hoan hỷ’.
 
Tại sao gọi là ‘chấp trì danh hiệu’?
 
Lòng từ bi của Phật A-di-đà khiến cho chúng ta thật sự thể ngộ trạng thái này trong tâm, chính là ‘chấp trì danh hiệu’. Nghe nói Phật A-di-đà, danh hiệu của Phật A-di-đà rồi tiếp nhận nơi tâm, đó chính là ‘chấp trì danh hiệu’.
 
‘Chấp trì’ này, nếu đồ đạc thì chúng ta phải dùng tay để cầm (cho nên ‘chấp trì’ có bộ thủ một bên), nhưng Phật A-di-đà là không hình, không tướng, không màu sắc, mắt nhìn không thấy, tai nghe không được, tay cầm không được, giống như vậy thì chúng ta phải dùng tâm để lãnh thọ.
 
Lúc dùng tâm để lãnh thọ, mới có thể biết chúng ta luôn luôn thấy Phật A-di-đà, nghe đến

Phật A -di-đà, nhưng từ trước tới nay đều nhìn mà không thấy, nghe mà không nghe (từ nay mới hiểu được, Phật A -di-đà từ mười kiếp đến nay đều kêu gọi chúng ta, đều phóng quang chấn động nơi cửa sáu căn của chúng ta, nhưng chúng ta đều không hay biết), mê muội không ngộ, nghi ngờ không tin, cho nên trong kinh điển nói loại người này là ‘người không mắt’, ‘người không tai’. Từ xưa đến nay, trong mười kiếp chúng ta đều là người không có mắt, không có tai.
 
Vì thế, chân chính ‘nghe nói Phật A -di-đà, chấp trì danh hiệu’, chính là tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà; tin nhận sự cứu độ của Phật A -di-đà chính là ‘chấp trì danh hiệu’, chính là ‘nghe nói Phật A-di-đà’.
 
Lòng từ bi của Phật A -di-đà muốn chủ động, bình đẳng, vô phân biệt cứu độ chúng ta, cảm động đến nội tâm của chúng ta, ngay lập tức sự hoài nghi nơi tâm chúng ta được tiêu trừ, thay đổi 180 độ, tâm hoài nghi trở thành tín tâm và trở thành tâm từ bi của Phật A-di-đà, đấy gọi là ‘chấp trì danh hiệu’.
 
Tại sao gọi là ‘nhất tâm bất loạn’?
 
Trong tâm của chúng ta tiếp nhận danh hiệu nơi tâm rồi chấp trì danh hiệu, loại trạng thái tâm lý này suốt đời đều không thể mất, đến tận lúc lâm
chung. Vì thế, kinh A-di-đà nói: Hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, rồi sau đó cần phải hành trì hoặc một năm, hoặc bảy năm, hoặc bảy mươi năm, hoặc suốt cả đời, tâm này không còn động loạn, không còn biến đổi nữa, thì gọi là ‘nhất tâm bất loạn’.
 
Tiếp nhận lòng từ bi của Phật A- di-đà nơi nội tâm, dù cho mọi người nói ‘pháp môn này hay, pháp môn đó cao siêu vi diệu, thì ngay lập tức phải có điều linh nghiệm nào đó chứ!’, bạn sẽ không thấy lạ lẫm, bởi vì bạn lãnh hội được lòng từ bi của Phật A-di-đà, tuy có rất nhiều chư Phật trong vũ trụ, không thiếu các pháp môn, nhưng chỉ có pháp của Phật A-di-đà mới là thật sự có thể cứu độ bản thân mình, là sinh mạng của mình, là pháp môn cần thiết nhất của mình. Bạn sẽ không vì người ta nói điều gì mà trở nên hỗn loạn, nghi ngờ, rồi muốn đi học hỏi. Vì thế, ‘nhất tâm bất loạn’ có nghĩa là tín tâm không bị loạn động.
 
Phiền não của mình khởi, không nên nghĩ mà cứ nghĩ, không nên nói mà cứ nói, không nên làm mà cứ làm, phiền não khởi lên, ‘Hỏng bét rồi, tâm như thế này làm sao vãng sanh? Phật A-di-đà làm thế nào có thể cứu độ ta?’, không nên có suy nghĩ như vậy, thì mới không bị phiền
não trong tâm khuấy động. Hiểu rằng: ‘Sự tồn tại của Phật A-di- đà vốn là muốn cứu độ hạng chúng sanh chúng ta, hạng chúng sanh chúng ta có ý niệm này, thì Phật A-di-đà vốn đã biết, cũng bởi vì biết nên mới muốn cứu độ, chúng ta tâm niệm như thế cũng là điều hiển nhiên của hạng phàm phu mà thôi’. Bởi thế, đừng vì tâm tưởng này mà sanh nghi ngờ sự cứu độ của Phật A-di-đà, có nghi ngờ thì không thể ‘nhất tâm bất loạn’, có loạn thì có tâm nghi ngờ.
 
Có điều, hạng chúng sanh phiền não như chúng ta đây khi khởi các niệm không nên khởi (tức là niệm ác), thì trong tâm đừng bao giờ dương dương tự đắc, kiêu mạn nói với mọi người rằng: “Bởi có Phật A -di-đà cứu độ nên chúng ta có thể mặc sức muốn làm gì thì làm”. Tuyệt đối không nên! Ngược lại, phải có tâm hổ thẹn, tâm cảm ơn, tâm dịu dàng. Bởi vì chúng ta học Phật nhất định phải biết thiện có thiện báo, ác có ác báo, cần phải bỏ ác tu thiện, không làm các điều ác, nên làm các việc lành. Nhưng, quán xét bản thân, có tâm làm thiện nhưng lại không có sức làm điều thiện, có tâm tu hành mà sức chẳng đủ. Được rồi, vấn đề đặt ra trước mắt: Sanh tử là việc lớn, vô thường đến rất mau, nếu như hơi thở hiện tại dứt mất, chẳng phải làm lỡ việc lớn này mà lại rơi vào địa ngục đấy sao!
An ổn cuối cùng, chỗ dựa ổn định nhất
 
Đại sư Thiện Đạo lấy ‘nhị hà bạch đạo’ để hình dung nội tâm mỗi vị của chúng ta. Nội tâm của mỗi người chúng ta đây đều là hiện tượng giữa hai dòng sông nước và lửa. Nước thì cuộn trào dữ dội; lửa thì đốt cháy mãnh liệt, tham sân si của chúng ta cũng giống như vậy. Có thể không bị nước và lửa làm ảnh hưởng, lôi kéo, chính là sự cứu độ của Phật A-di-đà. Nội tâm của chúng ta đã nghe được lời kêu gọi của Phật A-di-đà, nghe đến tiếng bảo chứng cứu độ của Phật A -di-đà, chảy vào trong tâm, chúng ta sẽ không bị hoảng sợ bởi sông nước và sông lửa này. Nếu như không có sự cứu độ của Phật A-di-đà, không có sự bảo chứng của Phật A -di-đà, thì chúng ta lúc nào cũng hoảng sợ bất an, thường phải sám hối, lại luôn phạm lỗi, phạm rồi lại sám hối, sám hối rồi lại phạm, đến cuối cùng cũng đành chịu, không biết phải làm như thế nào. Tôi nghĩ, người tu hành đều có trải qua lộ trình tâm này.
 
Bởi thế, Phật A-di-đà là chỗ dựa an ổn nhất, chỗ an ủi sau cùng của chúng ta. Phật A-di-đà giống như hai cây gậy để chúng ta chống đi; Phật A-di-đà giống như người thị giả, ở bên cạnh hầu hạ chúng ta, trông nom chúng ta; Phật A -di-đà giống như một chiếc thuyền đưa chúng ta từ bờ bên này sang bờ kia; Phật A-di-đà giống như ánh
 
sáng trong bóng tối, chiếu sáng tương lai của chúng ta; giống như kim chỉ nam giữa ngã tư đường, chỉ dẫn phương hướng cho chúng ta, giống như một thanh bảo kiếm chặt đứt sự nghi ngờ lầm lẫn của chúng ta; giống như vị tướng lĩnh dõng mãnh phá trừ quả báo địa ngục trong tâm của chúng ta. Vì thế, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni mới nói phải ‘nghe nói Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu’, đây là nhân của sự vãng sanh.
 
Tại sao là ‘ít thiện căn, ít phước đức’?
 
Nếu như đem những gì chúng ta tu tập như vạn hạnh điều thiện và tam học1, lục độ2… so với công đức danh hiệu Phật A-di-đà đấy chính là ít thiện căn, ít phước đức.
 
So sánh người với người, có người tu hành cao, có người tu hành thấp, người có công đức, người không có công đức, nhưng nếu so sánh những điều này với danh hiệu của Phật A-di-đà thì chẳng có gì đáng nói cả.
 
Thí như ở trong căn phòng tối tăm, nếu như chúng ta thắp lên một cây đèn cầy thì cảm thấy
______________
1 Tam Học 三學 Cg: Tam thắng học. Gđ: Giới định tuệ tam học. Ba môn giới, định, tuệ mà người học Phật phải tu.
2 Lục độ 六度: Sáu phương tiện tu của hàng Bồ-tát từ bờ mê qua bờ giác, đó là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
sáng sủa; nhưng hiện tại có đèn tuýp, chỉ cần bật đèn lên, thì ánh sáng của đèn cầy liền biến mất; nhưng so với ánh sáng mặt trời thì ánh sáng của đèn tuýp chẳng là gì cả; ánh sáng của mặt trời đụng phải Vô lượng quang của Phật A-di-đà, thì ánh sáng của mặt trời sẽ như thế nào?
 
Kinh Vô Lượng Thọ hình dung, nói:
 
Ánh sáng của mặt trời mặt trăng cũng như một đống mực đen.
 
Giống như một đống mực đen vậy, không có ánh sáng, hoàn toàn chẳng phải không có ánh sáng, mà bởi vì ánh sáng của Phật A-di-đà quá sáng, làm cho nó giống như không thấy, ngay lập tức hòa vào trong ánh sáng của Phật A-di-đà.
 
Bởi thế, ‘thiểu thiện căn phước đức nhân duyên’ chính là: Các loại công đức mà chúng ta tích lũy ở thế gian sánh với Phật A-di-đà thì rất ít.
 
‘Nam-mô A-di-đà Phật’ chính là đa thiện căn phước đức, đại thiện căn phước đức, thiện căn phước đức thù thắng, thiện căn phước đức tuyệt đối, thiện căn phước đức viên mãn.
 
Đại sư Thiện Đạo giải thích ‘thiểu thiện căn phước đức nhân duyên’
 
Thế giới Cực Lạc là do danh hiệu của Phật A-di-đà hiển hiện, nếu chúng ta không căn cứ
vào câu danh hiệu này, làm sao có thể tiến vào cõi nước danh hiệu của Ngài được chứ?
 
Bởi vì câu danh hiệu này là Niết-bàn, cõi nước của Ngài cũng là cõi Niết-bàn. Vì thế, Đại sư Thiện Đạo dùng bài kệ để giải thích đoạn kinh văn này trong kinh A-di-đà. Ngài giải thích ‘không thể đem chút chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi nước kia’, đồng thời giải thích câu ‘nghe nói Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu’, giải thích như thế nào?
 
Kệ nói:
 
Cực Lạc là Vô vi, Niết-bàn
Tùy duyên tạp thiện, e khó sanh
Thế nên, Như Lai chọn pháp yếu
Dạy niệm Di-đà chuyên lại chuyên.
 
Cực Lạc là cảnh giới ‘Vô vi, Niết-bàn’
 
Đại sư Thiện Đạo giải thích: Cảnh giới Cực Lạc vô vi là cảnh giới Niết-bàn. ‘Vô vi’ chính là lìa sự tạo tác của người. ‘Niết-bàn’, ‘Niết’ là bất sanh, ‘Bàn’ là bất diệt, bất sanh bất diệt, cũng là ý nghĩa của Vô vi. Có tạo tác thì có sanh diệt, có sanh diệt thì chẳng phải chân lý, bởi vì Niết-bàn tức là bất sanh bất diệt, cho nên gọi là chân lý. Hễ có sanh diệt thì chẳng phải là chân lý. Nếu có món đồ nào đó tồn tại, thì món đồ ấy nhất định là nhân duyên hòa hợp.


 
Vì thế, Niết-bàn vượt hẳn sự tính toán, suy lường của mọi người chúng ta. Cảnh giới Niết-bàn này là không thể suy lường, không thể bàn bạc, không thể gọi tên, không thể nói năng.
 
‘Tùy duyên tạp thiện’ không thể vãng sanh
 
Chúng ta cần phải vãng sanh về cảnh giới không thể suy lường và không thể nói năng này, nếu như dựa vào sức bản thân chúng ta tu tập thì làm sao có thể đến đó được? Nhân quả không khớp với nhau. Những gì chúng ta tu tập, nếu như không phải tam luân thể không1, vậy thì tất cả là hữu lậu2, Đại sư Thiện Đạo gọi đó là ‘tạp thiện, hạnh hư giả’, không thể nói là chân thật.
 
Vậy thì chân thật nằm ở đâu? Bản thân sáu chữ ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ là chân thật.
 
‘Cực Lạc là Vô vi, Niết- bàn, tùy duyên tạp thiện, e khó sanh’: Tại sao gọi là ‘tùy duyên’? Mỗi người tùy theo duyên phận của mình nên gọi là tùy duyên. Thí như nói, học Mật tông3 thì
__________________
1 Tam luân thể không 三輪體空: Thật thể của người bố thí, người nhận thí và vật bố thí đều không.
2 Hữu lậu 有漏: Phiền não sanh ra làm cho người trôi lăn không dừng trong thế giới mê vọng, khó có thể ra khỏi biển khổ sanh tử.
3 Mật tông 密宗 Cg: Chân Ngôn tông, Du-già tông, Kim Cương Đảnh tông, Tì-lô-giá-na tông, Khai Nguyên tông, Bí Mật Thừa.
đem công đức học Mật tông để hồi hướng vãng sanh, đây chính là tùy theo duyên học Mật tông; học Thiền tông1 thì lấy cảnh giới của Thiền tông để hồi hướng vãng sanh; học tông Thiên Thai2 thì lấy Nhất tâm tam quán3 để hồi hướng vãng sanh; học tông Hoa Nghiêm4 thì lấy Nhất niệm
__________________
Tông phái Đại thừa y cứ theo pháp môn Chân Ngôn Đà-la-ni, tu Diệu hạnh ngũ tướng tam mật, để mong cầu ngay nơi thân này thành Phật, 1 trong 13 tông của Trung Quốc, 1 trong 8 tông của Nhật Bản.
1 Thiền tông 禪宗: Tên khác của tông Phật Tâm, tông Đạt-ma, tông Vô Môn. Tông phái tông ngài Bồ-đề Đạt-ma làm Sơ tổ, tham cứu cội nguồn tâm tánh, để được ‘kiến tánh thành Phật’ một trong 13 tông của Trung Quốc. Danh từ này xuất phát từ câu “Phật ngữ tâm vi tông” của kinh Lăng già.
2 Tông Thiên Thai 天台宗 Cg: Tông Pháp Hoa. Tông phái Phật giáo Trung Quốc do ngài Huệ Văn khai sáng, Đại sư Trí Khải hoàn thành việc lập tông. Tông này lấy kinh Pháp hoa làm tông chỉ.
3 Nhất tâm tam quán 一心三觀 Cg: Viên dung tam quán, Bất thứ đệ tam quán, Bất khả tư nghì tam quán. Trong một niệm tâm mà viên tu quán Không, Giả, Trung nhất tâm chỉ cho tâm năng quán. ‘Tam quán’ là Không quán, Giả quán và Trung quán. Biết rõ một tâm niệm vốn bất đắc, bất khả thuyết mà trong Nhất tâm tu cả ba quán: Không, Giả, Trung, nên gọi là Nhất tâm tam quán.
4 Tông Hoa Nghiêm 華嚴宗 Cg: Tông Hiền Thủ, tông Pháp Giới, tông Viên Minh Cụ Đức. Tông Hoa Nghiêm do ngài Đỗ Thuận, căn cứ vào yếu chỉ của kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm sáng lập vào đời Đường, Trung Quốc.
thập pháp giới quán để hồi hướng vãng sanh; học tông Duy Thức1 thì lấy Ngũ trùng Duy Thức quán 2 để hồi hướng vãng sanh. Bạn tùy theo các pháp của mỗi tông mỗi phái mà tu tập, tất cả đều gọi là ‘tạp’, bởi vì các tông đều không giống nhau, cho nên gọi là ‘tạp’, đây gọi là ‘tùy duyên tạp thiện’. Đại sư Thiện Đạo nói muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc Niết-bàn, ‘tùy duyên tạp thiện, e khó sanh’, ‘e’ tức là có nghĩa không thể được, là không thể vãng sanh, bởi vì nhân quả không khớp với nhau.
 
Khuyên chuyên niệm danh hiệu vãng sanh
 
Vậy thì cần phải làm thế nào mới có thể vãng sanh?
 
‘Thế nên, Như Lai chọn pháp yếu’ (pháp quan trọng): Trong kinh A-di-đà, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni khai thị pháp căn bản nhất để chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc, gọi là ‘pháp yếu’, chính là ‘nghe nói Phật A-di-đà, chấp trì danh
___________________
1 Tông Duy Thức 法相宗 Cg: Tông Hữu Tướng, tông Pháp Tướng, Tướng tông, tông Hữu tướng Đại thừa. Tông phái chủ trương cảnh ngoài tâm là không, pháp trong tâm là có, do Đại sư Huyền Trang đời Đường sáng lập, đệ tử Khuy Cơ hoàn thành việc lập tông.
2 Ngũ trùng Duy thức quán 五重唯識觀: Năm lớp quán về 3 tính Duy thức theo thứ tự từ cạn đến sâu, từ thô đến tế do ngài Khuy Cơ, tông Pháp Tướng lập ra.
hiệu’, cũng chính là ‘thế nên, Như Lai chọn pháp yếu, dạy niệm Di-đà chuyên lại chuyên’: Đấy gọi là ‘chuyên’, tức là nhất tâm. ‘Chuyên lại chuyên’: Chuyên lại càng chuyên.
 
Tầng ý nghĩa thứ nhất của ‘chuyên lại chuyên’ là ân trọng dặn dò
 
‘Chuyên lại chuyên’ có ba tầng ý nghĩa.
 
Tầng ý nghĩa thứ nhất là nghĩa ân cần, tức là: Bởi vì việc này rất quan trọng, sợ bạn quên, sợ không hiểu tường tận, cho nên dặn một lần thì không đủ, cần phải dặn lần thứ hai, dặn lần thứ hai không đủ, cần phải dặn lần thứ ba; dặn đi dặn lại nhiều lần rất là ân trọng.
 
Tầng ý nghĩa thứ hai của ‘chuyên lại chuyên’ là bỏ tạp hạnh quy về chánh hạnh
 
Tầng ý nghĩa thứ hai: ‘Chuyên’ này ở trước cho thấy bạn cần phải bỏ đi năm loại tạp hạnh, phải chuyên tu năm loại chánh hạnh, đây gọi là ‘chuyên’. Sau đó, chữ ‘chuyên’ của ‘phục chuyên’ là trong năm loại chánh hạnh muốn bạn phải chuyên nương vào chánh định nghiệp1, chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Bốn loại trợ nghiệp khác chuyên nương vào chánh định nghiệp mà
____________________
1 Chánh định nghiệp 正定業 Cg: Chánh nghiệp, Định nghiệp. Sự chọn lựa chính xác hoặc quyết định pháp môn để tu hành.
triển khai, thực hành, nhưng mục đích không nằm ở chỗ bốn loại trợ nghiệp. Mục đích của bốn loại trợ nghiệp này thành lập là để giúp chúng ta hiểu rõ Nhất hướng chuyên niệm danh hiệu của Phật A-di-đà. Nếu như đã thấu tỏ được rằng phải Nhất hướng chuyên niệm danh hiệu của Phật A-di-đà, thế thì chẳng phải bốn loại trợ nghiệp này đều dung hòa trong việc xưng niệm danh hiệu đấy sao? Bởi thế, chữ ‘chuyên’ ở phía sau, chính là gác lại bốn loại trợ nghiệp, chỉ nương vào danh xưng thuộc chánh định nghiệp.
 
Tại sao nói bốn loại trợ nghiệp dung hòa vào chánh định nghiệp? Chính là nói lúc bình thường chúng ta đều quy định thời khóa tụng kinh của mình, cần phải tụng mấy bộ, cần phải tĩnh tọa quán tưởng thế giới Cực Lạc, đồng thời cần phải bái lạy, cần phải lạy bao nhiêu lạy, đồng thời thường khen ngợi cúng dường, nhưng hiện tại biết nói: ‘Ái dà! Hóa ra chỉ cần xưng niệm sáu chữ danh hiệu, chính là bản nguyện của Phật A-di-đà, là chánh nhân vãng sanh, chẳng thiếu gì cả’. Dù cho chúng ta tụng kinh (đương nhiên vẫn cần phải chuyên tụng ba bộ kinh Tịnh Độ), nhưng ba bộ kinh Tịnh Độ này nói gì? Nói xưng danh niệm Phật ‘cho đến mười niệm’, vậy thì chúng ta sau khi nương vào giáo lý rồi làm theo, đấy đâu phải muốn bỏ ‘cho đến mười niệm’, tức là bỏ nhất tâm xưng danh? Vì thế, ngay lúc tụng
kinh, cũng nhớ nói ‘hãy niệm Phật đi’, mà cũng nhớ niệm Phật. Cũng như lúc quán tưởng, lễ bái, khen ngợi cúng dường, ‘hãy niệm Phật đi?’. Cho nên đều dung hòa trong câu danh hiệu này.
 
Vì thế, ‘chuyên lại chuyên’ có nghĩa loại bỏ tạp hạnh, quy về chánh hạnh, gác lại trợ nghiệp, chuyên tu chánh định nghiệp.
 
Tầng ý nghĩa thứ ba ‘chuyên lại chuyên’: Nhất tâm nhất hạnh
 
Tầng ý nghĩa thứ ba: ‘Chuyên’ ở trước tức là chuyên một hạnh. Xưng niệm ‘Nam -mô A-di-đà Phật’; chuyên ở sau tức là chuyên nhất tâm, một tâm không có hai tâm. Một tâm không có hai tâm này tức là tín tâm không hoài nghi. Xưng niệm câu danh hiệu này, bất luận lúc bình sanh bạn nghe pháp, xưng danh suốt cả đời, hay lúc lâm chung nghe pháp, dưới đến xưng danh mười tiếng, năm tiếng, một tiếng, đều tuyệt đối vãng sanh về thế giới Cực Lạc, loại tín tâm này gọi là ‘chuyên lại chuyên’.
 
Bởi thế, tầng ý nghĩa thứ ba có nghĩa ‘một hạnh và một tâm’.
 
Đồng thời, còn có nghĩa ‘một tâm một hạnh’ nữa. Đó là chữ ‘chuyên’ ở trước chính là tin nhận sự cứu độ của Phật A -di-đà không hoài nghi, trong tâm lãnh thọ sự cứu độ của Phật A-di-đà, sau đó
tức là như Đại sư Thiện Đạo nói:
 
Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
 
Bởi thế, cuối cùng phải chuyên một hạnh. Cuối cùng chuyên một hạnh này, thậm chí là siêu việt tín nghi, mê ngộ, tự lực và tha lực ở trước đã nói, trong mười hai thời, vừa mở miệng ra thì ‘Nam-mô A -di-đà Phật, Nam-mô A-di-đà Phật…’, ở trước gọi là tín nghi, tự lực và tha lực, đều là sơ môn, sơ cơ, giai đoạn đầu tiên, hiện tại trong mười hai thời chỉ là một câu danh hiệu, huống gì tín-nguyện-hạnh, trong sáu chữ danh hiệu đều đầy đủ cả.
 
Vì thế, ‘chuyên lại chuyên’ có nghĩa sâu xa vi diệu như vậy.
 
Đại sư Thiện Đạo là Hóa thân Phật A-di-đà, khai thị pháp môn Tịnh Độ đều có hàm nghĩa trùng trùng vô tận.
 
Đại sư Thiện Đạo giải thích như thế này: “Nghe nói Phật A-di-đà, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày… hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn”, rất phù hợp với nội hàm của nguyện thứ 18.
 
Xưng danh niệm Phật là bản hoài của Phật A-di-đà, là chánh nhân vãng sanh
 
Đại sư Thiện Đạo giải thích:
Hoằng nguyện nhiều môn bốn mươi tám
Đặc biệt niệm Phật rất là thân.

 
Ý nói: Thệ nguyện rộng lớn của Phật A-di-đà phát ra có 48 nguyện, nhưng trong đó, nguyện thứ 18 là gần gũi nhất với bản thân của Phật A-di-đà. Nguyện thứ 18 nói: “Chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi nước Tôi, cho đến mười niệm”, niệm Phật ‘cho đến mười niệm’ này là nguyện thứ 18, thân cận nhất và gần gũi nhất với Đức Phật A-di-đà, là bản hoài của Phật A-di-đà, là chánh nhân vãng sanh về thế giới Cực Lạc, cho nên nói: “Đặc biệt niệm Phật rất là thân”. Trong 48 đại nguyện, chỉ có nguyện thứ 18 là nói về niệm Phật, còn 47 nguyện khác hoàn toàn không nói về niệm Phật ‘cho đến mười niệm’.
 
Đại sư Thiện Đạo lại nói:
 
Chỉ có niệm Phật ánh sáng nhiếp
Nên biết bản nguyện mạnh vô cùng.
 
Chỉ có chúng sanh xưng danh niệm Phật mới nhận được quang minh từ bi của Phật A -di-đà nhiếp hộ, nếu không xưng danh niệm Phật thì sẽ không được ánh sáng nhiếp thủ. Vì thế, nói: “Chỉ có niệm Phật”.
 
‘Chỉ có niệm Phật ánh sáng nhiếp’, tại sao biết được điều này? Bởi vì ‘bản nguyện mạnh vô cùng’, bản nguyện niệm Phật vãng sanh là duyên mạnh mẽ, lớn nhất, có lực nhất.
Điều tôi vừa giảng ở trên là điểm thứ hai của đại ý kinh A-di-đà: Phương pháp vãng sanh.
 
3. Chư Phật trong sáu phương chứng thật
 
Tâm hoài nghi của chúng ta rất nặng, chỉ có lời của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói, có lẽ vẫn không thể tin tưởng, nên hiện tại chư Phật trong mười phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới, ân cần khẩn thiết chứng thật việc này.
 
Đại sư Thiện Đạo giải thích chư Phật chứng thật
 
Trong Quán niệm pháp môn1, Đại sư Thiện Đạo giải thích chư Phật trong sáu phương khen ngợi và chứng minh lời chân thật không hư dối của Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, ngài nói thế này: “Nếu như chúng ta niệm Phật mà không được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, cho thấy chư Phật trong mười phương chứng thật cũng là hư giả; nếu quả thật như vậy thì hiện tại tướng lưỡi của chư Phật trong mười phương đều phải hư nát”.
_________________________
1 Quán niệm pháp môn 觀念法門 Cg: Quán niệm A-di-đà Phật tướng hải tam-muội công đức pháp môn, Quán niệm A-di-đà tập. Tác phẩm 1 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 47. Sách này nói về quán niệm hành tướng các pháp và công đức của Phật A-di-đà. Nội dung chia làm 3 đoạn: Trước nói về hành tướng tam-muội, kế đến nói về công đức của 5 duyên, sau cùng là khuyên người tu hành.
Bởi vì Phật không nói dối, cho nên hiện lưỡi mới có thể trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới, hiện tại Phật đã chứng minh ‘chúng sanh xưng niệm thì chắc chắn được vãng sanh’, nếu là hư dối thì lưỡi này có tồn tại được nữa không?
 
Tội và nghi
 
Suy diễn như vậy, nếu như chúng ta hoài nghi về việc chấp trì danh hiệu ‘chúng sanh niệm Phật thì chắc chắn được vãng sanh’ mà Phật Thích- ca-mâu-ni nói, vậy thì chúng ta không những hoài nghi lời Phật Thích -ca-mâu-ni mà còn hoài nghi thệ nguyện của Phật A-di-đà, đồng thời cũng hoài nghi sự khen ngợi và chứng minh của chư Phật trong mười phương. Như vậy chẳng khác nào coi lưỡi của chư Phật trong mười phương là thứ thối nát. Bởi thế, chúng ta hoài nghi lời Phật Thích- ca-mâu-ni nói, chẳng khác nào tay cầm dao chặt đứt lưỡi của chư Phật trong mười phương.
 
Tín và đức
 
Ngược lại, nếu như chúng ta tin tưởng pháp môn này của Đức Phật Thích-ca- mâu-ni nói, như thế không chỉ tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, mà cũng tin nhận chư Phật trong mười phương ba thời nói. Đã tin tưởng chư Phật trong mười phương ba thời, cũng chính là tin tưởng
/18
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »