Phật A-di- đà một cách chủ động, bình đẳng, vô điều kiện. Đã là kinh điển y cứ chính của pháp môn Tịnh Độ, như vậy thì đại ý hai kinh thảy đều nhất trí, nhất quán, không thể có bất đồng, có sai khác, có mâu thuẫn.
Đại ý và tông chỉ của kinh Quán Vô Lượng Thọ không có gì khác với kinh Vô Lượng Thọ mà tôi đã giảng hôm qua.
Phương thức bất đồng
Chẳng qua là phương thức triển khai của hai bộ kinh này không giống nhau, có kinh từ phương tiện tiến vào, có kinh trực tiếp từ chân thật để xiển dương.
Bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ sử dụng phương thức dẫn dắt khéo léo từ phương tiện tiến vào chân thật.
II. CHÁNH THUYẾT
-
Mười sáu pháp quán nhập vào nguyện niệm Phật thứ 18
Chúng ta biết rằng kinh Quán Vô Lượng Thọ, nói theo kinh văn thì Định thiện1 có 13 pháp quán và
____________________________
1 Định thiện 定善: Định tâm tu thiện, là pháp tu quán Phật tam-muội. Ngài Huệ Viễn, Trí Khải, Cát Tạng đều cho 16 pháp quán trong Quán kinh là Định thiện, nhưng Đại sư Thiện Đạo thì cho 13 pháp quán trước là Định thiện, 3 pháp quán sau là Tán thiện.
Tán thiện1 có tam phước2 và cửu phẩm, chính là 16 pháp quán3. Bề ngoài tuy nói 16 pháp quán, nhưng bản ý của Phật Thích-ca-mâu-ni vẫn không nằm ở 16 pháp quán này, mà truyền thừa pháp niệm Phật ‘cho đến mười niệm’ trong nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà (Chú: Căn cơ lúc bình sanh trên suốt cả đời và căn cơ lúc lâm chung dưới đến mười tiếng).
_____________________
1 Tán thiện 散善: Thiện nghiệp được tu tạo từ tâm tán loạn. Ngài Thiện Đạo thì cho rằng hạnh tam phước, cửu phẩm đều thuộc Tán thiện.
2 Tam phước 三福: Ba thứ tịnh nghiệp mà hành giả tu hành để vãng sanh Tịnh Độ Cực Lạc. Ba loại này là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai.
-
Hiếu dưỡng cha mẹ, vâng kính sư trưởng, lòng từ bi không giết hại chúng sanh, thực hành mười nghiệp lành.
-
Thọ trì tam qui y, vâng giữ các giới mình đã thọ, không phạm oai nghi.
-
Phát tâm bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến khích mọi người tu tập.
3 Mười sáu pháp quán (Thập lục quán 十六觀) Cg: Thập lục quán pháp, Thập lục tưởng quán, Thập lục diệu quán, Thập lục pháp môn, Thập lục chánh pháp. Mười sáu pháp quán ghi trong kinh Quán Vô Lượng Thọ giúp hành giả niệm Phật được vãng sanh Tây Phương, đó là: 1. Quán mặt trời sắp lặn, 2. Quán tưởng nước, 3. Quán tưởng đất, 4. Quán cây báu, 5. Quán ao báu, 6. Quán lầu báu, 7. Quán tòa hoa sen, 8. Quán tượng, 9. Quán chân thân Phật, 10. Quán Bồ-tát Quán Thế Âm, 11. Quán Bồ-tát Đại Thế Chí, 12. Phổ quán, 13. Tạp quán, 14. Thượng bối quán, 15. Trung bối quán, 16. Hạ bối quán.
Bản ý của đức Thích Tôn nằm ở chỗ Trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ
Vì thế, sau khi giảng xong bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ, cuối cùng kết luận và đem phần kết luận này phó chúc cho Tôn giả A-nan để lưu thông ở đời sau, một mạch lưu thông.
Bản ý của Phật Thích-ca-mâu-ni nói trong kinh Quán Vô lượng Thọ là phó chúc một đoạn kinh văn nằm sau cùng, đó là ‘phần Lưu thông’1 trong kinh Quán Vô Lượng Thọ đã nói:
Phật bảo A-nan: Ông hãy thọ trì lời này, thọ trì lời này tức là thọ trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ.
Một thí dụ sâu sắc
Đoạn kinh văn này tuy ngắn gọn, nhưng nội hàm rất sâu sắc. Mỗi bộ kinh đều có nội dung cốt lõi của nó, như vậy thì đoạn văn này có thể nói là cốt lõi của Quán kinh.
Vẽ một con rồng sinh động, rực rỡ, xán lạn, nhưng sau cùng nếu không vẽ mắt thì con rồng này không thật sự sinh động, cho nên vẽ con rồng cuối cùng cần phải vẽ con mắt.
_______________________
1 Phần Lưu thông 流通分: Phần kết của mỗi bộ kinh có ghi lời Đức Phật phó chúc cho đệ tử, truyền bá lưu thông rộng rãi kinh ấy cho đời sau.
Con rồng này dù cho từ nghìn dặm xa xôi đến, nhưng suy cho cùng nó có chỗ trở về, cần phải tìm ra một cái hang để ở yên. Vì thế nói: “Con rồng nghìn dặm đến ắt phải có hang”.
Bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ từ đầu đến cuối, ở trước tuy đã nói về định, nhưng định là cần phải nhập vào tam-muội thiền định, mới có thể quán được thân tướng của Phật A-di-đà và cõi Cực Lạc trang nghiêm; sau đó lại giảng về cửu phẩm, tức là Tán thiện thông thường, không cần phải nhập thiền định, dùng trạng thái tâm lý thông thường để hành thiện tích đức. Tuy nhiên, giảng Định thiện và Tán thiện, nhưng bản ý của Phật Thích-ca-mâu-ni cuối cùng vẫn không lưu thông phần Định thiện và Tán thiện, bản ý của Ngài không nằm ở đây, mà bản ý của Ngài là muốn chúng ta ‘Trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’, thọ trì danh hiệu Phật, tức là dùng khẩu nghiệp, dùng miệng của chúng ta để xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’.
Vì thế, rồng từ nghìn dặm đến trong bộ kinh này, là đoạn kinh văn cuối này.
Có thể nói, xem kinh có kinh nhãn thì giống như con mắt để tiến vào trong kho báu, tùy ý có thể cầm của báu đem ra; nếu như không có mắt thì dù cho tiến vào kho báu cũng không biết được
bảo vật đặt ở nơi nào, kết quả vẫn là về tay không.
Đoạn kinh văn này không chỉ là cốt tủy của Quán kinh, kết tinh và trọng điểm của Quán kinh, mà cũng là phương châm, tông chỉ của pháp môn Tịnh Độ, là đôi mắt và hai chân của pháp môn Tịnh Độ.
Có được đoạn kinh văn này, mắt của chúng ta mới sáng ra, chúng ta biết được mục tiêu, hiểu được phương pháp. Bởi thế, đối với chúng ta mà nói thì đoạn kinh văn này rất quan trọng. Đoạn kinh văn này và lời nguyện căn bản, nguyện vương trong 48 nguyện của kinh Vô Lượng Thọ, là nhất trí với câu ‘cho đến mười niệm’ của nguyện thứ 18 (Chú: Căn cơ lúc bình sanh là trên suốt một đời, căn cơ lúc lâm chung là dưới đến mười tiếng).
Bản ý của Quán kinh: Phương tiện dẫn vào xưng danh niệm Phật
Đoạn kinh văn này dường như Đức Phật Thích-ca-mâu-ni bảo chúng ta rằng: Phần đầu đã giảng về 16 pháp quán, chẳng phải là bản hoài của Phật mà là phương tiện. Dẫn dắt chúng sanh của Thánh Đạo môn, tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, đây mới là mục đích của Phật Thích-ca-mâu-ni, nói 16 pháp quán.
Mục đích của 16 pháp quán chẳng phải để chúng sanh quán về Y Chánh trang nghiêm ở
thế giới Cực Lạc, mà muốn chúng sanh hiểu rõ về Y Chánh trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, sanh tâm mong muốn vãng sanh Cực Lạc, sau đó Nhất hướng xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, đây chính là bản ý của Phật Thích-ca-mâu-ni tuyên nói Quán kinh. Bởi vì, điều mà Đức Phật Thích-ca-mâu-ni muốn nhấn mạnh và phó chúc trong kinh này là muốn chúng ta nương theo giáo pháp mà thực hành, đấy là ‘Trì danh hiệu Phật Vô Lượng thọ’.
Có bốn cách niệm Phật nhưng Trì danh là tối thắng
Chúng ta biết rằng, niệm Phật có bốn cách niệm, thông thường cho rằng cảnh giới cao nhất là Thật tướng niệm Phật, kế đến là Quán tưởng niệm Phật, thứ nữa là Quán tượng niệm Phật, sau cùng là Xưng danh niệm Phật.
Đây là phân tích theo giáo lý của Thánh Đạo môn, nếu nói theo Tịnh Độ môn thì sự phân tích này là sai lầm, trái nhau.
Thật sự cảnh giới cao nhất lại là dễ nhất, đơn giản nhất, an toàn nhất, mỗi người đều có thể thực hành được, chính là Trì danh niệm Phật. Vừa không Quán tượng, Quán tưởng, lại cũng chẳng phải Thật tướng niệm Phật, đúng là trái ngược nhau.
Bởi vì như bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ này, nếu như bản ý của Phật Thích-ca-mâu-ni là để dạy chúng sanh tu 13 pháp quán về Định thiện, nhập định tiến vào tam-muội thiền định, quán tưởng thân Phật, quán tưởng thế giới Cực Lạc, như vậy thì ‘phần Lưu thông’ chẳng cần nói ‘Trì danh hiệu Phật Vô Lượng thọ’, mà phải nói: Quán thân Phật Vô Lượng Thọ. Nhưng Phật Thích-ca-mâu-ni không nói ‘Quán thân Phật Vô Lượng Thọ’, mà nói ‘Trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’, ý nghĩa rất rõ ràng, giảng giải ở đoạn trước là phương tiện dẫn dắt.
Quyền thật phế lập
Vì thế, bộ kinh này nếu nói theo tuần tự triển khai cho đến phần Lưu thông sau cùng thì có nghĩa phế và lập.
Tại sao gọi là phế, tại sao gọi là lập? ‘Phế’ là cần phải bỏ, ‘lập’ là cần phải phụng hành.
Phế ở chỗ nào, lập ở chỗ nào? Nếu như căn cứ theo các vị Đại đức thời xưa dùng ba phương pháp để giải thích quá trình phế và lập, chính là ‘vì thật bày quyền’, ‘mở quyền hiển thật’ ‘bỏ quyền lập thật’.
1. ‘Vì thật bày quyền’ : ‘Thật’ là chân thật, ‘quyền’ là phương tiện. Vì pháp môn chân thật mà kiến lập, triển khai, tuyên nói pháp môn phương tiện.
Đã là pháp môn chân thật thì tại sao không trực tiếp nói pháp môn chân thật? Bởi vì chúng sanh bị tham sân si và vô minh che lấp, nói trực tiếp pháp môn chân thật, mọi người không hiểu, cho nên cần phải trải qua một quá trình.
Ví như muốn đến tầng lầu thứ năm, đây là mục đích của mọi người, nhưng nếu không có tầng một, tầng hai, tầng ba, tầng bốn thì mọi người không lên tầng năm được.
Cũng như vậy, Phật tánh chân thật của chúng ta bị che lấp không thể lập tức hiển lộ, cho nên cần phải có trình tự, có bậc thang để chúng ta bước lên. Trình tự và bậc thang là phương tiện.
Để hiểu được chân thật, không dễ dàng chút nào, cho nên vì ‘thật’ mà phải bày ‘quyền’.
-
‘Mở quyền hiển thật’: ‘Quyền’ là phương tiện, đã là phương tiện thì phải nói, trong phương tiện cần phải hiển hiện chân thật, nếu như không hiển hiện chân thật thì vẫn ở trong phương tiện, không hiểu được chân thật, không biết được thì làm sao để tiến vào chân thật, cho nên nói ‘mở quyền hiển thật’.
-
‘Bỏ quyền lập thật’: Đã tiếp cận chân thật, thế thì phải vứt bỏ phương tiện để hoàn toàn đi vào chân thật.
Ví như chúng ta từ bờ này đến bờ kia phải ngồi trên thuyền, lúc chưa đến thì đương nhiên phải nương vào chiếc thuyền; nhưng một khi đã tiếp cận được bờ kia rồi thì cần phải bỏ thuyền để lên bờ, không thể lưu luyến ở mãi trên thuyền, ở luôn trên thuyền chứ không lên bờ kia (vậy thì sẽ không thể đến đích được), cho nên cuối cùng phải ‘bỏ quyền lập thật’.
Thí dụ hoa sen vi diệu
Người niệm Phật chính là ‘người rất tốt’, ‘diệu’ chỉ cho hoa sen đẹp, cho nên pháp môn Tịnh Độ được gọi là ‘Liên tông’, người niệm Phật được gọi là ‘Liên hữu’.
Sở dĩ chúng ta niệm Phật, có tín tâm, vãng sanh về thế giới Cực Lạc, là đều nương vào sự từ bi cứu độ của Phật A-di-đà. Sự cứu độ của Phật A-di-đà giống như đóa hoa sen, khiến cho chúng ta khai mở hoa sen tín tâm, vãng sanh trong hoa sen, từ hoa sen hóa sanh. Vì thế, kinh Quán Vô Lượng Thọ khen ngợi rằng: “Người niệm Phật chính là đóa hoa sen đẹp”.
Quá trình phát triển đóa hoa sen đẹp này giống với ba giai đoạn trước. Vì thế, có ba giai đoạn: ‘Vì cây sen nên có hoa sen’, ‘hoa nở thì sen hiện’, ‘hoa rụng thì sen thành’.
‘Vì cây sen nên có hoa sen’: Chính là nói để có
được hạt sen mà chúng bồi dưỡng đóa hoa sen này.
‘Hoa nở sen hiện’: Trong lúc hoa sen nở thì bên trong là có hạt sen. Nếu như hoa nở mà không có hạt sen, thì chỉ là đồ trang sức mà thôi, không có được bảo vật hạt sen.
‘Hoa rụng thì sen thành’: Cánh hoa sen rụng, chỉ có hạt sen hiện ra trước mắt, hạt sen là mục đích. Vì thế, đến sau cùng chính là cần phải lấy hạt sen làm đối tượng chủ yếu, bởi vậy có tướng bỏ quyền lập thật, hoa rụng thì sen thành.
Làm thế nào để nắm lấy toàn bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ
‘Văn Lưu thông’ trong Quán kinh nói:
Phật bảo A-nan: Ông hãy thọ trì lời này, thọ trì lời này tức là thọ trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ.
Cũng chính là chỗ hoa rụng thì sen thành, bỏ quyền lập thật.
Cả bộ Quán kinh này, bất luận nghĩa lý sâu xa như thế nào thì chúng ta càng ngu si nhiều thế đó, không thể hiểu rõ giáo lý sâu xa như vậy, nhưng chúng ta nếu như nắm vững được lời Phật Thích-ca-mâu-ni phó chúc cho ngài A -nan, mà y giáo phụng hành thì chúng ta sẽ nắm vững cả bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Trái lại, dù cho Định thiện và Tán thiện có 16 pháp quán từ đầu đến cuối đều rất thấu triệt, cũng có thể giảng, thậm chí cũng có thể quán tưởng, nhưng lại coi thường lời phó chúc cuối cùng của Đức Phật Thích- ca-mâu- ni dặn dò trong đoạn kinh văn này. Như thế, có thể nói giống như không xem qua bộ Quán kinh , không biết Quán kinh. Bởi vì tông chỉ không rõ ràng, cốt tủy không biết, chỗ chân thật không thể tiếp nhận được, cái tiếp nhận chỉ là phương tiện, cũng như còn ở nửa đường.
Có thể thấy, hiểu được đoạn văn này thì quan trọng biết bao!
Ba bộ kinh đều nói Trì danh niệm Phật
‘Ông hãy thọ trì lời này’: Từ ‘hãy’ này có sự hàm ý tôn trọng, cung kính, không khinh mạn, hàm ý chuyên tâm nhất ý, không hai, vô ngã, không xen tạp, không gián đoạn, cho nên nói ông ‘hãy thọ trì’.
‘Ông hãy thọ trì lời này’: Ông hãy thọ trì câu nói này. Câu nói này là câu nói nào? Đó chính là câu nói ‘Trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’, chính là câu nói này. Trì danh là Trì danh niệm Phật, Trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ, chính là xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, và ‘cho đến mười niệm’ trong nguyện thứ 18 là nhất trí,
đồng thời cũng nhất trí với câu ‘nghe nói Phật A-di- đà, chấp trì danh hiệu’ trong kinh A- di-đà, hoặc một ngày, hoặc bảy ngày, hoặc bảy năm, hoặc bảy mươi năm, hoặc suốt cả đời đều chấp trì danh hiệu.
Ở đây, tôi giảng câu ‘Trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’, là ‘nghe nói Phật A-di-đà rồi chấp trì danh hiệu’ trong kinh A-di-đà nói, không chỉ là nhất trí trên văn tự mà nội dung cũng phải nhất trí. Vì thế, đoạn văn này rất quan trọng.
Lấy Đại sư Thiện Đạo làm tiêu chuẩn
Đọc kinh Quán Vô Lượng Thọ, chúng ta không thể dùng tư tưởng của mình để giải thích kinh, cần phải có sự truyền thừa của Tổ sư. Từ xưa đến nay, Đại sư Thiện Đạo là vị thầy đáng tôn kính giải thích kinh Quán Vô Lượng Thọ. Quán kinh tứ thiếp sớ1 của Đại sư Thiện Đạo soạn là giải thích tiêu chuẩn của kinh Quán Vô Lượng Thọ, bất luận giải
_________________________
1 Quán kinh tứ thiếp sớ 觀經四帖疏 Gđ: Quán Vô Lượng Thọ kinh sớ. Cg: Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh sớ, Quán kinh ngự thư, Quán kinh ngự sớ, Quán kinh nghĩa thư, Quán sớ nghĩa, Quán kinh yếu nghĩa. Thường gọi: Quán kinh tứ thiếp sớ, Tứ thiếp sớ, 4 quyển, do ngài Thiện Đạo soạn vào đời Đường, Trung Quốc, được xếp vào Đại chánh tạng, tập 37. Đây là sách chú thích kinh Quán Vô Lượng Thọ. Nội dung giải thích yếu nghĩa của tín ngưỡng tha lực, có thể nói đây là tư tưởng của ngài Thiện Đạo.
thích nào đối với kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng đều không thể không nhất trí với Tứ thiếp sớ của Đại sư Thiện Đạo soạn.
Đại sư Thiện Đạo là Đức Phật A-di-đà thị hiện, cho nên lời nói của Đại sư Thiện Đạo giống với lời của Phật nói. Vì thế, Quán kinh tứ thiếp sớ được quý kính như kinh điển của Phật Thích-ca-mâu-ni nói, không được thêm cũng không được bớt.
Đại sư Thiện Đạo nói như thế nào, thì cần phải hiểu và làm theo như thế đó.
Hai môn Định thiện và Tán thiện nhập vào Nhất hướng chuyên xưng
Như vậy thì Đại sư Thiện Đạo giải thích thế nào?
Ngài nói: “Ở trên tôi tuy nói sự lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện, nhưng căn cứ theo bản nguyện của Phật A-di-đà thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải Nhất hướng chuyên xưng”.
Đoạn văn này rất ngắn, ý nghĩa rất rõ ràng, chắc như đinh đóng cột.
Trong đoạn văn này Đại sư Thiện Đạo nói:
“Ở trên tôi tuy nói sự lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện”: ‘Ở trên’ chính là đằng trước, 13 pháp quán về Định thiện ở trước được đức Thích-ca-mâu-ni nói, và tam phước cửu phẩm gọi là ‘Tán thiện’, tổng cộng là 16 pháp quán. ‘Hai
môn Định Thiện và Tán thiện’ này ở trước đã nói, nương vào cách tu tập này thì đều có sự lợi ích, hồi hướng cũng có thể vãng sanh.
Đến đây, không những có sự lợi ích, mà còn là sự lợi ích tuyệt đối, là bản tâm, bản ý, bản hoài của Phật A-di-đà, không nằm ở hai môn Định và Tán này, mà là nằm ở chỗ ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’. Vì thế, Đại sư Thiện Đạo nói: “Nhưng căn cứ theo bản nguyện của Phật A- di-đà, thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà”. Đằng trước tuy nói về 16 pháp quán của hai môn Định thiện và Tán thiện, nhưng nếu căn cứ theo bản nguyện và nguyện căn bản của Phật A-di-đà thì nguyện Niệm Phật vãng sanh xem ra là tâm của Phật A-di-đà, là chúng sanh cần phải Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà.
Vì thế, ‘nhưng căn cứ theo bản nguyện của Phật A-di-đà’ chính là ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’. Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A -di-đà chính là nguyện căn bản của Phật A-di-đà. Lìa gốc rễ thì nhánh, thân cây, hoa, lá đều sẽ khô héo. Cây có gốc rễ mới có thể sinh trưởng, gốc rễ là nguồn gốc của tất cả việc phát triển và thành tựu của cây.
2. Trong pháp quán về Định thiện nói niệm Phật nhiếp thủ
Trong pháp quán thứ 9 của 13 pháp quán về Định thiện có đoạn kinh văn hiển thị công đức lợi ích ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’.
Tuy 13 pháp quán về Định thiện, đều nói quán tưởng nhập định là dứt bặt mọi tư tưởng phân biệt chuyên chú vào một cảnh để quán tưởng Phật A-di-đà và Y Chánh trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, nhưng bên trong vẫn hiển lộ ra công đức lợi ích xưng danh niệm Phật.
Đoạn văn này là rõ ràng nhất:
Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật không bỏ.
Chỉ có xưng danh mới được tâm quang của Phật A-di-đà nhiếp thủ
Đoạn văn này ban đầu xem như là 13 pháp quán về Định thiện, lợi ích đạt được do nhập thiền định tam-muội quán Phật và quán thế giới Cực Lạc, nhưng đều không phải. Xét từ ‘văn Lưu thông’ mà Phật Thích-ca-mâu-ni phó chúc cho ngài A-nan thì ‘chúng sanh niệm Phật’ thực hành niệm Phật, chẳng phải Quán tưởng niệm Phật, mà là ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, là
Trì danh niệm Phật ‘Trì danh hiệu Phật A-di-đà’. Vì thế, ‘nhiếp thủ không bỏ’ là sự lợi ích có được do xưng danh niệm Phật.
‘Ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật không bỏ’: Ánh sáng của Phật A-di-đà chiếu khắp cả đại vũ trụ, không có nơi nào không chiếu đến, bất luận nơi nào cũng đều có ánh sáng của Ngài. Hiện tại chúng ta ở đây, vẫn được ánh sáng của Ngài chiếu đến.
Đồng thời, không chỉ chiếu khắp mà còn nhiếp thủ, cho nên ở sau nói: “Nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật không bỏ”.
Ánh sáng chiếu khắp và ánh sáng nhiếp thủ có chỗ khác nhau.
Ánh sáng chiếu khắp là tự nhiên, đầy khắp cả vũ trụ, vào sâu đến tận đáy lòng, mục đích là bồi dưỡng chúng ta. Tỉ dụ như hoa quả, cỏ cây hướng về phía mặt trời thì sẽ phát triển tương đối nhanh; nếu như hoa cỏ cây cối không xoay về hướng mặt trời thì phát triển tương đối chậm, nhận được ánh sáng chiếu khắp, thời tiết nhân duyên một khi đầy đủ thì sẽ đơm hoa kết trái.
Vì thế, ‘ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới’ là một loại phương tiện trước khi hoa nở, quả chín, đây là giai đoạn bồi dưỡng và giai đoạn chuẩn bị giáo dục; ‘nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật không
bỏ’, đây là ánh sáng nhiếp thủ. Tuy ánh sáng chiếu khắp nhưng chưa hẳn nhiếp thủ hết chúng sanh, mà chỉ nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật, không những được sự lợi ích của ánh sáng chiếu khắp mà còn được sự lợi ích nhiếp thủ không bỏ.
Tuy mỗi chúng sanh đều được ánh sáng của Phật A-di-đà chiếu khắp, nhưng chỉ có chúng sanh niệm Phật mới có thể được ánh sáng nhiếp thủ không bỏ. Vì thế, ‘chiếu khắp’ và ‘nhiếp thủ’ có những điểm sai khác.
Điều này đều chẳng phải tâm của Phật A-di-đà có sai khác, không bình đẳng, không phải như vậy. Bi tâm của Phật A-di-đà trước sau đều bình đẳng, không sai khác gì cả, chẳng qua là căn cơ của chúng sanh không giống nhau. Cái gọi là không giống nhau, đó là có chúng sanh thiện căn đời trước tương đối sâu dày, nghe nói sự cứu độ của Phật A-di-đà ngay lập tức, hoặc không bao lâu thì có thể tiếp nhận; có những chúng sanh tiếp nhận tương đối chậm, thậm chí không thuộc dạng căn cơ này, chuyển qua tu pháp môn khác, thậm chí ngay cả giáo lý cơ bản của Phật pháp, thiện ác báo ứng, nhân quả ba thời, luân hồi sáu đường cũng đều không tin.
Căn cơ của chúng sanh có sai khác, khiến cho Đức Phật A -di-đà nhiếp thủ chúng sanh cũng đều có trước có sau không giống nhau.
Nói tóm lại, nếu như chúng ta căn cứ theo ‘Trì danh hiệu Vô Lượng Thọ’ và ‘Nhất hướng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà’ như mới vừa nói, thì tự nhiên nhận được sự lợi ích nhiếp thủ không bỏ bởi quang minh của Phật A-di-đà .
Xưng danh thì tương ưng với tâm quang của Phật, cho nên nhiếp thủ không bỏ
Điều này có nguyên lý của nó.
Thông thường mà nói, ánh sáng của Phật có hai loại: Một là thân quang, hai là tâm quang. Thân quang thì giống như ánh sáng chiếu khắp, chiếu khắp mười phương thế giới và cả vũ trụ, nhưng nếu không niệm Phật thì không thể tương ưng với tâm quang của Phật A-di-đà, vĩnh viễn không được tâm quang của Ngài nhiếp thủ, mãi mãi không xa lìa.
‘Nhiếp thủ’ chính là hiện đời đến bảo hộ người ấy, khi lâm chung khiến người ấy đến thế giới của Phật A-di-đà, đây gọi là nhiếp thủ.
Bản thể của Phật A-di-đà là câu danh hiệu sáu chữ ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ này, ngoài câu danh hiệu này ra thì bạn muốn tìm Đức Phật A-di-đà cũng không được. Bởi vì câu danh hiệu này là bản thể của Ngài, là bản thân của Ngài; ngoài bản thân của Ngài ra thì bạn muốn tìm sáu chữ danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ cũng tìm không được. Vì thế, sáu chữ là bản thể của Ngài, bản thể của Ngài tức là sáu chữ này.
Chúng ta xưng niệm sáu chữ này, thì tự nhiên bản thể của Ngài nằm ở ngay nội tâm của chúng ta, thân ngũ ấm, ngu si này của chúng ta cũng nằm ở trong tâm của Phật A-di-đà, cho nên tương ưng với tâm quang của Ngài. Bởi vì sáu chữ danh hiệu này chính là nguyện thứ 18 được thành tựu, hợp với bản hoài độ sanh của Ngài.
Sáu chữ danh hiệu là bản thân của Phật A-di-đà, đồng thời, bản thân của Ngài là cảnh giới Niết-bàn, mà Niết-bàn chính là Cực Lạc, chính là Tịnh Độ. Vì thế, chúng ta xưng niệm câu danh hiệu này thì hiện đời tương ưng với tâm nguyện và tâm quang của Phật A-di-đà, khi lâm chung thì tự nhiên sẽ tiến vào Tịnh Độ Cực Lạc Niết-bàn, cho nên đấy là điều rất tự nhiên, không miễn cưỡng.
Vì thế, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn tự nhiên, xưng niệm danh hiệu thì tự nhiên thọ nhận sự nhiếp thủ của công năng danh hiệu mà tiến vào thế giới danh hiệu.
Chứng đồng Di-đà
Danh hiệu chính là thế giới Cực Lạc, thế giới Cực Lạc chính là danh hiệu. Thế giới Cực Lạc là môi trường của Phật và Bồ-tát đang cư trú, nhưng môi trường của Phật (Y báo) và bản thân của Phật (Chánh báo) là một thể, không có khác nhau. Y báo của thế giới Cực lạc là được Đức Phật A-di-
đà hiển hiện, chúng ta xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật của chính thể, tự nhiên có thể tiến vào Y báo của Phật A-di-đà là cõi nước Vô lượng quang minh, đồng thời chứng ngộ Vô lượng quang minh và Vô lượng thọ mạng giống với Đức Phật A-di-đà.
Đã chứng ngộ được Vô lượng quang minh và Vô lượng thọ mạng giống với Phật A-di-đà, như thế thì 48 đại nguyện của Ngài có công đức không thể nghĩ bàn, chúng ta cũng có thể có, cũng có thể được, và cũng có thể chứng ngộ. Phật A-di-đà muốn bảo chúng ta vãng sanh, không phải ban cho chúng ta hạng thứ, mà ban cho chúng ta công đức vô thượng cao nhất, không khác với Ngài, mà hoàn toàn giống với Phật.
Chúng ta đến thế giới Cực Lạc thì những gì Phật A-di-đà có, chúng ta cũng có, không thiếu gì cả, hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn viên mãn. Chúng ta vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì tự nhiên sẽ đảo giá từ hàng1, giống như Phật A -di-đà, Bồ-tát Quan Âm và Đại Thế Chí đảo giá từ hàng, đến mười phương thế giới để cứu độ chúng sanh.
Vì thế, pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Đại thừa chân chính, không phải pháp môn Tiểu thừa,
____________________
1 Đảo giá từ hàng 倒駕慈航:Chỉ cho Phật, Bồ-tát đã chứng ngộ mà dùng lòng từ bi hồi nhập Ta-bà để cứu độ chúng sanh thoát ly biển khổ sanh tử.
là pháp môn ‘tự lợi chính là lợi tha, lợi tha chính là tự lợi’. Hiện tại chúng ta tuy là thân ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), là chúng sanh ngu si, nội tâm có đầy dẫy tham sân si, bên ngoài chạy theo ngũ dục1, nhưng tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà. Dù thân vẫn là thân tham sân si, nhưng chẳng phải là hạng phàm phu luân hồi, đã là một trong những thánh chúng ở thế giới Cực Lạc rồi.
Pháp môn Tịnh Độ đã dễ lại càng thù thắng
Vì thế, pháp môn Tịnh Độ xưng là ‘Dị hành đạo’2. ‘Dị’ là an dị, giản dị. ‘An dị’ là an toàn, bình an, an ổn, không có sự hiểm trở gian nan nào cả, không có gì không an toàn. ‘Giản dị’ là đơn giản, dễ dàng, không có gì khó khăn.
Có người sẽ cho rằng: Hễ là đơn giản thì chẳng phải rất thù thắng, rất cao minh; nếu như là thù thắng cao minh thì chẳng thể tùy tiện hoàn thành.
Pháp môn Tịnh Độ thì ngược lại: Vừa Dị hành đạo cũng đồng thời là pháp môn thù thắng, là Vô thượng đạo, bởi vì sở đắc là cảnh giới cao nhất, là
_______________________
1 Ngũ dục 五欲 Cg: Ngũ diệu dục, Diệu ngũ dục, Ngũ diệu sắc. Năm thứ ham muốn sanh ra từ nhiễm trước năm trần cảnh: Sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục, xúc dục.
2 Dị hành đạo 易行道: Đạo dễ tu, chỉ cần nương vào bản nguyện tha lực của Phật A-di-đà mà niệm thì nhất định vãng sanh Tịnh Độ, ở cõi kia một đời thành Phật nên gọi là Dị hành đạo.
cảnh giới Phật Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Sau mấy mươi năm ngắn ngủi trôi qua, chúng ta sẽ đến thế giới Cực Lạc thì lập tức chứng ngộ Vô lượng thọ, Vô lượng quang.
Kinh Vô Lượng Thọ nói: Chúng sanh vãng sanh về thế giới Cực Lạc tuổi thọ đồng với Phật A-di-đà, cho nên thọ mạng là Vô lượng; ánh sáng cũng đồng với Phật A-di-đà, cho nên ánh sáng của thân tâm cũng là Vô lượng quang; như vậy thì trí huệ cũng cao minh; thần thông cũng quảng đại, cũng là Vô lượng quang. Có thể nói tất cả đều giống với Phật A-di-đà, đều là ‘thân tự nhiên hư vô, thể vô cực’.
Tuy thế giới Cực Lạc có những tên gọi như Thanh văn, Bồ-tát, nhân, thiên, nhưng kỳ thật nội dung đều giống nhau. Có danh xưng này, chẳng qua là để chúng sanh ở thế giới khác có thói quen kêu tên gọi đó, vì tùy thuận thói quen của chúng sanh ở thế giới khác nên mới nói thiên nhân, Bồ-tát, Thanh văn. Kỳ thật, tuy có tên gọi đó nhưng không có nội dung đó, nội dung thì đều giống nhau.
Điều này chúng ta xem kinh Vô Lượng Thọ thì biết rồi.
Nguyện thứ 12 là nguyện Quang minh vô lượng, kết duyên hướng dẫn vào xưng danh
Tuy mỗi vị Phật đều phát ‘Tứ hoằng thệ nguyện’ cứu độ chúng sanh giống nhau, ‘chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ’ nhưng nếu chúng sanh không có duyên với Phật này thì Đức Phật này muốn độ họ cũng rất khó.
Sự từ bi của Đức Phật A-di-đà và mục đích của Ngài là muốn cứu độ chúng sanh trong mười phương, cho nên trước hết Ngài muốn kết duyên với chúng sanh trong mười phương. Để kết duyên với chúng sanh trong mười phương thì Đức Phật A-di-đà phát ra ‘nguyện Quang minh vô lượng’ trong 48 nguyện, dùng quang minh chiếu khắp mười phương thế giới để kết duyên với chúng sanh trong mười phương thế giới, dẫn dắt họ tiến vào trì ‘danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’.
Nguyện thứ 18 ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’. Vì thế, Phật A-di-đà phát ra ‘nguyện Quang minh vô lượng’:
Nếu Tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, dưới đến không chiếu trăm nghìn ức na-do-tha1 cõi nước chư Phật thì Tôi không thành Chánh giác.
_______________________
1 Na-do-tha 那由他 Cg: Na-dữu-đa, Na-do-đa, Ni-do-đa, Na-thuật. Hd: Triệu, Câu. Danh từ số lượng của Ấn Độ. Theo luận Câu-xá 12 thì 10 A-dữu-đa (cg: A-do-đa) là một đại A-dữu-đa, 10 đại A-dữu-đa là 1 Na-do-tha, cho nên 1 Na-do-tha là 100 A-dữu-đa, 1 A-dữu-đa là 10 ức, cho nên 1 Na-do-tha là 100 A-dữu-đa là 1000 ức. Trong kinh Phật thường dùng từ ngữ Na-do-tha để nói về số lượng cực lớn. Ngoài ra, nếu tính cách thông thường ở Ấn Độ thì A-dữu-đa là 1 vạn, Na-do-tha là 100 vạn.
Nguyện thứ 17 là nguyện Chư Phật xưng danh, lấy thân làm mẫu xưng danh
Đồng thời lại lấy danh hiệu làm nhân, để hướng dẫn chúng sanh tiến vào thế giới Cực Lạc. Để cho mỗi chúng sanh đều có thể nghe câu danh hiệu này, Phật A-di-đà phát ra nguyện thứ 17 ‘nguyện Chư Phật xưng danh’ trong 48 đại nguyện.
Nguyện thứ 17: “Nếu Tôi thành Phật, vô lượng chư Phật trong mười phương thế giới, không ngợi khen xưng danh hiệu Tôi thì Tôi không thành Chánh giác”.
Phật A-di-đà phát nguyện, nếu Tôi thành Phật, thì tự nhiên có thể khiến cho chư Phật trong mười phương ba thời ở khắp mọi nơi, đều xưng dương, hoằng dương, khen ngợi câu danh hiệu ‘Nam -mô A- di-đà Phật’ này. Xưng niệm câu danh hiệu này để làm mô phạm cho chúng sanh, khiến chúng sanh có thể biết được công đức oai thần của câu danh hiệu này không thể nghĩ bàn, giống như chư Phật trong mười phương xưng danh như vậy.
Vì thế, chúng ta xem nguyện thứ 17 là ‘nguyện Chư Phật xưng danh’, chư Phật trong mười phương đều xưng niệm danh hiệu Phật A -di-đà. Chư Phật trong mười phương xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà mục đích là tự Ngài làm gương để hướng
dẫn chúng ta, xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ giống với các Ngài.
Nguyện thứ 18 là nguyện Niệm Phật vãng sanh, tuyển chọn xưng danh niệm Phật
Sau nguyện 17 là nguyện thứ 18, nguyện thứ 18 là: Khiến cho chúng sanh sau khi nghe vô lượng chư Phật xưng danh, cũng xưng danh giống với vô lượng chư Phật.
Sự từ bi cứu độ ‘cho đến mười niệm’
Nguyện thứ 18 nói: “Cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh giác”, chỉ cần ‘cho đến mười niệm’ (Chú: Căn cơ lúc bình sanh, trên suốt một đời; căn cơ lúc lâm chung, dưới đến mười tiếng), ‘cho đến mười niệm’ thì rất dễ, bởi vì là ‘cho đến’.
Đã là ‘cho đến’, chính là không chỉ mười niệm, cũng có thể mười một niệm, hai mươi niệm, một trăm niệm, một nghìn niệm, một vạn niệm, hoặc niệm một ngày, hoặc niệm bảy ngày, hoặc bảy năm, hoặc bảy mươi năm, hoặc niệm suốt cả đời, đây chỉ cho thọ mạng rất dài. Nếu như thọ mạng ngắn, thậm chí chúng sanh ngay lúc đó lâm chung mới nghe được pháp môn này, thì người ấy cho đến mười niệm, chín niệm, năm niệm, hoặc một niệm, liền vãng sanh về thế giới Cực Lạc như thường.
Bởi thế, ‘cho đến mười niệm’ là phương tiện lớn nhất cho chúng ta, khiến mỗi người đều có thể làm được, cho nên gọi là ‘cho đến’.
Đây là nói theo con số xưng danh, cho thấy không hạn định con số là bao nhiêu. Bạn chỉ cần xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, dù cho người sắp tắt hơi thở, chỉ cần niệm một tiếng cũng được vãng sanh như thường, giống với người niệm suốt cả đời được vãng sanh. Dù đến lúc sau miệng cứng, lưỡi không cử động được, nhưng người ấy khởi tâm, dấy lên một niệm, tâm niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’, hoặc trong tâm nghĩ đến sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì cũng vãng sanh về thế giới Cực Lạc như thường, đây chính là ‘cho đến’.
Cho đến mười niệm đều được vãng sanh. Tôi nghĩ: Từ bi, không có loại nào hơn loại từ bi này cả.
Nhiều kiếp lâu xa, tích lũy vun bồi đức hạnh, hoàn thành công đức vãng sanh của chúng sanh
Phía sau từ bi dĩ nhiên phải có trí huệ. Chỉ có từ bi mà không có sức trí huệ, thế thì không thể đạt đến mục đích của từ bi. Phía sau từ bi này đương nhiên có sức trí huệ của Phật A-di-đà.
Ở đâu? Chính là ở chỗ sau khi Phật A-di-đà tư duy năm kiếp phát ra 48 đại nguyện cho chúng ta, lại trải qua ‘nhiều kiếp lâu xa’ tích lũy vun bồi vô lượng đức hạnh của Bồ-tát’.
Vì cứu độ chúng sanh trong mười phương, nên khiến chúng sanh trong mười phương đều vãng sanh về thế giới Cực Lạc thành Phật, chúng sanh trong mười phương vô lượng vô biên. Trong đó có chúng sanh tội nghiệp ít, thậm chí bậc siêu phàm nhập thánh không có tội nghiệp. Đồng thời lại có tội nhân tội nghiệp tương đối sâu nặng, sâu nặng đến mức sắp đọa vào địa ngục A-tỳ hoặc đã đọa vào địa ngục A-tỳ. Những bậc thánh nhân cùng với hạng phàm phu, tội nhân cực ác, đều khiến họ bình đẳng vãng sanh về thế giới Cực Lạc, việc này quả thật phi thường! Bởi thế, có thể nói sức công đức cứu độ chúng sanh trong mười phương quả thật lớn không thể nghĩ bàn, nhiều không thể nghĩ bàn, sâu không thể nghĩ bàn, cho nên phải trải qua nhiều kiếp lâu xa, Ngài đã thay chúng ta tích lũy vun bồi vô lượng đức hạnh.
Sở dĩ Phật A -di-đà bảo chúng ta ‘cho đến mười niệm’ thì có thể vãng sanh, là bởi vì Ngài trước đó đã hoàn thành công đức vãng sanh cho chúng ta!
Chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay mắc nợ mọi người rất nhiều rất nhiều, nhiều hơn cả tam thiên đại thiên thế giới, chúng ta dùng sức của mình mà muốn trả sạch nghiệp lực trong tam thiên đại thiên thế giới để rời khỏi thế giới Ta-bà, là điều không thể làm được. Bởi vì chúng ta mỗi ngày đều tạo nghiệp, không tích lũy công đức, có
thể nói ác nhiều hơn thiện, thậm chí cũng không có một chút thiện chân thật nào cả. Những điều này Phật A-di-đà đều biết, Ngài muốn cứu độ chúng ta, trước hết phải trả những món nợ này cho chúng ta. Để trả những món nợ này, Ngài phải trải qua thời gian rất lâu dài để kiếm ‘tiền’, cho nên nhiều kiếp lâu xa, Ngài đã tích lũy vun bồi vô lượng đức hạnh, mục đích chính là nằm ở chỗ này.
Đồng thời, Ngài muốn khiến chúng ta bất thoái thành Phật ở trong môi trường thanh tịnh, Ngài cũng phải xây dựng môi trường như vậy cho chúng ta, môi trường này là thế giới Cực Lạc. Thế giới mười phương không thể sánh với sự trang nghiêm và rộng lớn của thế giới Cực Lạc. Để hoàn thành cõi Tịnh Độ như thế, cần phải có thời gian lâu xa hơn hẳn thời gian thành Phật của chư Phật mười phương, về phần công đức thì càng nhiều hơn nữa.
Đồng thời, tư lương (hành trang) từ thế giới Ta-bà đến thế giới Cực Lạc, Ngài cũng chuẩn bị sẵn cho chúng ta. Giống như chúng ta đi du lịch cần phải chuẩn bị tiền, y phục, đồ dùng, thực phẩm, nếu không mang những thứ này thì không thể xuất ngoại. Địa điểm muốn đi càng xa thì phải chuẩn bị hành trang càng nhiều, người thời xưa đi cả nghìn dặm, nhu cầu lương thực phải đầy đủ
trong ba tháng. Tư lương từ thế giới Ta-bà đến thế giới Cực Lạc (theo quan điểm thông thường, phải đủ ba tư lương tín-nguyện-hạnh, chính là công phu niệm Phật phải sâu, công đức tích lũy phải nhiều). Thật ra, Phật A-di-đà đã hoàn thành mọi thứ cho chúng ta rồi, Phật A-di-đà đã chuẩn bị cho chúng ta rồi, không cần phải nhờ vào phương tiện của chúng ta nữa.
Nếu Ngài yêu cầu chúng sanh phải tích lũy thiện căn thì chúng ta không thể vãng sanh, thế giới Cực Lạc của Phật A-di-đà cũng không có người ở. Ngài phát nguyện ‘chúng sanh trong mười phương nếu không được vãng sanh thì Tôi không thành Chánh Giác’, cũng là hư giả. Nếu như Ngài muốn chúng ta tích lũy thì ai dám bảo chứng nói ‘Ô! Trình độ của ta tích lũy được thiện căn có thể vãng sanh’? Không ai chắc chắn trình độ của mình có thể làm được điều ấy. Bởi thế, Phật A-di-đà đã hoàn thành mọi thứ cho chúng ta.
Chúng ta xa lìa thế giới Ta-bà là do Đức Phật A-di-đà trả hết món nợ nhiều đời nhiều kiếp cho chúng ta. Chúng ta muốn đến được thế giới Cực Lạc (nơi trở về của chúng ta), cũng do Phật A-di-đà sớm đã hoàn thành cho chúng ta.
Từ thế giới này đến thế giới đó, từ bờ này sang bờ kia, tư lương này, thuyền đại nguyện này, cũng
đều được Phật A-di-đà hoàn thành cho chúng ta.
Chúng ta chỉ cần tin nhận xưng danh ‘cho đến mười niệm’ (Chú: Căn cơ lúc bình sanh, trên suốt một đời; căn cơ lúc lâm chung, dưới đến mười tiếng), tin nhận xưng danh Phật A-di-đà thì đã ở trên thuyền đại nguyện. Dù cho tham sân si chưa dứt, tập khí vẫn chưa thay đổi, phiền não sâu nặng, loạn tưởng vọng niệm vô biên, chỉ cần không lìa thuyền đại nguyện, không mất tín tâm đối với sự cứu độ của Phật A-di-đà, nguyện tâm vãng sanh Cực Lạc không thoái chuyển, một đời chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà thì sẽ không còn rơi vào biển khổ trong sáu đường nữa. Chỉ cần thọ mạng vừa hết thì tự nhiên vãng sanh về thế giới Cực Lạc.
An ổn vô hạn, hy vọng cuối cùng
Vì lẽ đó, pháp môn Tịnh Độ ban cho sự an ổn vô hạn cho người tu hành, cũng cho chúng ta niềm hy vọng cuối cùng. Pháp môn Tịnh Độ là niềm hy vọng cuối cùng cho tất cả mọi người tu hành.
Nếu tĩnh tâm suy nghĩ, kiểm điểm lại sự tu hành trong một đời của mình có đạt được tiêu chuẩn giải thoát hay không, thì lúc đó mới có thể phát hiện là không đủ. Lúc đó nhất định sẽ khổ não, sẽ bất an, sẽ không dám ngủ, thời gian ngủ cũng phải rút ngắn để tu hành, hy vọng nhờ vậy mà đạt được tiêu chuẩn này. Nhưng cuối cũng vẫn
là sự thất vọng, vẫn là sự thống khổ, đến cuối cùng thì lâm vào sự tuyệt vọng.
Chỗ đường cùng gặp lối thoát, chính là sự cứu độ của Phật A-di-đà. Bất kể hàng tại gia hay xuất gia, biết tu hành hay không biết tu hành đều nhận được sự cứu độ của Phật như nhau, cho nên pháp môn Tịnh Độ quả thật không thể nghĩ bàn! Khiến cho chúng ta hoan hỷ, an lạc vô hạn! Vì thế, pháp môn này là Dị hành đạo, cũng là đạo an lạc, làm cho tâm chúng ta được an ổn, không có khổ não mà lại vui sướng.
Pháp môn Dị hành, pháp môn An lạc, pháp môn Hoành siêu1
Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn Dị hành, pháp môn An lạc, pháp môn Hoành siêu.
Tự lực tu hành thì giống như trải qua từ lầu một đến lầu cao nhất, cần phải từng tầng một đi lên. Nhưng pháp môn Tịnh Độ là Siêu việt, không cần phải trải qua những giai đoạn như vậy. Bởi vì mọi người phần lớn đều không có sức trải qua những giai đoạn này, mà nhờ sức của Phật A-di-đà khiến cho chúng ta từ tầng thấp nhất lập tức lên tầng cao nhất, cho nên gọi là Siêu việt.
__________________
1 Hoành siêu 橫超: Pháp môn không cần phải trải qua thứ lớp giai vị mà đạt được quả vị Vô thượng Niết-bàn một cách nhanh chóng. Tức là ý nghĩa chân thật của bản nguyện Phật A-di-đà.
Cái gọi là từng tầng từng tầng ở giữa chính là theo cách nói của Thánh Đạo môn, cần phải trải qua Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, tổng cộng có 51 giai vị.
Phật A-di-đà khiến chúng ta lập tức đạt đến giai vị thứ 52 (Diệu giác), cho nên gọi là pháp môn Hoành siêu.
Bồ-tát Long Thọ lấy việc đi thuyền để thí dụ. Thí như nói từ Đài Loan đến Trung Quốc nếu không có thuyền thì phải bơi lội. Dù cho biết bơi lội nhưng e rằng bơi không được một nửa thì đã chìm rồi, bởi vì đại dương dài thăm thẳm. Từ phàm phu đến quả vị thành Phật cũng dài thăm thẳm, nhưng nếu như ngồi trên thuyền thì rất an ổn, không cần phải nhờ sức của chúng ta có hay không, biết bơi hay không biết bơi, nam hay nữ, già hay trẻ, dẫu cho ngay cả những người tàn tật đi lại không thuận tiện, cũng có thể đến Trung Quốc như nhau! Vì thế, pháp môn đi thuyền là pháp môn An lạc, là pháp môn Dị hành. Hơn nữa, nương vào sức của thuyền chẳng bao lâu đến bờ kia, đây là pháp môn Hoành siêu.
Đương nhiên, hiện tại có máy bay, vừa lên máy bay chẳng mấy chốc liền đến bờ kia.
Thuyền và máy bay ở trên thế gian này đều có tính nguy hiểm thật sự, nhưng thuyền bản nguyện
của Phật A-di-đà, máy bay của Phật A-di-đà là tuyệt đối an toàn, tuyệt đối thoải mái, tuyệt đối có thể nương vào.
Danh tiếng vượt hơn mười phương, cứu độ chúng sanh
Quang minh của Phật A-di-đà chiếu khắp mười phương thế giới, không có nơi nào mà không chiếu cả. Chư Phật trong mười phương đều khen ngợi, xưng dương danh hiệu Phật A-di-đà, không nơi nào mà không có danh hiệu của Phật A -di-đà đang hoằng truyền. Đây đều là nguyện lực của Phật A-di-đà được thành tựu.
Vì thế, Phật A -di-đà sau khi phát ra 48 đại nguyện, lại phát ra ‘ba nguyện sâu nặng’, cũng gọi là ‘ba thệ nguyện’, trong đó nói:
Nếu Tôi đạt đến Phật đạo, danh tiếng vượt khắp mười phương, rốt cuộc nếu có ai không nghe thì Tôi thệ không thành Chánh giác.
Ngài đã thành Chánh giác rồi, danh tiếng câu ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ tự nhiên vượt khắp mười phương thế giới. Danh tiếng vượt khắp mười phương thế giới, chẳng phải Phật A-di-đà thích danh tiếng, thích mọi người ca ngợi Ngài, hoàn toàn không phải như vậy. Mục đích không nằm ở chỗ này mà mục đích nằm ở chỗ cứu độ chúng sanh. Trước khi cứu độ chúng sanh thì phải làm
cho chúng sanh nghe được nguồn gốc sinh khởi của câu danh hiệu này, nghe được nguyên lý cứu độ của câu danh hiệu này, rồi sau mới tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà.
Chẳng hạn như, công ty đưa ra sản phẩm mới, sản phẩm mới này không giống với sản phẩm trước kia, mỗi một gia đình, mỗi cá nhân chỉ cần dùng sản phẩm này, suốt đời sẽ được hạnh phúc. Sản phẩm này rất quan trọng đối với mỗi cá nhân, tất nhiên muốn làm kinh doanh, thì phải quảng cáo để mọi người trong thiên hạ đều biết được.
Chư Phật mười phương vì Đức Phật A-di-đà chứng thật pháp môn cứu độ Phật lực này, đây cũng là tác dụng nguyện lực của Phật A-di- đà. Vì thế, dùng danh hiệu quang minh để cứu độ chúng sanh.
Chúng ta đã nghe pháp môn này, xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì được nhiếp thủ trong quang minh, không nên hoài nghi sự cứu độ của Phật A-di-đà.
Nguyện thứ 13 là nguyện Thọ mạng vô lượng, pháp môn xưng danh tồn tại lâu dài
Vì pháp môn Tịnh Độ không chỉ cứu độ chúng sanh ở khắp mọi nơi trong không gian, mà đồng thời cũng muốn cứu độ hết chúng sanh thời vị lai trên phương diện thời gian, nên Phật A-di-đà đã
phát ra lời nguyện, đó là ‘nguyện Thọ mạng vô lượng’, chính là nguyện thứ 13:
Nếu Tôi thành Phật, thọ mạng của Tôi có hạn lượng, dưới đến một trăm nghìn ức na-do-tha kiếp thì Tôi không thành Chánh giác.
Có nghĩa là, dù cho thọ mạng có hạn lượng, có phạm vi, nhưng nếu thọ mạng thấp nhất không đến trăm nghìn ức na-do-tha thì Ngài không thành Chánh giác. Một trăm nghìn ức na-do -tha như vậy vượt qua thời gian, vĩnh hằng tồn tại. Nguyện này gọi là ‘nguyện Thọ mạng vô lượng’. ‘Vô lượng’ là không có hạn lượng, không có thời gian hạn chế, không có phạm vi, thời gian kéo dài, vượt qua thời gian.
Quang minh vô lượng là chỉ cho không gian nhiếp thủ tất cả chúng sanh trong mười phương; thọ mạng vô lượng là chỉ cho thời gian cứu độ hết chúng sanh thời vị lai.
Di-đà nhiếp thủ, Phật quang vây quanh
Xưng niệm câu danh hiệu này giống như ‘nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật không bỏ’ vừa giảng, được quang minh của Phật A-di-đà nhiếp thủ không bỏ, điều này có lợi ích gì?
Cũng chính là nói: Người xưng niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật’ thì người này đã được trăm nghìn
lớp ánh sáng của Phật A-di-đà vây quanh bảo hộ.
Vì thế, người niệm Phật đều có quang minh của Phật A-di-đà. Đã được quang minh của Phật A-di-đà đến bảo hộ, che chở chúng ta, thì nội tâm chúng ta cũng phát ra ánh sáng rực rỡ của Phật A-di-đà.
Câu chuyện niệm Phật phóng quang (1)
Trong đoạn văn này, tôi xin trích dẫn hai thí dụ để chứng minh.
Quyển Tịnh tông giảng nghĩa này tổng cộng phân thành mười chương, trong đó chương thứ 10 chính là ‘Niệm Phật phóng quang’ (Chú: Đã được đưa vào Niệm Phật cảm ứng lục, tập 1), cũng chính là nói, chỉ cần người xưng niệm danh hiệu, trên thân sẽ phóng ra ánh sáng của Phật A-di-đà. Chương thứ 10 phân làm mấy đoạn, trong đó ‘tâm niệm Di-đà, thân có ánh sáng’, người thực hành là Đại sư Liên Trì cuối triều đại nhà Minh, Tổ sư tông Tịnh Độ rất nổi tiếng. Ngài soạn Trúc song tùy bút1 có một đoạn ghi chép như sau:
Thôn Hải Xương có một bà cụ chết, tuy thể xác chết nhưng linh hồn không chết. Linh hồn của cụ bà này có thể nương vào thân thể của người tại gia mà
___________________
1 Trúc song tùy bút 竹窗隨筆: Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Châu Hoằng soạn vào năm 1615 đời Minh, Trung Quốc. Nội dung sách này có hơn 400 điều mục, phần lớn nói về sự lý của tông Thiên Thai, Thiền, Tịnh Độ.
giảng nói một vài chuyện về báo ứng âm phủ, chịu những thống khổ cực hình ở địa ngục, mỗi lần như thế bà cụ nói rất rõ ràng và rất linh nghiệm. Vì thế, khi bà cụ gá vào thân nói chuyện thì không những người nhà mà ngay cả người hàng xóm cũng đều đến tò mò để nghe.
Có một lần, nghe trong chúng có người bỗng nhiên chuyên tâm niệm Nam-mô A -di-đà Phật. Bởi vì trong tâm người ấy niệm chứ không phải miệng niệm, nên người khác đương nhiên đều không biết, nhưng linh hồn thì biết, lập tức nói: “Anh gì đó ơi, nếu như anh thường xuyên niệm như vậy thì lo gì không thành Phật chứ!”.
Người đó hỏi lại bà ấy: “Ôi! Sao bà nói như vậy?”.
Linh hồn nói: “Bởi vì trong tâm của anh niệm Nam-mô A-di-đà Phật ạ!”.
Người đó hỏi vặn lại: “Trong tâm tôi niệm Phật, bà làm thế nào biết được?”.
Linh hồn nói: “Ái chà, biết rất rõ, bởi vì trên thân bạn có ánh sáng!”.
Đại sư Liên Trì nói: Người thôn này mù chữ, không biết chữ. Người trong thôn không biết chữ, nhưng ngay lúc đó chuyên tâm niệm Phật, có thể khiến cho hồn ma hướng về người ấy mà cung
kính và khen ngợi như vậy, huống gì là người tu trì niệm Phật đã lâu! Đại sư Liên Trì nói: “Thế nên, công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn”.
Người này một chữ cũng không biết, có thể nói là người ngu si, nhưng chỉ cần trong tâm chuyên tâm niệm Phật thì có ánh sáng. Quỷ thần không những không dám hại người ấy mà còn kính trọng người ấy, thậm chí còn bảo hộ người ấy nữa.
Cần phải niệm Phật nhiều thì chuyển ánh sáng không tốt trở thành ánh sáng của Phật
Kỳ thật, trên thân chúng ta đều có ánh sáng (quyển sách này cũng có nêu ra), người thiện có ánh sáng thiện, người ác có ánh sáng ác, hiện tại khởi niệm nào thì có ánh sáng đó, trí huệ, phước báo lớn hay nhỏ, ánh sáng đều khác nhau.
Bất kể trí huệ, phước báo lớn hay nhỏ, chúng ta chỉ cần niệm Phật thì đều có ánh sáng của Phật. Nếu không như thế, nếu nói về ánh sáng của tự thân chúng ta thì có thể hiểu được là ánh sáng của chúng ta không thể khiến cho quỷ thần kính trọng, bởi vì chúng ta loạn tưởng vọng niệm, tự tư tự lợi, tham sân si sâu nặng, đâu có loại ánh sáng nào có thể được cung kính? Cho nên rất hổ thẹn. Vì thế, chúng ta cần phải niệm Phật nhiều, chuyển ánh sáng không tốt thành ánh sáng của Phật.
Niệm vọng tưởng cũng là niệm, niệm Phật
cũng là niệm, nhưng vọng tưởng không tốt, chỉ tạo tội tạo nghiệp, quỷ thần xem thấy chán ghét. Như thế thì tại sao không dùng niệm vọng tưởng đó mà niệm Phật?
Cũng là niệm mà không niệm Phật thì nhất định sẽ niệm vọng tưởng.
Trên thân chúng ta đều có ánh sáng, dùng mắt thịt xem thì không thấy, người có mắt âm dương sẽ nhìn thấy, quỷ thần cũng nhìn thấy. Mắt âm dương và quỷ thần đều là phàm phu, nhưng có thể thấy được. Chư Phật, Bồ-tát, Hộ pháp long thiên dĩ nhiên nhìn thấy được.
Vì thế, chúng ta chỉ cần trong tâm niệm Phật, thì Hộ pháp Long thiên sẽ đến hộ trì, chư Phật, Bồ-tát xếp thành trăm lớp, nghìn lớp vây quanh bên thân bảo vệ chúng ta, khen ngợi chúng ta, đây là kinh A-di-đà nói.
‘Trong ánh sáng Hóa Phật vô số ức’ của Phật A-di-đà là Hóa Phật vô số ức; đồng thời ‘Hóa chúng Bồ-tát cũng vô biên’ là Bồ-tát vô biên. Hóa Phật, Hóa Bồ-tát cũng như nhau xếp thành trăm lớp, nghìn lớp vây quanh để bảo hộ chúng ta.
Trong mười hai thời, chúng ta đều được Phật A-di-đà, chư Phật, Bồ -tát, Hộ pháp long thiên ủng hộ, điều này quả thật làm cho chúng ta cảm thấy an ổn, an toàn và vui vẻ!
Câu chuyện niệm Phật phóng quang (2)
Lại nói một bài trong sách Niệm Phật cảm ứng lục, tập thứ nhất, trang 70. Đây là lời trích dẫn trong Khả hứa tắc hứa của cư sĩ Trần Hải Lượng soạn.
Trần Hải Lượng là vị cư sĩ tại gia tiếng tăm lừng lẫy thời cận đại, gia đình anh ấy là gia đình Phật hóa, và chuyên tu Tịnh Độ.
Trong quyển sách này, Trần Hải Lượng nói: “Lúc tôi 29 tuổi (1937), vợ tôi tên là Viễn Tín, ở núi Xích Thành. Lúc này Viễn Tín mới 25 tuổi, sáng sớm một hôm nọ, cô ấy xuống núi, đi giữa đồng ruộng, dọc đường chuyên tâm niệm Phật. Lúc này, mặt trời vừa ló dạng nhô lên trên núi thì ánh sáng của mặt trời buổi sáng chiếu khắp đại địa. Cô ấy tình cờ thấy bóng dáng của mình, nên phát hiện trên đỉnh đầu có vầng sáng hình tròn, đường kính khoảng hai thước (o,66m), rộng bằng bả vai. Vầng sáng này tỏa sáng rực rỡ, giống như ánh sáng vòng tròn tuyệt đẹp trên tượng Phật, không thể hình dung (chúng ta xem trên đầu tượng Phật đều vẽ có vòng ánh sáng, có màu sắc, chỉ có điều vòng ánh sáng trên đầu tượng Phật mà chúng ta thấy, không thể so với ánh sáng chân thật mà Viễn Tín thấy, bởi vì đích thân cô ấy nhìn thấy). Trong tâm cô ấy cảm thấy kỳ lạ, vẫn tiếp tục vừa đi vừa niệm Phật, hơn nữa luôn chú
ý đến bóng dáng của cô ấy. Vầng ánh sáng hình tròn này vẫn tỏa ra ánh sáng rực rỡ đẹp tuyệt vời. Cô ấy biết đây là cảnh tượng do niệm Phật mà được, do đó để thử xem, cô ấy dừng niệm Phật, chuyển qua niệm chuyện tạp nhạp của thế gian, đồng thời lại xem thử cái bóng ấy! Vầng ánh sáng đã biến mất”.
Ở đây, Trần Hải Lượng nói: “Vì thế, có thể biết niệm Phật có thể phát sinh ra ánh sáng vốn có của chúng ta, tiêu trừ được nghiệp chướng đen tối”.
Viễn Tín là vợ của Trần Hải Lượng, cô mới 25 tuổi. Nói về tuổi tác thì cô còn rất trẻ, chẳng phải là sư thầy, cũng chẳng phải là người tu hành lâu, nhưng bởi vì cô ấy niệm Phật nên có vầng ánh sáng xuất hiện; không niệm Phật thì vầng ánh sáng tiêu mất. Có thể thấy, người niệm Phật tuy không biết, không cầu khẩn nhưng vẫn có ánh sáng. Nếu niệm việc khác, tuy cũng là niệm, nhưng không có vầng ánh sáng. Như vậy thì có thể biết, ánh sáng này chẳng phải từ bản tâm của cô ấy phát ra mà là ánh sáng từ bên ngoài đến.
Chỗ nào có danh hiệu thì chỗ đó có ánh sáng
Câu danh hiệu này chính là danh hiệu quang minh, chỗ nào có câu danh hiệu này thì chỗ đó có ánh sáng.
Ở Đài Loan, câu danh hiệu sáu chữ này được dán trên cột điện, tường vách, dán nơi bờ ao và bờ biển từng có người chết đuối, hoặc đoạn đường nguy hiểm từng xảy ra những vụ tại nạn xe cộ. Sau khi dán sáu chữ danh hiệu lên, thì nơi đó tai nạn xe cộ giảm ít, thậm chí không còn nữa; có những vùng nước hằng ngày thường có người chết đuối, kết quả sau khi dán sáu chữ danh hiệu lên bên bờ, thì không có người chết đuối nữa. Câu danh hiệu này phóng quang ngay trong đó, tiêu trừ được nghiệp chướng của chúng sanh bị tai nạn nơi đó, khiến cho họ lìa khỏi, không làm trở ngại người đi đường, thậm chí tìm người thay thế (người chết oan sẽ tìm người thay thế).
Chúng ta không nên nói: “Ô kìa! Người ta là Viễn Tín, mới có vòng ánh sáng trên đầu”. Không chỉ Viễn Tín có mà mỗi người chúng ta đều có, nếu ai niệm một câu Phật thì đều có ánh sáng.
Bởi vì tâm của chúng ta rất hẹp hòi, ngu si, có tạp niệm, có phiền não, không thanh tịnh, chúng ta cũng không có trí huệ cao sâu, cho rằng ‘giống như tôi đây, dù niệm Phật cũng chẳng được gì cả! Người được phóng ánh sáng, tâm phải rất thanh tịnh, vào sâu kinh tạng, tu hành nghiêm mật’, mọi người đều nghĩ như vậy sao? Thật ra không phải như thế!
Một niệm tâm của chúng ta tuy nhỏ, nhưng cũng trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới. Chúng ta khởi một niệm hoặc nói ra một câu đều có mặt khắp cả vũ trụ, lại quay về bên thân chúng ta, lúc nào cũng là thời gian nhân quả hưởng ứng. Bóng của chúng ta lúc bình thường nhìn không thấy có ánh sáng, nhưng nếu thời gian và không gian phối hợp tốt, tình hình trong tâm cũng dần dần tốt, sẽ xuất hiện hiện tượng này. Nhân như vậy, quả như vậy, tất cả đều là nhân duyên hòa hợp, muốn có vầng ánh sáng đó, cũng cần nhân duyên hòa hợp. Có thể biết loài người, thậm chí loài súc sanh (bởi vì trong tâm loài ấy cũng có tâm niệm), chỉ cần tâm niệm chuyển thành niệm Phật thì tự nhiên sẽ phát sinh hiện tượng đó. Vì thế, không chỉ Viễn Tín có mà bất kể người nào cũng có, nhân như vậy, quả như vậy. Giống như đài truyền hình chuyển đến kênh nào thì tiết mục của kênh đó tự nhiên hiện ra trên màn hình. Nếu bạn không chuyển đến thì nhân duyên không đầy đủ, quả đó không thể phát ra, cho nên ánh sáng thì mỗi người niệm Phật chúng ta đều có.
Phật quang soi sáng, lợi ích căn bản nhất là tiêu trừ nghiệp chướng lúc lâm chung
Quang minh của Đức Phật A-di-đà soi sáng chúng sanh niệm Phật, có công đức lợi ích rất lớn.
Công đức lợi ích này rất nhiều, trong đó căn bản nhất là tiêu trừ được nghiệp chướng của chúng ta khi lâm chung. Bởi vì đương lúc chúng ta lâm chung thì thân thể phải chịu các thứ bệnh đau đớn dằn vặt, tâm chịu các sự dày vò bất an, có thể nói cả trong lẫn ngoài đều bị hành hạ, vừa đau đớn lại vừa chấp trước.
Ba loại ái (chấp trước) của người đời khi lâm chung
Thông thường người lúc lâm chung có những chấp trước gì? Thông thường có ba loại ái, ái chính là chấp trước.
Cảnh giới ái là loại chấp trước thứ nhất, tức là chấp trước đối với hoàn cảnh.
Chúng ta sống đến già, phải chứng kiến rất nhiều người chết. Người không học Phật, cái chết của họ, sự chấp trước cuối cùng, xuất hiện đầu tiên là yêu môi trường. Môi trường là nhà của chúng ta, người thân của chúng ta, nơi cư trú của chúng ta, còn có cả tiếng tăm, lợi ích, địa vị của chúng ta. Bởi vậy nghĩ rằng ‘chao ôi! Ta sắp xa lìa rồi’, cho nên lưu luyến không bỏ, luyến tiếc không buông bỏ người yêu thương, không muốn từ bỏ gia nghiệp cả đời gầy dựng, danh vọng địa vị.
Nhưng, dù có chấp trước như thế nào đi chăng nữa cũng không thể không buông bỏ được, đến
lúc sau cùng, tất cả những thứ này đều lìa xa, phải đành chịu thôi.
Tự thể ái là loại chấp trước thứ hai, tức là chấp trước đối với thân thể của chính mình.
Có lẽ người Trung Quốc tương đối giản dị, còn người Đài Loan đều coi trọng các đồ trang điểm bảo dưỡng. Phái nữ sắm nhiều đồ trang điểm, có thứ dùng khi tắm rửa, có thứ dùng trước khi tắm, có thứ dùng sau khi tắm; tóc cũng vậy, da cũng giống vậy, y phục cũng vậy, rực rỡ đủ loại. Vì thế, ở Đài Loan người nữ kiếm tiền giỏi nhất. Truyền hình quảng cáo thường là sản phẩm dành cho người nữ, dần dần người nam ở Đài Loan cũng bắt đầu làm như vậy, cũng đi thẩm mỹ, thậm chí cắt mí mắt, muốn mí mắt của họ giống với mí mắt một ngôi sao nam nào đó, đây chính là tự thể ái.
Lúc còn sống họ chấp trước thân thể này, lúc chết cũng là chấp thân thể này. Bởi vì họ không có học Phật, chỉ hiểu thân thể này là duy nhất và chân thật nhất, nhưng họ lại không hiểu thân thể này cũng là hư giả, nhân duyên hòa hợp, nhất thời mà thôi, cuối cùng đành phải lìa xa, cho nên loại chấp thứ hai này chính là tự thể ái.
Đương sanh ái là loại chấp trước sau cùng; đương sanh chính là vị lai.
Bởi vì thân thể cũng không biết làm thế nào, không thể không lìa bỏ. Được thôi, sau khi xa lìa thân thể, hỏng bét rồi, cần phải đến nơi đâu? Rốt cuộc có thế giới sau khi chết không? Là khổ hay là vui? Điều cuối cùng mà họ quan tâm nhất chính là điều này.
Lúc còn sống thì cho rằng người chết thành tro, giống như cháy rụi, chẳng còn gì cả, rất ngoan cố. Đến sau cùng mới hoang mang rối loạn: ‘Hỏng bét! Trước đây tôi cho rằng con người sống được một trăm năm rồi chết, hiện tại chưa chắc là như vậy, ngộ nhỡ có thế giới sau khi chết, thì phải làm sao đây? Đi về đâu? Đi tiếp nhận an lạc hay là đi tiếp nhận khổ đau?’. Lúc đó họ mới hối hận.
Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Mạng lớn sắp hết, hối sợ rối bời”.
Lúc còn sống không nghĩ việc sau khi chết, đem tuổi thanh xuân một đời hiến cho người nữ, lãng phí ở trong sự ham muốn ngũ dục, chẳng chuẩn bị, vạch kế hoạch cho việc lớn sanh tử của bản thân, sắp chết mới hối hận, cho nên nói ‘Mạng lớn sắp hết, hối sợ rối bời’, trong tâm vừa hối hận, vừa lo sợ. Nhưng hối hận cũng không kịp, bởi vì không thể trở lại nhân gian tiếp tục cuộc sống, một khi xa lìa thì vĩnh viễn xa lìa, và cha mẹ, vợ, con tuy có tình cảm sâu nặng nhưng đều phải vĩnh
biệt, nên rất đau buồn.
Đồng thời, hối hận trong quá khứ mọi người đã khuyên anh ta niệm Phật, nhưng anh ta xuýt một hơi, nói: ‘Không có nhân quả báo ứng, không có thiên đường địa ngục, không có thiện ác, học Phật để làm gì? Tâm thích thì cứ thích, học Phật làm gì?’, cho nên lúc này mới hối hận. ‘Hối hận rối bời’ chính là chỉ cho tâm thái của người lâm chung này.
Sự biểu lộ của thiện căn
Tôi nghĩ, các vị ngồi đây, chưa đến lúc nói sinh mạng sắp hết, mới hối hận rối bời! Lo sợ, thì hiện tại phải lo sợ, chứ không cần phải đợi đến tương lai mới lo sợ, hiện tại lo sợ thì về sau mới kịp, tương lai lo sợ thì không kịp rồi.
Người học Phật chúng ta, thật ra có tâm lo sợ mới học Phật. Tối hôm qua pháp sư Tịnh Lương nói, ông ta từ nhỏ đã có cảm giác cô quạnh không thể giải thích, không hiểu tại sao có cảm giác bất an như thế.
Kỳ thật, trạng thái tâm lý đó là do sự biểu lộ của thiện căn. Bởi vì trong tâm của chúng ta tuy có Phật tánh quang minh soi sáng, nhưng từ vô thỉ đến nay Phật tánh này bị tham sân si, vô minh che lấp sâu dày, bóng dáng vô minh này thỉnh thoảng sẽ phát ra, để cho chúng ta xem nó, cảm
thấy sự tồn tại của nó. Tuy chánh thể nhìn không thấy, nhưng bóng dáng có thể nhìn thấy được. Trạng thái tâm lý khi nhìn bóng dáng chính là muốn gào khóc. Tại sao gào khóc? Không biết, chẳng hiểu ra sao cả; hoặc là sự cô quạnh đó đả kích trong tâm, giống như trạng thái tâm lý thê lương, vắng lặng, cảm giác thiếu cái gì đó. Có trạng thái ấy chính là thiện căn biểu lộ, sẽ bước vào lĩnh vực tôn giáo.
Cũng giống như Đức Phật Thích-ca-mâu-ni, tuy Ngài có địa vị cao quý là vương tử, xung quanh đều có người bảo hộ, khi ra ngoài đều đến nơi có phong cảnh tươi đẹp, phồn hoa náo nhiệt nhưng Ngài không vui, giống như thiếu một cái gì đó. Ngài ưa thích ngồi nơi yên tĩnh bên cội cây để tư duy, nhưng thiếu cái gì đó, Ngài không biết; cần phải đi về hướng nào, Ngài cũng không biết.
Vì thế, người bước vào lĩnh vực tôn giáo tu hành, trước tiên đều có tiến trình trên con đường hướng về tâm. Bản thân tôi cũng có, tôi nghĩ như thế. Pháp sư Tịnh Lương nói ông ta cũng như vậy, chúng ta đều có tâm trạng đó. Nếu như có thể gặp Phật pháp thì rất tốt; nếu như không gặp Phật pháp thì sẽ đau khổ suốt đời, thậm chí tự sát. Vì thế, rất nhiều nhà văn lớn, nhà triết học lớn đến cuối cùng đều tự sát, bởi vì họ rất thống khổ nơi
tâm, không tìm được nước cam lộ tưới tẩm! Tâm tối tăm không có ánh sáng chiếu soi!
Thực hành nguyện này rất an ổn
Nếu như tìm đến sự cứu độ của Phật A-di-đà, thì tâm họ sẽ được an, vì trong tâm có đầy đủ ánh sáng.
Tại sao? Vì sự tồn tại của Phật A-di-đà là để tiêu trừ sự bất an của chúng ta. Vì thế, kinh Vô Lượng Thọ nói:
Ta thệ đắc thành Phật, thực hành đủ nguyện này, tất cả nỗi lo sợ, sẽ làm cho an ổn.
Phật A-di-đà nói: Ngài muốn trở thành vị cứu chủ cứu độ chúng sanh trong mười phương; Ngài muốn tất cả chúng sanh sợ hãi trong mười phương được an ổn, nghiệp chướng tiêu trừ, không còn lo sợ, đấy chính là nguyện thứ 18.
Giá trị quan trong Phật giáo
Người không phát hiện khổ não nơi tâm, thì người đó không thể được coi là người hạnh phúc. Hạnh phúc chân chính, an lạc chân chính được xây dựng trên việc vượt thoát sanh tử, giải thoát sanh tử.
Cho dù giàu sang và địa vị thế nào đi nữa, mà không hiểu việc lớn của sanh tử, không giải quyết được việc lớn của mình thì người này có thể nói là người bất hạnh, người ngu si, dù cho
họ có học vấn, cũng là người ngu si, người bất hạnh; trái lại, người mà một chữ bẻ đôi cũng không biết, hơn nữa rất nghèo khổ, ngủ ở trên sàn nhà nhưng họ hiểu được việc lớn của đời người, biết xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà cứu độ, thì người ấy là người hạnh phúc đệ nhất trong cuộc đời, người có trí huệ đệ nhất. Vì thế, lấy nhãn quan của Phật giáo mà nhìn thì giá trị quan chính là điều này.
Giá trị quan của Phật giáo không lấy ngũ dục bên ngoài làm tiêu chuẩn, mà lấy việc nội tại có biết việc lớn sanh tử hay không, có biết sự cứu độ của Phật A-di-đà hay không, làm tiêu chuẩn để đánh giá. Vì thế, nhân sinh quan, giá trị quan khác hẳn với thế gian. Nhân sinh quan của chúng ta là ở trong đó và giá trị quan cũng nằm ở trong đó.
Lâm chung trừ chướng, tự nhiên vãng sanh
Bởi thế, hiện tại tuy có lo sợ, nhưng sự lo sợ này sau khi được Đức Phật A-di-đà tiêu trừ cho rồi thì sẽ không còn nữa. Dù cho lâm chung nằm trên giường bệnh, thân thể đau đớn rất nhiều, nhưng tâm không đau đớn (nếu không thì thân tâm sẽ bị bức bách), do ánh sáng của Phật A-di-đà trăm lớp, nghìn lớp vây quanh, khiến cho chúng ta không có những chấp trước và nỗi lo sợ của người thế gian.
Đồng thời, từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay chúng ta đã kết oán, kết thù với mọi người, những oan hồn này từ sau khi chúng ta ra đời, đang tìm kiếm chúng ta; tìm được sẽ ở bên cạnh chúng ta đợi thời cơ để báo thù.
Như vậy thì, bình thường chúng ta thân thể khỏe mạnh, tâm lý cũng ổn định, chúng không thể tiếp cận. Nếu như thân thể không được mạnh khỏe hoặc tâm lý không được bình thường thì chúng có thể tiếp cận. Vì thế, những người thân tâm không khỏe mạnh, thậm chí còn phát điên thì rất dễ bị ma quỷ quấy nhiễu.
Dù một người có thân tâm được mạnh khỏe, nhưng đối diện với khoảnh khắc sắp chết, dương khí dần dần tan ra, tâm của người ấy một nửa nhìn cảnh sắc của thế gian, và một nửa nhìn thấy cõi âm, thấy được nơi người ấy sắp đi. Lúc đó, oan gia trái chủ từ nhiều đời nhiều kiếp sẽ đến báo thù.
Ánh sáng của Phật A-di -đà ngay lúc này phát huy tác dụng rất lớn, khiến cho tất cả oan gia trái chủ đều không thể tiếp cận được, đây chính là sự lợi ích của ánh sáng nhiếp thủ.
Đại sư Thiện Đạo giải thích ánh sáng nhiếp thủ có ba loại duyên: Thân duyên, Cận duyên, Tăng thượng duyên. Tăng thượng duyên chính là nói đến công năng bảo hộ này.
3. Bàn về tín tâm niệm Phật trong pháp quán Tán thiện
Kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng nói đến ‘ba tâm’, đây là trọng điểm:
Chí thành tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm.
Ở đây dường như có ba tâm nhưng lại không giống nhau. Tất cả đều bao hàm trong ‘Thâm tâm’, chỉ cần có ‘Thâm tâm’ thì đầy đủ ba tâm.
Chí thành tâm là tâm trong ngoài phải nhất trí
Đầu tiên nói ‘Chí thành tâm’. ‘Chí thành’ có nghĩa là chân thật, Đại sư Thiện Đạo nói: “Chí là chân, thành là thật”. Vì thế, Chí thành tâm chính là tâm chân thật.
Sao gọi là ‘Tâm chân thật’? Là tâm của chúng ta phải chân thật tin nhận sự cứu độ của Phật A-di-đà, đây là tâm chân thật; miệng chúng ta xưng niệm câu danh hiệu này, xuất phát từ nội tâm chúng ta, thật sự chân thật, không phải thể hiện ra bên ngoài để người ta thấy.
Vì thế, tin Phật, niệm Phật, tin tưởng có Cực Lạc, có Phật A-di-đà, đấy là phát ra từ nội tâm chúng ta, trong ngoài nhất trí như vậy, chính là chân thật.
Thâm tâm là tâm tin sâu
‘Thâm tâm’, Đại sư Thiện Đạo giải thích ‘Thâm tâm’ chính là ‘tâm tin sâu’.
Tại sao phải tin sâu?
Thứ nhất tin ‘Cơ’: Tin sâu bản thân mình là hạng phàm phu tội ác sâu nặng, tuy có tâm tu hành, mà không có sức tu hành. Nếu dựa vào tự lực thì không những đời này kiếp này không thể giải thoát, mà đến thời vị lai cũng không thể giải thoát, ‘không có nhân duyên lìa xa sanh tử’. Chúng sanh vừa nghĩ đến điều này, thật sự bò lăn trên đất khóc than thảm thiết! Bởi vì ‘không có nhân duyên lìa xa sanh tử’! Không có nhân duyên lìa xa sanh tử, chẳng phải đời này qua đời khác, suốt đời suốt kiếp ở mãi trong cõi Ta-bà đấy sao? Thân người khó được, đâu thể để bị đọa vào ba đường ác? Bởi thế, nghĩ đến điều này, nỗi lo lắng không thể hình dung đó tự nhiên sẽ sanh ra nơi tâm, nhất định là vậy!
Tin sâu điểm này, tin sâu bản thân chúng ta là phàm phu tội ác trong sanh tử (Đại sư Thiện Đạo nói về tin sâu ‘Cơ’, ‘Cơ’ này trong danh từ Phật giáo chính là chỉ cho căn tính và căn cơ của chúng ta).
Thứ hai tin ‘Pháp’: Tin sâu niệm Phật chắc chắc vãng sanh.
Cũng chính là tin sâu sự cứu độ của Phật A-di-đà. Nguyện thứ 18 nói: “Người nào xưng danh hiệu Tôi, cho đến mười niệm, Tôi đều nhất định khiến người ấy vãng sanh về thế giới Cực Lạc;
người nào xưng danh hiệu Tôi mà không được vãng sanh thì Tôi thệ không thành Phật”. Nương vào thệ nguyện của Phật A -di-đà thì nhất định được vãng sanh, phải tin sâu điểm này.
Hai loại tin sâu, nhập vào Nhất hướng chuyên xưng
Phần trước nói phải tin sâu về ‘Cơ’, Cơ là hạng phàm phu sanh tử tội ác sâu nặng, không có nhân duyên thoát ly sanh tử, loại chúng sanh này cũng có thể nói là chúng sanh tạo tội ngũ nghịch, thập ác, phỉ báng chánh pháp, phạm tứ trọng1, xiển-đề (nếu như không phải loại chúng sanh này thì có nhân duyên thoát ly sanh tử), loại này không có duyên thoát ly. Chúng sanh tạo tội ngũ nghịch, thập ác, phỉ báng chánh pháp, xiển-đề, bất kể họ hiểu sâu hay hiểu cạn đối với sự cứu độ của Phật A-di-đà, họ chỉ cần xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, thì nhất định được vãng sanh, vì người ấy tin sâu.
Tin bản thân mình (Cơ) không đủ sức để thoát ly sanh tử, tin niệm Phật (pháp) thì nhất định được vãng sanh, đây chính là ‘Hai loại tin sâu Cơ và Pháp’.
____________________________
1 Tứ trọng 四重 Cg: Tứ trọng tội, Tứ ba-la-di tội. Bốn tội nặng của Tì-kheo, theo giới Thanh văn, đó là: 1. Tà dâm, 2. Trộm cắp, 3. Sát sanh, 4. Vọng ngữ. Bốn tội nặng của giới Bồ-tát: 1. Sát sanh, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Vọng ngữ.
Như vậy, nếu theo ‘Trì danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ’ mà Đức Phật Thích-ca phó chúc cho ngài A-nan lưu thông, và ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’ mà Đại sư Thiện Đạo giải thích, cùng với những gì mới vừa nêu ra thì không có nói đến vấn đề tin hay không tin, mà chỉ nói đến ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, đấy chẳng phải là bạn tin hay nghi ở trong việc xưng danh rồi sao?
Thí như nói tin có sâu và cạn, nghi cũng có nhiều loại nghi, không cần quan tâm đến những điều này, bạn chỉ cần xưng danh thì chắc chắn được vãng sanh, chẳng phải tin cũng nằm ngay ở trong đó sao? Vì thế, cốt lõi của kinh Quán Vô lượng Thọ nằm ở chỗ ‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà’, đây chính là đại ý của kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Hồi hướng phát nguyện tâm là tâm tự nhiên quay về
‘Hồi hướng phát nguyện tâm’, nói đơn giản là chán Ta-bà, thích Cực Lạc.
Cũng chính là nói: Không lưu luyến cõi Ta-bà, thậm chí chán chường, bởi vì nó khiến cho chúng ta tạo tội, tạo nghiệp, chịu khổ chịu nạn, chúng ta vẫn thích cõi này à? Vả lại, Đức Phật Thích-ca nói thế giới Ta-bà này là ‘nhà lửa ba cõi’.
Ngôi nhà đang cháy dữ dội, chúng ta làm sao thích được chứ? Vì thế, chán chường cõi Ta-bà;