Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Luật Học Tinh Yếu

Luật Học Tinh Yếu

Tác giả: HT: Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 325.

Chương 3: Chương 1: Giới Bản Của Tỳ Kheo - I.Khái quát về giới luật (Trang 9 - 16)

 
Chương 1
GIỚI BẢN CỦA TỲ-KHEO
 
I. KHÁI QUÁT VỀ GIỚI LUẬT
1. Dẫn nhập
Trải qua 80 năm có mặt trên cõi đời, thực hiện hồi bão độ sinh viên mãn, cuối cùng đức Thế Tôn đã thị hiện Niết-bàn. Khi hay tin Phật nhập diệt, Tôn giả Đại Ca-diếp (Mahà-kassapa) liền tức tốc dẫn đồ chúng về thành Câu-thi (Kusinàrà) để đảnh lễ bậc Đạo sư lần cuối cùng. Trên đường về, có nhiều Tỳ-kheo không cầm được nỗi đau thương than khóc, vật vã. Bấy giờ Tỳ-kheo Bạt-nan-đà (Upananđa) bảo họ im lặng, và nói: “Vị Trưởng lão ấy (chỉ đức Phật) khi còn sanh tiền thường bảo chúng ta nên làm như thế này, không nên làm như thế kia, nên học những điều này, không nên học những điều kia, thực là phiền phức. Bọn chúng ta ngày nay mới thoát khỏi nỗi khổ cực ấy, tùy ý muốn làm gì thì làm, không còn ai kiềm chế, ngăn cản nữa. Thế thì vì sao các thầy lại thương tiếc, than khóc?”
Nghe lời phát biểu vô ý thức của Tỳ-kheo Bạt-nan-đà, Tôn giả Đại Ca-diếp rất bức xúc, nghĩ rằng đức Thế Tôn
 vừa mới từ giã cõi đời mà đã có những đệ tử manh động không muốn tuân thủ những lời Ngài dạy, thì về sau này, kỷ cương của Tăng chúng sẽ ra sao!
Do vậy, sau khi lo xong việc trà-tỳ đức Thế Tôn, Tôn giả Đại Ca-diếp bèn triệu tập đại hội kết tập Pháp tạng ngay trong mùa an cư năm ấy. Đại hội này mở tại thành Vương Xá, với 500 vị A-la-hán (Arahant) tham dự, Tôn giả Ưu-ba-li (Upali) kết tập Luật tạng, Tôn giả A-nan (Anandà) kết tập Kinh tạng. Luật tạng được đọc lại rồi đại chúng chung quyết, đến 80 lần mới hồn thành, cho nên đặt tên là bộ Bát Thập Tụng Luật. Trong khi kết tập, tồn thể đại hội đã nhất trí giữ nguyên những gì do Phật chế định và những gì Phật không chế định thì không được tùy tiện đặt ra. Tuy nhiên, Tăng chúng có thể tùy theo hồn cảnh, địa phương và thời đại mà linh động áp dụng những giới điều nhỏ nhiệm do Phật đã chế.
Theo lịch sử Phó Pháp Tạng, sự kế thừa chánh pháp của Phật, làm Tổ sư thứ nhất là Tôn giả Đại Ca-diếp, thứ hai Tôn giả A-nan, thứ ba Tôn giả Mạt-điền-địa, thứ tư Thương-na-hịa-tu, thứ năm Ưu-ba-cúc-đa. Tương truyền Ưu-ba-cúc-đa có 5 người đồ đệ xuất sắc tách riêng ra lập thành 5 bộ phái, rồi dùng bộ Bát Thập Tụng Luật châm chước theo quan điểm của mình soạn ra 5 bộ luật sau:
1. ĐÀM-VÔ-ĐỨC BỘ (Dharmagupta) có Tứ Phần Luật.
2. TÁT-BÀ-ĐA BỘ (Sarvàstivàda) có Thập Tụng Luật.
3. CA-DIẾP-DI BỘ (Kasyapiya) có Giải Thoát Luật.
4. DI-SA-TẮC BỘ (Mahisasaka) có Ngũ Phần Luật.
5. BÀ-TA-PHÚ-LA BỘ (Vatsiputriya) có Ma Ha Tăng Kỳ Luật.
Đàm-vô-đức là từ phiên âm của chữ Phạn nêu trên và được dịch là Pháp tạng bộ, Pháp hộ bộ, Pháp mật bộ. Tát-bà-đa cũng là từ phiên âm và được dịch nghĩa là Thuyết nhất thiết hữu bộ, nói tắt là Hữu bộ. Ca-diếp-di bộ là từ phiên âm và được dịch nghĩa là Ẩm Quang Bộ, Thiện Tuế bộ. Di-sa-tắc là từ phiên âm, được dịch nghĩa là Hố Địa bộ, Chánh Địa bộ. Bà-ta-phú-la là từ phiên âm, được dịch nghĩa là Độc Tử bộ.1
Về nguyên nhân khiến Luật tạng bị chia thành 5 bộ có các thuyết đề cập đến như sau:
1/. Xuất Tam Tạng Ký Tập, quyển 32 chép: Khi Phật còntại thế, có một trưởng giả nằm mộng thấy một tấm vải trắng, bỗng nhiên bị xé thành 5 mảnh. Trưởng giả giật mình thức dậy, bèn đi đến Phật hỏi về nguyên do giấc mộng. Phật giải thích rằng đó là điều biểu thị sau khi Phật diệt độ, Luật tạng sẽ chia thành 5 bộ.
2/. Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập, quyển 43 chép: Sau khi Phật thành đạo 38 năm, một hôm đức Phật đến Vương cung thọ trai do Quốc vương cúng dường. Lúc ăn xong, Phật bảo La-hầu-la rửa bát. Vì sơ ý, La-hầu-la để bát rơi, vỡ thành 5 mảnh. Thấy thế, các Tỳ-kheo hỏi Phật về điềm gở ấy, Phật giải thích rằng sau khi Phật nhập diệt trong vịng 200 năm, các Tỳ-kheo sẽ chia Luật thành 5 bộ. Về sau quả nhiên 5 đệ tử của Ưu-ba-cúc-đa chia Đại tạng Luật của Như Lai thành 5 bộ.





1 Đại Chính Tân tu Đại tạng kinh, tập 45
2 Đại Chính Tân tu Đại tạng kinh, tập 55
3 Đại Chính Tân tu Đại tạng kinh, tập 54
2. Luật tạng được truyền dịch sang Hán văn
   Giới luật bắt đầu truyền sang Trung Quốc từ đời Tam Quốc, triều Tào Ngụy Năm Gia Bình thứ hai (250), Đàm-ma-ca-la người Trung Thiên Trúc tới ở chùa Bạch Mã tại Lạc Dương, dịch Tăng-kỳ Giới Tâm và Tứ Phần Yết-ma.
Ngồi ra, các bộ Quảng luật khác được lần lượt phiên dịch theo thời gian sau:
2.1. Các bộ quảng Luật
1. THẬP TỤNG LUẬT: Lần đầu do Cưu-ma-la-thập dịch từ năm Hoằng Thỉ thứ 6 đến năm thứ 8 (404-406) đời Diêu Tần, được 58 quyển, nhưng chưa xong. Sau đó, Tỳ-ma-la-xoa tiếp tục dịch hồn thành, gồm 61 quyển.
2. TỨ PHẦN LUẬT: Do Phật-đà-da-xá và Trúc-Phật-niệm dịch từ năm Hoằng Thỉ thứ 12 đến năm thứ 15 (410-413) đời Diêu Tần, gồm 60 quyển.
3. MA-HA-TĂNG-KỲ LUẬT: Do Phật-đà-bạt-đà-la và Pháp Hiển dịch năm Nghĩa Hy thứ 14 (418) đời Đông Tấn, gồm 40 quyển.
4. NGŨ PHẦN LUẬT: Do Phật-đà-thập và Trí Thắng dịch vào năm Cảnh Bình thứ nhất (423) đời Lưu Tống, gồm 30 quyển.
5. GIẢI THỐT GIỚI KINH: (chỉ có Giới bổn của Tỳ-kheo): Do Phất-nhã Lưu-chi dịch, vào đời Nguyên Ngụy, ước chừng vào khoảng (538-544), gồm có 1 quyển.
6. CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA: Do Tam Tạng Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường, từ năm Cửu Thị thứ nhất triều Võ Tắc Thiên đến năm Cảnh
Vân thứ 2 triều vua Duệ Tông (700-711), gồm 50 quyển.*
 Đó là những bộ Luật chính. Ngồi ra, còncó những bộ Luận dùng để giải thích các bộ Quảng Luật nêu trên, và được kể tên như sau:
2.2. Năm bộ luận của Luật
  1. TỲ-NI MẪU KINH: Gồm 8 quyển.
  2. MA-ĐẮC-LẶC-GIÀ: Gọi đầy đủ là Tát-bà-đa bộ Tỳ-ni Ma-đắc-lặc-già, 10 quyển do Tăng-già-bạt-ma đời Lưu Tống dịch.
Hai bộ luận này căn cứ Tân Tát-bà-đa luật mà giải thích.
  1. THIỆN KIẾN LUẬN: Còn được gọi là Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa, 18 quyển do Tăng-già-bạt-đà-la dịch đời Tiêu Tề, giải thích Luật Tứ Phần.
  2. TÁT-BÀ-ĐA LUẬN: Còngọi là Tát-bà-đa Tỳ-ni-Tỳ-bà-sa 9 quyển, mất tên người dịch. Luận này giải thích Luật Thập Tụng.
  3. MINH LIỄU LUẬN: Vốn gọi là Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu Luận, 1 quyển, do Chân Đế đời Trần dịch. Luận này giải thích giới luật thuộc Chánh Lượng bộ.Chánh lượng bộ xuất phát từ Độc Tử Bộ và Độc Tử bộ thuộc Thượng Toạ bộ (Luật Tăng Kỳ).
3. Phân tích nội dung Luật bộ
3.1. Nội dung Luật Tứ Phần
Bộ luật này được chia làm 4 phần sau đây:


*(Nguyên bản của bộ này cùng một gốc với Thập Tụng luật nhưng được soạn lại).
 
-       Phần thứ nhất: Giới thiệu luật của Tỳ-kheo từ Ba-la-di đến Chúng học pháp.
-       Phần thứ hai : Từ giới Ba-la-di của Tỳ -kheo đến hết giới của Ni và các Kiền-độ Thọ giới, Thuyết giới, An cư, Tự tứ.
-       Phần thứ ba: Kiền-độ Tự tứ tiếp theo cho đến pháp Kiền-độ, gồm có 14 vấn đề.
-       Phần thứ tư: Từ Kiền-độ phòng xá đến Tỳ-ni Tăng nhất, gồm 6 vấn đề.
Về các Kiền-độ gồm có 20 mục được xếp theo thứ tự như sau:
1. Thọ giới Kiền-độ: Thuyết minh việc thọ giới.
2. Thuyết giới Kiền-độ: Thuyết minh nghi thức tụng giới.
3. An cư Kiền-độ: Thuyết minh ý nghĩa về việc An cư.
4. Tự tứ Kiền-độ: Nói về ý nghĩa tác pháp Tự tứ.
5. Bì cách Kiền-độ: Nói về cách thức dùng giày dép bằng da.
6. Y Kiền-độ: Nói về cách thức may và mặc y.
7. Dược Kiền-độ: Nói về thuốc chữa bệnh.
8. Ca-hi-na Kiền-độ: Nói về cách thọ và xả y công đức.
9. Câu-thiểm-di Kiền-độ: Nói về việc các Tỳ-kheo tại Câu-thiểm-di đấu tranh nhau và về việc cử tội, sám hối.
10. Chiêm-ba Kiền-độ: Nói về việc Yết-ma đúng pháp và phi pháp.
11. Ha trách Kiền-độ: Nói về 7 trường hợp ha trách.
12. Nhân Kiền-độ: Nói về các việc liên quan đến tội Tăng tàn.
13. Phú tàng Kiền-độ: Nói về việc che giấu tội và cách xử phạt.
14. Già Kiền-độ: Nói về việc ngăn cản người cử tội.
15. Phá Tăng Kiền-độ: Nói về việc phá Tăng.
16. Diệt tránh Kiền-độ: Nói về 7 pháp dập tắt sự tranh đấu.
17. Ni Kiền-độ: Nói về sinh hoạt của Ni chúng.
18. Pháp Kiền-độ: Nói về oan nghi, pháp thức của Tỳ-kheo.
19. Phòng Kiền-độ: Nói về việc sửa sang tu bổ phòng xá.
20. Tạp Kiền-độ: Thuyết minh xen lẫn các Kiền-độ, cuối cùng nói về cách giữ các giới lớn nhỏ.
Từ 20 Kiền-độ kể trên, Luật sư Đạo Tuyên đã sắp xếp lại thành 10 Kiền-độ hay 10 thiên trong quyển San Bổ Tùy Cô Yết-ma như sau:
Thiên 1: Nói về pháp Yết-ma thành hay không thành.
Thiên 2: Nói về kết, giải mọi cương giới.
Thiên 3: Nói về pháp thọ các giới pháp.
Thiên 4: Nói về y, thuốc, thọ trì, thuyết tịnh.
Thiên 5: Nói về các thể thức thuyết giới.
Thiên 6: Nói về các chúng An cư.
Thiên 7: Nói về các thể thức Tự tứ
Thiên 8: Nói về cách chia vật d?ng của Tỳ-kheo viên tịch.
Thiên 9: Nói về thể thức sám hối các tội.
Thiên 10: Nói về việc duy trì Phật Pháp.
3.2. Nội dung Luật tạng Pàli (Pli-Vinya-pitaka)
Tạng này gồm 5 tập, từ tập 1 đến tập 5, thuộc Nam truyền Đại tạng kinh và được chia thành 3 bộ phận:
1/. Kinh Phân biệt (Suttavibhanga): Giải thích về giới điều của Tỳ-kheo và được chia thành 2 loại:
1.   Tỳ-kheo phân biệt (Bhikkhu-Vibhanga): Giải thích 227 giới của Tỳ-kheo.
2.   Tỳ-kheo-ni phân biệt (Bhikkhuni-Vibhanga): Giải thích 311 giới của Tỳ-kheo-ni.
2/. Kiền-độ (Khandhaka): Trình bày bao quát về các sinh hoạt của Tăng đồn, được chia thành 2 loại:
2/1. Đại phẩm (Mahavagga): Gồm 10 Kiền-độ như sau:
1.   Đại Kiền-độ (Mahà-Khandhaka): Thọ giới.
2.   Bố-tát Kiền-độ (Uposatha-Khandhaka): Bố-tát.
3.   Vũ an cư Kiền-độ (Vassupanayika-Khandhaka): An cư.
4.   Tự tứ Kiền-độ (Pavàrana-Khandhaka): Tự tứ.
5.   Bì cách Kiền-độ (Camma-Khandhaka): Giày da.
6.   Dược Kiền-độ (Bhesajja-Khandhaka): Thuốc.
7.   Ca-hi-na Kiền-độ (Kathina-Khandhaka): Y công đức.
8.   Y Kiền-độ (Civara-Khandhaka): Y.
9.   Chiêm-ba Kiền-độ (Campà-Khandhaka): Về những việc rắc rối xảy ra tại Chiêm-ba.
10.  Câu-thiểm-di Kiền-độ (Kosambi-Khandhaka): Những việc rắc rối tại Câu-thiểm-di.
2/2. Tiểu phẩm (Cullavagga): Gồm 12 Kiền-độ:
1.   Yết-ma Kiền-độ (Kamma-Khandhaka): Yết-ma.
/23
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »