2. Thuyết giới tóm lược từ bài tựa giới kinh đến 2 pháp Bất định rồi kết thúc.
3. Thuyết từ bài tựa đến pháp Tăng tàn rồi kết thúc.
4. Thuyết từ bài tựa đến pháp Ba-la-di rồi kết thúc.
5. Chỉ nói bài tựa giới kinh rồi kết thúc.
Ngồi ra, Luật Ma-ha-tăng-kỳ còncho phép, nếu nạn duyên đến quá gấp, lược thuyết cũng không đủ thì giờ, thì có thể nói: Bạch chư Đại đức, hôm nay là ngày rằm, Bố-tát, mỗi người nên giữ gìn thân khẩu ý thanh tịnh, cẩn thận chớ buông lung. Rồi tự ý giải tán.
***
V. AN CƯ VÀ TỰ TỨ
1. An cư
1.1. Lý do An cư.
Theo luật Tứ phần thì nguyên nhân Phật chế định sự an cư là do nhóm sáu thầy Tỳ-kheo (lục quần Tỳ-kheo) thường du hành trong nhân gian bất cứ mùa nào, nhất là vào mùa mưa, họ dẫm đạp chết vô số côn trùng. Các cư sĩ thấy thế than phiền. Đức Phật hay biết việc ấy, Ngài khiển trách nhóm sáu thầy Tỳ-kheo, và chế định hằng năm các Tỳ-kheo phải an cư ba tháng vào mùa mưa, để tránh tình trạng làm thương tổn sinh mạng của chúng sinh, và để có cô hội thúc liễm thân tâm, tịnh tu ba nghiệp.
1.2. Thời gian An cư.
Theo truyền thống Bắc truyền thì kiết hạ ngày 16 tháng tư âm lịch là tiền an cư, kiết hạ từ 17 tháng tư đến 16
tháng năm (hạn chót) là hậu an cư. Nếu trong chúng vừa có tiền an cư và hậu an cư thì đều làm lễ giải hạ vào ngày 15 tháng 7 âm lịch. Nhưng những người hậu an cư phải tiếp tục tu học đủ ba tháng mới được rời khỏi trú xứ. Nếu gặp những năm có các tháng 4, 5 và 6 nhuần thì phải dời ngày nhập hạ lại một tháng nghĩa là lấy 15 tháng 7 làm chuẩn, tính ngược lên đủ ba tháng.
Theo truyền thống của Nam Tông thì kiết hạ ngày 16 tháng 6 âm lịch và giải hạ ngày 15 tháng 9 âm lịch.
Để thuận tiện cho việc tu học, luật quy định tại nơi an cư cần có 5 điều kiện: 1. Không quá xa xóm làng; 2. Không quá gần xóm làng; 3. Không có các loại độc trùng, ác thú quấy phá; 4. Có thầy để y chỉ; 5. Có phương tiện tứ sự cúng dường tương đối thuận lợi.
1.3. Tác pháp An cư.
Thông thường các luật sư Trung Hoa quy định thành hai thể thức tác bạch An cư, nhưng luật bản thì không phân biệt việc này.
a. Tác pháp của hàng Thượng tọa.
Theo luật định vị thiền chủ hay vị Thượng tọa luật sư y chỉ của đại chúng phải tác bạch An cư trước nhất, sau đó mới nhận sự tác bạch của đại chúng. Đầu tiên vị Thượng tọa tác pháp đối thủ với một vị Thượng tọa gần ngang hàng với mình. Cả hai vị cùng đứng, hoặc cùng quỳ. Văn bạch như sau:
Đại đức nhất tâm niệm. Tôi Tỳ-kheo... nay y Tăng già lam... An cư ba tháng đầu mùa hạ (nói ba lần)
Sau khi vị luật sư tác pháp xong, các vị Thượng tọa khác theo thứ tự từ lớn tới nhỏ, tác pháp với vị Thượng tọa luật sư y chỉ ấy.
b. Tác pháp của đại chúng.
Đại chúng cũng theo thứ tự từ lớn tới nhỏ tuần tự tác pháp. Thầy Tỳ-kheo lớn nhất bước ra đảnh lễ vị luật sư y chỉ 1 lạy, rồi quỳ bạch:
(Lời tác bạch như trên).
Thượng toạ nói: Vậy hãy cẩn thận chớ buông lung.
Đáp: Y giáo phụng hành.
Hỏi: Thầy y chỉ vị luật sư nào để an cư?
Đáp: Y chỉ (nói hiệu vị luật sư y chỉ) để an cư.
Thượng toạ bảo: Vậy có điều gì nghi ngờ nên đến hỏi vị ấy.
Đáp: Kính vâng.
Xong, lễ ba lạy rồi lui ra.
Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di, Sa-di-ni cũng tác pháp như trên, nhưng đổi các từ xưng hơ cho thích hợp. Ngồi ra còncó thể thức tâm niệm An cư.
c. Tâm niệm An cư.
Trong trường hợp sống độc cư (ở riêng một mình) không có người để y chỉ, Tỳ-kheo được phép tâm niệm An cư. Khi tác pháp tâm niệm, thầy Tỳ-kheo mặc y phục chỉnh tề, đến trước bàn Phật đảùnh lễ, rồi quỳ bạch thành tiếng (không được nói thầm) như sau:
Con Tỳ-kheo... nay y (nói tên trú xứ) An cư 3 tháng đầu mùa hạ. (nói 3 lần)
Tỳ-kheo-ni phải nương tựa Tỳ-kheo để An cư, không được phép sống riêng, nên không có pháp tâm niệm An cư.
1.4. Ra ngồi cương giới.
Trong thời gian An cư các Tỳ-kheo phải an trú trong cương giới nỗ lực tu học, nhưng nếu có duyên sự đặc biệt có thể xin phép ra ngồi cương giới.
a. Ra ngồi cương giới từ 7 ngày trở xuống.
Nếu có duyên sự cần ra ngồi cương giới trong vịng 7 ngày trở lại, Tỳ-kheo phải tác pháp thọ nhật- xin một số ngày phép trước khi đi. Đây là pháp đối thủ, không phải bạch Tăng, mà chỉ bạch với một Tỳ-kheo là đủ. Nếu thời gian 7 ngày mà công việc chưa xong thì phải trở về xin phép thêm bằng pháp “tàn dạ”, nghĩa là những đêm cònlại. Văn bạch như sau:
Đại đức nhất tâm niệm. Tôi Tỳ-kheo... đã thọ pháp ra ngồi giới 7 ngày, nay đã hết hạn, nhưng công việc chưa xong, còncần đến (chừng ấy) ngày nữa. Kính mong Đại đức chứng tri.
b. Ra ngồi cương giới trên 7 ngày.
Nếu có việc cần ra ngồi cương giới trên 7 ngày Tỳ-kheo phải bạch Tăng xin phép và thời hạn xin phép tối đa là 40 ngày (trên 40 ngày coi như mất hạ).
Thầy Yết-ma bạch Tăng.
Kích bạch Đại đức Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận cho Tỳ-kheo... vì duyên sự… được phép ra ngồi cương giới trong vịng 10 ngày, sau đó sẽ trở về tiếp tục an cư. Các Đại đức nào chấp thuận việc ấy thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.
Tất cả đều im lặng, như vậy chứng tỏ Tăng đã chấp thuận cho Tỳ-kheo… vì duyên sự được phép ra ngồi cương giới trong vịng 10 ngày, sau đó trở về tiếp tục An cư. Tôi ghi nhận như vậy.
Ngồi ra có các điểm cần lưu ý sau đây:
- Nếu đang An-cư mà Tỳ-kheo bỗng nhiên ra khỏi giới không cho biết lý do thì coi như mất hạ.
- Tỳ-kheo-ni không được ra ngồi giới quá 07 ngày
- Nếu tại trú xứ đang an cư có 8 nạn sau đây xảy ra thì Tỳ-kheo được ra khỏi cương giới mà không bị mất hạ: 1. Nguy hiểm đến phạm hạnh; 2. Nguy hiểm vì có kho tàng; 3. Quỉ phá hoại; 4. Rắn độc; 5. Thú dữ, 6. giặc cướp; 7. Thiếu các thứ nhu dụng; 8. Tăng đang có sự chia rẽ.9
2. Tự tứ
2.1. Ý nghĩa Tự tứ
Tiếng Phạn Pravàranà được phiên âm là Bát-hịa-la và dịch nghĩa là Tự tứ, thỉnh thỉnh hay tuỳ ý. Nghĩa là thỉnh cầu người khác chỉ cho những lỗi lầm mà mình đã vấp phải trong ba trường hợp: hoặc thấy, hoặc nghe, hoặc nghi. Nếu tự mình nhận thấy có lỗi, sẽ thành tâm sám hối để được thanh tịnh. Mục đích của việc Tự tứ cũng giống như Thuyết giới, đó là biểu hiện sự thanh tịnh và hòa hợp của Tăng chúng. Cho nên Tự tứ là một hình thức: Thuyết giới không đọc giới bổn. Nhưng khác ở chỗ là Thuyết giới thực hiện nửa tháng một lần, cònTự tứ thực hiện mỗi năm một lần, vào ngày cuối của 3 tháng an cư, tức ngày 15
9 Tứ phần Luật quyển 37, Đ.22, tr.834a
trăng tròn theo lịch Trung Quốc, hay ngày 30 cuối tháng theo lịch Ấn Độ.
a. Vấn đề túc số Tăng.
Khi thuyết giới, túc số Tăng tối thiểu là 4 Tỳ-kheo, nhưng khi Tự tứ, túc số Tăng tối thiểu phải là 5 Tỳ-kheo. Vì khi một trong 5 Tỳ-kheo bạch Tự tứ thì số cịøn lại chỉ có 4 người, đây là túc số tối thiểu để thực hiện pháp Yết-ma. Do đó, khi Tự tứ mà số người hiện diện từ 4 vị trở xuống đến 2 vị, thì chỉ được phép đối thủ Tự tứ. Cònnếu chỉ có một Tỳ-kheo thì sẽ tâm niệm Tự tứ.
b. Vấn đề gửi dục.
Trong khi Tự tứ, nếu Tỳ-kheo nào có duyên sự như pháp thì được phép gửi dục như lúc Thuyết giới. Nhưng khi thuyết giới thì nói “Gửi dục thanh tịnh”, cònlúc Tự tứ thì nói “Gửi dục Tự tứ”. Đó là điểm khác nhau giữa hai trường hợp gửi dục.
2.2. Tác pháp Tự tứ
Khi chúng Tăng An cư 3 tháng hồn mãn, nghĩa là đủ 90 ngày, sẽ thực hiện việc Tự tứ. Những Tỳ-kheo hậu An cư cũng được Tự tứ chung một lần với các Tỳ-kheo tiền An cư, nhưng phải đợi hết thời hạn 3 tháng mới được phép rời khỏi trú xứ.
a. Vấn đề sám hối.
Cũng như lúc Thuyết giới, trước khi Tự tứ, các Tỳ-kheo cần phải sám hối cho ba nghiệp thanh tịnh. Việc làm này phải thực hiện trước Tự tứ một ngày, để tạo điều kiện thuận lợi cho ngày Tự tứ được tiến hành một cách viên mãn.
b. Ni chúng sai người thỉnh giáo giới Tự tứ.
Việc Ni chúng cử người đến Đại Tăng cầu xin giáo giới 3 sự Tự tứ là một trong 8 Kính pháp của Tỳ-kheo-ni. Chỗ khác nhau giữa việc cầu giáo giới trong ngày tụng giới và cầu giáo giới trong ngày Tự tứ là: Khi cầu giáo giới trong dịp tụng giới, sứ giả Ni có thể chúc thỉnh, nghĩa là nhờ một Tỳ-kheo xin giúp khi Tăng tác pháp Thuyết giới; trái lại, khi cầu thỉnh giáo giới Tự tứ, thì sứ giả Ni bắt buộc phải thân hành đến trước đại Tăng tác bạch cầu xin. *
c. Yết-ma Tự tứ.
Yết-ma Tự tứ là nói tổng quát, trong đây gồm 2 thể thức chủ yếu: 1/ Bạch nhị sai người nhận Tự tứ; 2/ Đơn bạch chính thức Tự tứ. Việc trước nhất cần tiến hành là:
(1). Tiền phương tiện.
Sau khi Tăng đã tập hợp đầy đủ trong giới trường, Thượng tọa hỏi:
- Tăng đã tập hợp chưa?
Duy na đáp:
- Tăng đã tập hợp.
- Hòa hợp không?
- Hòa hợp.
- Người chưa thọ giới Cụ túc đã ra chưa?
- Đã ra.
- Các Tỳ-kheo không đến có gửi dục Tự tứ kkông?
Việc Gửi dục, Nhận dục và Thuyết dục đều giống như khi Thuyết giới, chỉ khác là ở đây nói “Gửi dục Tự tứ” thay vì nói: “Gửi dục thanh tịnh”.
* văn tác bạch, xin xem Yết-ma Yếu Chỉ
Thượng toạ hỏi tiếp:
- Có ai sai Tỳ-kheo-ni đến thỉnh giáo giới Tự tứ không?
Nếu có thì Duy na đáp: “Có”, và cho gọi sứ giả Ni vào. Sứ giả vào đảnh lễ Đại Tăng, tác bạch cầu xin. Thượng toạ giáo giới khích lệ, rồi cho họ lui ra, đoạn, hỏi tiếp:
- Tăng nay hòa hợp để làm gì?
- Yết-ma Tự tứ.
(2). Yết-ma sai người nhận Tự tứ.
Căn cứ theo các bộ quảng luật thì đến ngày Tự tứ, mỗi Tỳ-kheo phải thỉnh cầu Tăng chỉ giáo những sai phạm mà mình đã vấp phải trong ba tháng An cư. Nhưng để thuận tiện cho việc tác pháp, các bộ Yết-ma cònqui định việc Tăng làm Yết-ma sai người nhận Tự tứ. Người này phải hội đủ 5 đức tính: 1. Không yêu; 2. Không ghét; 3. Không sợ sệt; 4. Không ngu dốt; 5. Biết ai Tự tứ rồi, ai chưa Tự tứ.
(3). Chính thức Tự tứ.
Theo nguyên tắc, vị Thượng tọa Thiền chủ Tự tứ trước nhất, tiếp đến, các vị thọ sai Tự tứ, rồi lần lượt đến các Tỳ-kheo khác. Người Tự tứ rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ người nhận Tự tứ một lễ, rồi nói:
Đại đức nhất tâm niệm. Hôm nay chúng Tăng Tự tứ. Tôi Tỳ-kheo (...) cũng Tự tứ. Nếu thấy, nghe hoặc nghi tôi có tội, kính xin Đại đức thương tưởng chỉ bảo. Nếu tôi thấy có tội, sẽ như pháp sám hối. (nói 3 lần)
Người nhận Tự tứ nói:
- Tốt.
Người Tự tứ đáp:
Xin vâng.
Các Tỳ-kheo tuần tự từ lớn đến nhỏ nói Tự tứ như trên cho đến người cuối cùng.
(4). Tự tứ vắn tắt.
Nếu khi bắt đầu Tự tứ mà gặp một trong 8 nạn thì Tăng có thể Tự tứ vắn tắt. Tám nạn đó là: 1. Nạn vua chúa; 2. Nạn giặc cướp; 3. Nạn lửa; 4. Nạn nước; 5. Nạn bệnh; 6. Nạn người; 7. Nạn phi nhân; 8. Nạn độc trùng.
Hoặc gặp trường hợp Tăng chúng đông mà chỗ ngồi chật hẹp, hoặc bị trời mưa nhà dột, hoặc Tăng chúng có sự tranh chấp đều được phép Tự tứ giản lược. Thay vì một người nói Tự tứ 3 lần thì có thể đồng loạt nói Tự tứ 3 lần. Thậm chí, nếu tai nạn xảy ra quá gấp, thì Tăng có thể đồng bạch nói Tự tứ 2 lần hoặc 1 lần. Trong trường hợp này phải được Thượng tọa tuyên bố lý do rồi mới thực hiện.
(5). Đối thủ Tự tứ.
Như đã nói ở trên, nếu Tăng không đủ túc số 5 người để làm Yết-ma Tăng pháp Tự tứ mà chỉ có 4, 3, hoặc 2 người, thì sẽ thực hiện pháp đối thủ Tự tứ. Nghĩa là một người nói 3 lần Tự tứ với những người khác như sau: “Các Đại đức nhất tâm niệm. Hôm nay là ngày chúng Tăng Tự tứ, tôi Tỳ-kheo (…) thanh tịnh”. (3 lần).
(6). Tâm niệm Tự tứ.
Trong trường bợp Tỳ-kheo sống độc cư, không có những Tỳ-kheo khác để cầu xin Tự tứ thì phải y phục chỉnh tề, tâm niệm, miệng nói thành lời 3 lần Tự tứ như sau: “Hôm nay là ngày chúng Tăng Tự tứ, con Tỳ-kheo (...) thanh tịnh”. (3 lần)
d. Triển hạn ngày Tự tứ.
Thông thường, các Tỳ-kheo An cư xong ba tháng, tức 90 ngày phải tác pháp Tự tứ. Nhưng nếu vì một trong hai lý do sau đây thì Tăng có thể hòa hợp tuyên bố kéo dài thêm một tháng nữa, và thời gian tối đa là 4 tháng.
(1) Triển hạn Tự tứ để tiến tu.
Nếu đến ngày Tự tứ mà Tăng đang tu học tiến bộ lại nhận được tứ sự cúng dường đầy đủ, thuận lợi, thì Tăng có thể hòa hợp tuyên bố kéo dài thêm thời gian tu tập hầu đạt được những kết quả mỹ mãn. Thời gian tăng thêm này nhiều nhất là một tháng. Khi đáo hạn, Tăng sẽ làm lễ Tự tứ. Đối với những người tiền An cư, nếu thêm một tháng thì thời gian chót sẽ là 15 tháng 8; đối với những người hậu An cư, nếu thêm một tháng, thì thời hạn cuối cùng sẽ là 15 tháng 9.
(2) Triển hạn Tự tứ do Tăng bất hịa.
Trong trường hợp đến ngày Tự tứ mà Tăng đang có sự tranh chấp, hoặc có những Tỳ-kheo khách đến gây ra tình trạng bất hòa khiến Tăng khó thực hiện việc Tự tứ, thì vị Thiền chủ có thể tuyên bố kéo dài thêm một hoặc 2 kỳ Bố-tát. Nếu hết thời gian triển hạn tối đa là một tháng mà Tăng vẫn chưa hòa hợp, hoặc các Tỳ-kheo khách chưa đi, thì phải cưỡng bức các Tỳ-kheo hiếu sự ấy hòa hợp Tự tứ. Nếu không thể cưỡng bức, thì các Tỳ-kheo thanh tịnh phải cùng nhau ra ngồi cương giới, kết tiểu giới để Tự tứ.
e. Vấn đề ngăn Tự tứ.
Trong khi Tự tứ, nếu có người nào muốn ngăn người khác Tự tứ thì phải hội đủ 5 đức: 1. Nói đúng lúc,