8.3. Sám hối tội do vô ý
Nếu vô ý làm thì pháp sám hối không cần đối diện với người khác, mà chỉ tự trách tâm mình. Nếu không làm nữa, thì tội liền tiêu diệt. Người phạm tội phải sửa soạn đầy đủ oai nghi, tâm sinh tàm quý, miệng nói như sau:
Tôi Tỳ-kheo (mỗ giáp), sơ ý mặc y Tăng-già-lê không tề chỉnh, phạm tội Đột-cát-la, tôi nay tự trách tâm mà hối lỗi. (nói 1 lần).
***
II. VI PHẠM VÀ TRỪNG PHẠT
1. Pháp Yết-ma khiển trách
Sự kiện phạm tội xảy ra như sau:
Lúc bấy giờ Phật đang ở tại nước Xá-vệ, có hai Tỳ-kheo Trí Tuệ và Lơ-ê-na, ưa đấu tranh, mắng chửi nhau, miệng vung ra đao kiếm, chỉ trích lẫn nhau. Nếu có những Tỳ-kheo khác cũng ưa đấu tranh như thế thì họ liền đến khuyên: “Các thầy hãy nỗ lực, chớ để thua bọn kia. Các thầy là hạng nghe nhiều có trí tuệ, của cải cũng nhiều hơn bọn kia, lại có đông bạn bè tri thức. Chúng tôi sẽ làm bạn với các thầy”. Do đó, trong Tăng chúng chưa có sự tranh chấp thì xảy ra tranh chấp; đã có tranh chấp thì không thể dập tắt. Bấy giờ có các Tỳ-kheo thiểu dục, tri túc, nghiêm trì giới luật, khiển trách hai Tỳ-kheo kia, rồi đi đến bạch với Thế Tôn. Thế Tôn bèn cho tập hợp các Tỳ-kheo, rồi khiển trách hai Tỳ-kheo ấy: “Các ngươi làm những việc sai trái, chẳng hợp oai nghi, chẳng phải pháp Sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm những việc không nên làm. Vì sao hai người lại đấu tranh,
mắng chửi nhau như thế?”. Rồi Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo bạch tứ Yết-ma khiển trách hai Tỳ-kheo ấy qua thủ tục: tập hợp Tăng, tác cử (nêu tội); tác cử xong, tác ức niệm (bảo họ hãy nhớ lại tội của mình); tác ức niệm xong, mới kết tội (dữ tội).
Thầy Yết-ma bạch Tăng như sau:
- Bạch Đại đức Tăng! Tỳ-kheo Trí Tuệ và Lơ-ê-na hay đấu tranh, mắng chửi nhau. Nếu có Tỳ-kheo nào xích mích với người khác thì họ đến khuyên rằng: “Các thầy là hạng đa văn trí tuệ, của cải cũng nhiều hơn bọn họ, lại có đông bạn bè tri thức. Chúng tôi sẽ làm bạn với các thầy”. Do đó, khiến Tăng chưa có sự tranh chấp thì sinh ra tranh chấp, đã có tranh chấp thì không thể dập tắt. Thuận theo Tăng thời đã đến, xin Tăng bằng lòng cho Tỳ-kheo… pháp Yết-ma khiển trách. Sau này nếu cònđấu tranh, mắng chửi nhau nữa, thì Tăng sẽ trị tội nặng hơn. Đây là lời tác bạch.
- Bạch Đại đức Tăng! Tỳ-kheo Trí Tuệ và Lơ-ê-na hay đấu tranh, mắng chửi nhau. Nếu có Tỳ-kheo nào xích mích với người khác thì họ đến khuyên rằng: “Các thầy là hạng đa văn trí tuệ, của cải cũng nhiều hơn bọn họ, lại có đông bạn bè tri thức. Chúng tôi sẽ làm bạn với các thầy”. Do đó, khiến Tăng chưa có sự tranh chấp thì sinh ra tranh chấp, đã có tranh chấp thì không thể dập tắt. Thuận theo Tăng thời đã đến, xin Tăng bằng lòng cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma khiển trách. Sau này nếu cònđấu tranh, mắng chửi nhau nữa, thì Tăng sẽ trị tội nặng hơn. Đại đức nào bằng lòng việc Tăng cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma khiển trách, thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. (3 lần)
Tăng đã bằng lòng cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma khiển trách, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Sau khi kết tội, hai Tỳ-kheo ấy phải thi hành 35 việc, từ việc thứ nhất: “không được truyền đại giới cho người”, cho đến việc 35: “không được tranh chấp với Tỳ-kheo thanh tịnh”, như trường hợp người học hối.
Nếu sau đó họ ăn năn hối cải, không gây gổ nhau nữa, thì có thể xin Tăng làm Yết-ma giải trừ pháp khiển trách, và Tăng sẽ bạch tứ Yết-ma giải trừ pháp khiển trách cho họ.
Trái lại nếu họ không chấm dứt gây gổ nhau, thì Tăng sẽ cho pháp Yết-ma xả trí *
Hoặc giả họ phạm năm pháp sau đây thì Tăng cũng không cho giải trừ pháp Yết-ma khiển trách:
1. Dựa thế lực vua chúa.
2. Dựa thế lực các quan.
3. Dựa thế lực kẻ khác.
4. Dựa thế lực ngoại đạo.
5. Dựa thế lực Tăng đồn.**
2. Pháp Yết-ma tẫn xuất
Lúc bấy giờ tại nước Ky-ly-na, có hai Tỳ-kheo cựu trú tên A-thấp-ty và Phú-na-bà-ta, có những hành vi bất hảo, làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, ai cũng nghe. Họ tự trồng hoa và khuyên người khác trồng hoa, rồi hái hoa kết thành tràng, đem tặng các nhà bạch y. Họ sống chung
* Căn Bản Ni Đà Na,vứt bỏ ra ngồi Tăng đoàn
**
Căn Bản Bách Nhất Yết Ma
đụng với nam nữ cư sĩ, cùng ngồi một giường, ăn một bát, uống một ly, ca múa, cười đùa. Hoặc chơi các thứ nhạc cụ, hoặc người khác trổi nhạc, họ liền hòa theo; hoặc thổi sáo, thổi tù và, đánh trống; hoặc giả tiếng chim công, chim hạc; hoặc chạy, hoặc giả vờ đi khập khiễng; hoặc huýt sáo, hoặc làm trị hề. Bấy giờ có các Tỳ-kheo từ nước Già-thi du hành đến nước Ky-ly-na. Sáng sớm, họ mặc y cầm bát vào thành khất thực, đi đứng có oai nghi thứ tự, nghiêm trang, tề chỉnh, mắt ngó thẳng phía trước không liếc ngó hai bên. Các cư sĩ thấy thế liền bảo nhau: “Đây là những người nào mà mắt đăm đăm phía trước, không ngó qua ngó lại hai bên, không có vẻ thân thiện, không chào hỏi an ủi ai cả, rất mất cảm tình. Chúng ta không nên cúng dường những người này mà chỉ cúng dường hai Tỳ-kheo A-thấp-ty và Phú-na-bà-ta của chúng ta mà thôi”. Do đó, hai Tỳ-kheo này được thức cúng dường dễ dàng. Các Tỳ-kheo nước Già-thi suy nghĩ: “Các Tỳ-kheo kỳ cựu này có những hành vi bất hảo, xa rời các Tỳ-kheo tốt, làm những việc xấu thậm chí cònlàm sứ giả cho người”. Nghĩ thế rồi, họ bèn về trình lên Thế Tôn. Thế Tôn liền cho gọi hai Tỳ-kheo ấy đến khiển trách, rồi bảo các Tỳ-kheo bạch tứ Yết-ma khu tẫn hai Tỳ-kheo ấy.16
Thể thức bạch Yết-ma như sau:
- Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này, ở thôn xóm (...), làm hoen ố nhà người, làm hạnh xấu. Làm hoen ố nhà người ai cũng thấy cũng nghe, làm hạnh xấu ai cũng thấy cũng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
16 Tứ Phần Luật, Đ 22 tr 890b-891b
Tăng nay cho Tỳ-kheo.. pháp Yết-ma tẫn xuất, khiển trách như sau: “Thầy làm hoen ố nhà người, làm hạnh xấu. Làm hoen ố nhà người ai cũng thấy cũng nghe, làm hạnh xấu ai cũng thấy cũng nghe. Thầy nên rời khỏi nơi này, không nên ở đây nữa”. Đây là lời tác bạch.
- Đại đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này, ở thôn xóm (...), làm hoen ố nhà người, làm hạnh xấu. Làm hoen ố nhà người ai cũng thấy cũng nghe, làm hạnh xấu ai cũng thấy cũng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma tẫn xuất, khiển trách như sau: “Thầy làm hoen ố nhà người, làm hạnh xấu. Làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy cũng nghe, làm hạnh xấu ai cũng thấy cũng nghe. Thầy nên rời khỏi nơi này, không nên ở đây nữa”. Các Đại đức nào bằng lòng cho Tỳ-kheo… này pháp Yết-ma tẫn xuất thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).
- Tăng đã bằng lòng cho Tỳ-kheo… pháp Yết-ma tẫn xuất, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Sau khi tăng đã cho pháp Yết-ma tẫn xuất, vị này phải tuân hành 35 pháp như người học hối. Luật Tăng Kỳ cònbảo: “Sau khi làm pháp Yết-ma, phải cho người này ở bên ngồi già lam”.
Luận Tỳ-bà-sa nói: “Làm hoen ố nhà người tức là làm những việc xấu, phá hoại lòng tín kính của người khác. Người tại gia đem của cải của mình cúng dường Tam bảo là để gieo trồng thiện căn, cầu được phước báo. Nếu người xuất gia đem của tín thí cho lại người tại gia tức là làm mất lợi ích của họ, khiến lòng tín kính của họ đối với Tam bảo bị
thương tổn, đồng thời còn làm cho những người xuất gia khác mất các thứ lợi dưỡng”.
Người bị tẫn xuất, nếu biết ăn năn hối cải, tùy thuận chúng Tăng, không dám trái nghịch, thì Tăng sẽ bạch tứ Yết-ma giải pháp tẫn xuất. Nhưng theo Luật Nhiếp, nếu phạm 20 việc sau đây thì không cho giải pháp tẫn xuất:
-
Ở trong Tăng chúng, không siêng năng, không tỏ vẻ cung kính.
-
Ở trong Tăng chúng, không biết khiêm tốn, vẫn giữ tính ngạo mạn.
-
Ở ngồi Tăng chúng, không phục tùng pháp trị phạt.
-
Ở ngồi Tăng chúng, tỏ ra ngang bướng, không biết cung kính.
-
Không cầu được giải trừ pháp diệt tẫn, không sám hối lỗi lầm.
-
Hoặc cậy thế nhà vua.
-
Hoặc cậy thế quan tịa
-
Hoặc nương tựa ngoại đạo.
-
Hoặc nương nhờ người có thế lực.
-
Không nương tựa chúng Tăng.
-
Mặc áo như người thế tục.
-
Mặc áo ngoại đạo.
-
Nương nhờ ngoại đạo mà sống.
-
Làm những việc không đáng làm.
-
Không tu tập những giới luật của Tỳ-kheo.
-
Hoặc mắng Tỳ-kheo.
-
Hoặc có khi giận dữ đối với Tỳ-kheo.
18. Hoặc là nguyền rủa Tỳ-kheo
19. Hoặc làm cho chúng Tăng mất lợi.
20. Hoặc không muốn ở chung với chúng Tăng.
3. Pháp Yết-ma y chỉ
Lúc đức Thế Tôn đang ở nước Xá-vệ, có Tỳ-kheo Tăng Sơ, ngu si, không biết phép tắc, phạm nhiều lỗi lầm, thường ở chung với các người bạch y, không tuân theo giới luật. Phật biết được việc đó bèn khiển trách Tỳ-kheo Tăng Sơ, rồi bảo chúng Tăng bạch tứ Yết-ma, cho Tăng Sơ pháp y chỉ.
Thầy Yết-ma tác bạch:
- Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ kheo... này ngu si, không biết phép tắc, phạm nhiều lầm lỗi, cùng ở chung với các cư sĩ, không tuân theo giới luật. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay bằng lòng cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma y chỉ. Đây là lời tác bạch.
- Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này ngu si, không biết phép tắc, phạm nhiều lầm lỗi, cùng ở chung với các cư sĩ, không tuân theo giới luật, Tăng nay cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma y chỉ, các Đại đức nào bằng lòng việc Tăng cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma y chỉ thì im lặng, ai không bằng lòng thì hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất (lần thứ 2, thứ 3 cũng nói như thế).
Tăng đã bằng lòng cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma y chỉ, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Sau khi Tăng tác pháp Yết-ma, vị này phải y chỉ thầy Tỳ-kheo đa văn, trí tuệ, có đức, mà nghiêm trì giới luật, nỗ
lực tu học, không được buông lung. Lại phải tuân hành 35 pháp như người học hối.
Nếu một thời gian sau, vị này biết ăn năn hối cải, tùy thuận chúng Tăng, tu học tiến bộ, Tăng sẽ làm Yết-ma giải pháp y chỉ cho thầy.17
4. Pháp Yết-ma cấm đến nhà cư sĩ (Yết-ma phát hỉ)
Nguyên nhân sự việc xảy ra như sau:
Bấy giờ đức Thế Tôn đang ở tại nước Xá-vệ, hai Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên hướng dẫn 500 Tỳ-kheo từ nước Già-thi du hành đến Mật Lâm, và đang cư trú tại vườn A-ma-lê. Cư sĩ Chất-đa-la hay tin ấy, liền đến viếng thăm, được hai Tôn giả thuyết pháp khai thị khiến ông rất hoan hỷ. Do đó, ông cung thỉnh hai Tôn giả và Tăng chúng hôm sau đến nhà ông thọ trai. Được hai ngài chấp thuận, ông liền về nhà chuẩn bị bữa cơm cúng dường. Khi ấy, một vị Tỳ-kheo cựu trú tại vườn A-ma-lê là Thiện Pháp, suy nghĩ: “Ta hãy đến nhà cư sĩ Chất-đa-la, xem cách thức ông cúng dường thức ăn cho Tỳ-kheo khách và Tỳ-kheo chủ khác nhau như thế nào”. Thế rồi, thầy đi đến đó, vào thẳng trong bếp, thấy tồn những thức ăn thượng hảo hạng, bèn nổi xùng, nói với cư sĩ Chất-đa-la: “Trong các thức ẩm thực mà cư sĩ sửa soạn cúng dường so với các thức ăn thượng hạng của thế gian thì chẳng thua kém chút nào, chỉ tiếc là thiếu hồ ma tể (xác mè ép: thức ăn tồi) mà thôi”.
Cư sĩ liền nói: “Trưởng lão Thiện Pháp, thầy từng gìn giữ kho báu chánh pháp như căn, lực, giác ý, thiền định,
17 Tăng Kỳ tập III, tr. 419, 423, 439] [tập IV, tr. 168
chánh thọ, mà sao lại nói những lời thơ bỉ như thế! Tôi đã chuẩn bị những thức ăn mỹ diệu như thế này thì còndùng hồ ma tể làm chi nữa? Tôi xin nêu một ví dụ, người có trí khi nghe ví dụ sẽ tự hiểu lấy: ví như tại một nước kia không có gà. Rồi có người đem đến bán một con gà mái. Con gà này, vì không có gà cồ, nên rập với một con quạ, rồi đẻ trứng, nở ra gà con. Nhưng gà con này không kêu được tiếng gà, cũng không kêu được tiếng quạ; do đó, nên gọi là gà quạ. Cũng như thế đó Thiện Pháp, thầy đã gìn giữ kho báu chánh pháp như căn, lực mà lại nói những lời thơ bỉ thì chẳng khác gì con gà quạ kia”.
Thiện Pháp giận dữ trách: “Cư sĩ đã mắng tôi, tôi đi về đây”.
Cư sĩ nói: “Đại đức Thiện Pháp! Tôi không nói ác, cũng không có mắng, Đại đức nên vui vẻ sống tại Mật Lâm này, tôi sẽ cung cấp y phục, ngọa cụ, thức ăn, thuốc men cho Đại đức. Đại đức đừng đi đâu cả; có đi đâu rồi cũng trở về đây thôi. Nếu Đại đức có đến chỗ đức Thế Tôn, thì xin hãy trình bày trung thực những gì xảy ra giữa tôi và Đại đức.”
Thiện Pháp giận dữ, từ biệt cư sĩ, đi đến chỗ Thế Tôn, trình bày đầy đủ sự kiện vừa rồi lên Thế Tôn. Thế Tôn bèn dùng nhiều phương tiện khiển trách Thiện Pháp, rồi bảo chúng Tỳ-kheo bạch tứ Yết-ma, ngăn không cho Thiện Pháp đến nhà cư sĩ Chất-đa-la nữa.
Thể thức bạch tứ Yết-ma như sau:
- Đại đức Tăng xin lắng nghe! Cư sĩ (Chất-đa-la) kia là người đàn việt có lòng tin, thường ưa bố thí, cúng dường chư Tăng. Thế mà Tỳ-kheo (Thiện Pháp) dùng lời
hạ tiện, mạ lỵ ông. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay bằng lòng làm Yết-ma cấm Tỳ-kheo (Thiện Pháp) đến nhà cư sĩ. Đây là lời tác bạch.
- Đại đức Tăng xin lắng nghe! Cư sĩ (Chất-đa-la) kia là người đàn việt có lòng tin, thường ưa bố thí, cúng dường chư Tăng. Thế mà Tỳ-kheo (Thiện Pháp) dùng lời hạ tiện, mạ lỵ ông. Tăng nay bằng lòng làm Yết-ma cấm Tỳ-kheo (Thiện Pháp) đến nhà cư sĩ. Các Đại đức nào bằng lòng việc Tăng làm Yết-ma cấm Tỳ-kheo (Thiện Pháp) đến nhà cư sĩ thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ 2, lần thứ 3 cũng nói như thế).
- Tăng đã bằng lòng làm Yết-ma cấm Tỳ-kheo (Thiện Pháp) đến nhà cư sĩ, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Tăng làm pháp Yết-ma này với điều kiện người cư sĩ có 5 pháp sau đây:
1. Biết cung kính cha.
2. Biết cumg kính mẹ.
3. Biết Tôn kính Sa-môn.
4. Biết Tôn kính Bà-la-môn.
5. Giữ gìn kiên cố những việc cần phải giữ gìn.
Nếu cư sĩ trái với 5 pháp trên, thì Tăng sẽ không làm yết ma ngăn Tỳ-kheo. Hơn nữa, pháp Yết-ma này là dành cho những Tỳ-kheo phạm 10 pháp sau đây:
1. Dùng lời ác độc mắng cư sĩ.
2. Dùng phương tiện làm cho nhà cư sĩ giảm sút đạo tâm.
3. Làm cho họ thất lợi.
4. Làm cho họ mất chỗ ở.
5. Làm cho nhà cư sĩ náo loạn.
6. Hủy báng Phật trước mặt cư sĩ.
7. Hủy báng Pháp trước mặt cư sĩ.
8. Hủy báng Tăng trước mặt cư sĩ.
9. Mắng cư sĩ bằng những lời hạ tiện.
10. Hứa với cư sĩ một điều gì đó mà không thực hiện.
Tỳ-kheo bị Tăng cho pháp Yết-ma này phải tuân thủ 35 pháp như người học hối.
Tiếp đến, Tăng sẽ sai một Tỳ-kheo có đủ 8 pháp sau đây, đưa Tỳ-kheo Thiện Pháp đến nhà cư sĩ Chất-đa-la để sám hối:
1. Đa văn.
2. Nói năng khéo léo.
3. Hiểu rõ việc mình làm.
4. Hiểu được ý người khác.
5. Chịu lắng nghe lời người khác trình bày.
6. Có thể ghi nhớ được sự việc.
7. Không có khuyết điểm.
8. Hiểu rõ ý nghĩa lời nói thiện hay ác.18
Tôn giả A-nan có đủ 8 pháp ấy nên được Tăng bạch nhị Yết-ma sai dẫn Thiện Pháp đi sám hối. Khi đến nơi, Tôn giả A-nan nói với cư sĩ như sau để sám hối: “Tăng đã trách phạt Tỳ-kheo Thiện Pháp rồi”.
Nếu cư sĩ chấp nhận cho sám hối thì tốt; nếu không chấp nhận thì phải dẫn Tỳ-kheo kia đến chỗ mà cư sĩ mắt
18 Tứ phần Luật, Đ22 tr. 893a.
thấy, tai không nghe, bảo phải sám hối như pháp. Rồi trở lại nói với cư sĩ như sau để sám hối: “Thầy Tỳ-kheo kia trước đây phạm tội, nay sám hối xong, tội đã trừ diệt”.
Nếu ông ta cho sám hối thì tốt, bằng không chịu, thì người phạm tội phải thân hành đến sám hối với cư sĩ.
Trong trường hợp cư sĩ ấy vẫn không chịu nhận sám hối, thì chúng Tăng nên bảo vị Tỳ-kheo kia dời đi nơi khác. Nếu thầy không đi thì sau này xảy ra điều gì rắc rối, Tăng sẽ không chịu trách nhiệm. Nhưng may mắn là trong trường hợp vừa rồi cư sĩ Chất-đa-la đã thuận tình cho sám hối, và Tỳ-kheo Thiện Pháp cũng ăn năn hối lỗi, tùy thuận chúng Tăng, không dám trái nghịch. Rồi ít lâu sau đó, thầy đến xin Tăng giải Yết-ma cho mình. Do đó, Tăng đã đồng ý yêu cầu của thầy, tiến hành giải pháp Yết-ma.
Thầy Yết-ma bạch Tăng như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Tăng đã làm Yết-ma cấm Tỳ-kheo… này đến nhà cư sĩ. Tỳ-kheo này đã tùy thuận chúng Tăng, không dám trái nghịch. Nay theo Tăng xin giải Yết-ma cấm đến nhà cư sĩ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay giải pháp Yết-ma cấm đến nhà cư sĩ. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Tăng đã làm Yết-ma cấm Tỳ-kheo... này đến nhà cư sĩ. Tỳ-kheo này đã tùy thuận chúng Tăng, không dám trái nghịch. Nay theo Tăng xin giải Yết-ma cấm đến nhà cư sĩ. Các Đại đức nào bằng lòng Tăng giải pháp Yết-ma cấm đến nhà cư sĩ cho Tỳ-kheo... thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất (lần thứ 2, lần thứ 3 cũng thế).
Tăng đã bằng lòng giải pháp Yết-ma cấm Tỳ-kheo... đến nhà cư sĩ vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
5. Pháp Yết-ma cử tội không nhận tội
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo Xiển-đà phạm tội, các Tỳ-kheo khác bảo thầy: “Thầy phạm tội, vậy có thấy không?”. Xiển-đà đáp: “Tôi không thấy”
Các Tỳ-kheo thiểu dục, tri túc khiển trách Xiển-đà rồi đi đến trình lên Thế Tôn. Thế Tôn dùng vô số phương tiện khiển trách Xiển-đà, rồi bảo các Tỳ-kheo bạch tứ Yết-ma, kết tội Tỳ-kheo Xiển-đà có tội mà không thấy tội. Thủ tục tiến hành như sau: Tập hợp Tăng rồi nêu lên tội (tác cử); nêu tội rồi bảo vị ấy nhớ lại (tác ức niệm); bảo nhớ lại rồi mới kết tội (dữ tội).
Thầy Yết-ma tác bạch với Tăng:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này phạm tội. Các Tỳ-kheo khác hỏi: “Thầy phạm tội vậy có thấy không?” Xiển-đà đáp: “Tôi không thấy”. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho Tỳ-kheo... pháp Yết-ma cử tội không thấy tội. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này phạm tội. Các Tỳ-kheo khác hỏi: “Thầy phạm tội vậy có thấy không?” Xiển-đà đáp: “Tôi không thấy”. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho Tỳ-kheo… pháp Yết-ma cử tội không thấy tội. Các Đại đức nào bằng lòng Tăng làm Yết-ma kết tội Xiển-đà không thấy tội thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ 2, thứ 3 cũng thế).
- Tăng đã bằng lòng làm Yết-ma kết tội Tỳ-kheo Xiển-đà không thấy tội, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Sau khi Tăng làm Yết-ma, vị này phải tuân hành 35 pháp như người học hối. Nếu người này biết ăn năn hối cải, tùy thuận chúng Tăng, thì Tăng sẽ làm Yết-ma giải tội.
6. Pháp Yết-ma cử tội, có tội mà không sám hối
Bấy giờ Tỳ-kheo Xiển-đà phạm tội, các Tỳ-kheo bảo: “Thầy có tội, phải sám hối.” Xiển-đà đáp: “Tôi không sám hối”. Các Tỳ-kheo bèn đem việc ấy bạch lên đức Thế Tôn. Thế Tôn khiển trách Xiển-đà, rồi bảo các Tỳ-kheo bạch tứ yết ma cử tội Xiền-đà có tội mà không sám hối. Mọi thủ tục diễn tiến như trường hợp cử tội không thấy tội. Sau đó, nếu vị này ăn năn hối lỗi, muốn được giải tội, thì có thể xin Tăng pháp Yết-ma giải tội vào các dịp Tăng thọ trai hoặc Bố-tát.
7. Pháp Yết-ma khuyên người bỏ ác kiến
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo A-lợi-tra sinh ra ác kiến như sau: “Theo tôi hiểu ý nghĩa pháp do Phật thuyết giảng, thì phạm dâm dục không phải là pháp chướng đạo”.
Các Tỳ-kheo nghe A-lợi-tra sinh ác kiến như thế, liền đến chất vấn thầy. A-lợi-tra bèn xác nhận kiến giải của mình là như vậ. Các Tỳ-kheo bèn khuyến cáo A-lợi-tra: “Này A-lợi-tra! Thầy chớ nói như thế. Chớ hủy báng Thế Tôn. Hủy báng Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Ngài đã dùng vô số phương tiện chỉ rõ cách đoạn trừ dâm dục, diệt trừ các ý nghĩ về dâm dục, dập tắt sức nóng của dục, vượt qua sự trói buộc của ái nhiễm. Thế
Tôn đã dùng nhiều ví dụ để nói về dục: dục giống như hầm lửa lớn, như bĩ đuốc cỏ khơ, như trái chín trên cây, như vật mượn tạm, như miếng xương khơ, như cục thịt, như những gì đã thấy trong mộng, như dẫm trên mũi dao nhọn, như cái nồi đựng đầy nước để ngồi nắng gắt, như rắn độc, như lưỡi đao đang múa, như mũi kích nhọn. Chính đức Thế Tôn đã nói như vậy. Này A-lợi-tra! Đức Như Lai đã dạy: “Đoạn dục, xa lìa cấu uế, điều phục khát ái, diệt trừ hang ổ của dục, rời bỏ mọi trói buộc, ái hết Niết-bàn”. Thế thì vì sao thầy lại bảo rằng hành dâm không phải là pháp chướng đạo?”. Mặc dù các Tỳ-kheo đã ân cần khuyên bảo A-lợi-tra như vậy, nhưng thầy vẫn kiên trì chấp chặt ác kiến, và khẳng định rằng: “Đó mới là điều chân thật, ngồi ra đều hư vọng”. Các Tỳ-kheo không biết phải làm sao, bèn đem việc ấy đến trình lên đức Thế Tôn. Thế Tôn bèn cho gọi A-lợi-tra đến khiển trách, rồi bảo chúng Tăng từ nay về sau, nếu có Tỳ-kheo nào khởi lên ác kiến thì trước hết sai một Tỳ-kheo thanh tịnh đến khuyên can: “Này Đại đức, Đại đức không nên không nghe lời khuyên can. Đại đức hãy nghe lời khuyên can. Đại đức phải như pháp khuyên can các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng như pháp khuyên can Đại đức. Hàng đệ tử của Phật phải khuyên căn lẫn nhau, chỉ bảo lẫn nhau, sám hối với nhau, mới tăng thêm lợi ích. Đại đức nên bỏ việc ấy đi, đừng để Tăng khiển trách, mà phạm tội nặng”.
Can như thế mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ, thì phải tập hợp Tăng để khuyên can.
Thể thức bạch Yết-ma như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo (mỗ giáp) có ác kiến, không nghe lời người khác. Các Tỳ-kheo dùng giới luật để dạy bảo mà không chịu nghe lời, lại còn nói với các Tỳ-kheo rằng: “Các Đại đức đừng bảo tôi tốt hay xấu. Tôi cũng không bảo các Đại đức tốt hay xấu. Xin các Đại đức hãy thôi đi, đừng khuyên bảo tôi làm chi”. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng hãy khuyên vị Tỳ-kheo... này như sau: “Thầy không nên không nghe lời khuyên can mà nên nghe lời. Thầy nên như pháp khuyên can các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng như pháp khuyên can thầy. Hàng đệ tử Phật phải khuyên can lẫn nhau, chỉ bảo lẫn nhau, sám hối nhau, mới tăng thêm lợi ích.” Đây là lời tác bạch.
Tác bạch xong, thầy Yết-ma lại bảo:
- Này Đại đức! Tôi đã tác bạch xong, còn 3 lần Yết-ma nữa. Đại đức nên bỏ việc đó đi, đừng để Tăng khiển trách mà thêm tội nặng.
Nếu nghe lời thì tốt, bằng không nghe lời, thì bạch Yết-ma lần thứ nhất:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo… này có ác kiến không chịu nghe lời khuyên can. Các Tỳ-kheo dùng giới luật như pháp dạy bảo mà không nghe lời, lại cònnói với các Tỳ-kheo: “Các Đại đức chớ bảo tôi tốt hay xấu. Tôi cũng không bảo các Đại đức tốt hay xấu. Các Đại đức hãy thôi đi, chớ bảo tôi làm chi”. Tăng nay khuyên vị Tỳ-kheo... này bỏ việc ấy, như sau: “Thầy không nên không nghe lời, mà nên nghe lời. Thầy nên như pháp khuyên can các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo cũng phải như pháp khuyên can thầy. Hàng đệ tử của Phật có khuyên can lẫn nhau, chỉ
bảo lẫn nhau, sám hối lẫn nhau, mới tăng thêm lợi ích”. Các Đại đức nào bằng lòng để Tăng khuyên can vị Tỳ-kheo… bỏ việc ấy thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói”. Đây là Yết-ma lần thứ nhất.
Bạch Yết-ma lần thứ nhất xong, nên bảo:
- Này Đại đức! Tôi đã bạch Yết-ma lần thứ nhất xong, cònhai lần Yết-ma nữa Đại đức nên bỏ việc ấy đi, chớ để Tăng khiển trách mà mắc tội nặng.
Nếu vâng lời thì tốt, bằng không vâng lời thì bạch Yết-ma lần thứ hai như trên: Xong hai lần Yết-ma lại bảo:
- Này Đại đức! Tôi đã bạch Yết-ma lần thứ hai xong, cònmột lần Yết-ma nữa. Đại đức nên bỏ việc ấy đi, chớ để Tăng khiển trách mà thêm tội nặng.
Nếu vâng lời thì tốt, bằng không vâng lời, thì bạch Yết-ma lần thứ ba như trên, rồi kết luận:
- Tăng đã khuyên vị Tỳ-kheo... bỏ việc ấy xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Khi Yết-ma xong mà bỏ thì phạm 6 tội Đột-cát-la (vì đã được khuyên can ở chỗ vắng 3 lần, và khuyên can ở chỗ nhiều người 3 lần), và 4 tội Thâu-lan-giá, (vì để trải qua 1 lần bạch và 3 lần Yết-ma ở giữa chúng Tăng). Tăng Yết-ma xong mà không bỏ thì phạm tội Tăng tàn.
Luật Tăng Kỳ nói: “Đối với người có ác kiến này, Tăng chúng không nên sống chung, không nên cùng nói chuyện, cùng ăn chung, cùng làm việc Phật, Pháp, Tăng, không cùng Bố tát, tự tứ và làm các pháp Yết-ma. Có thể mời ngoại đạo ngồi, chứ không mời người bị cử tội này ngồi. Nếu người này bị bệnh thì Tăng chúng không nên chăm
sóc, mà chỉ nhờ đàn việt hoặc thân nhân của vị ấy đến chăm sóc. Nếu vị ấy chết thì không nên dùng hương hoa, thức ăn uống cúng dường tử thi. Tăng cũng không nên chia y bát, không nên dùng lễ hỏa thiêu, mà nên lấy y bát buộc vào cổ, đặt tử thi lên giường, khiêng ra ngồi già lam, rồi tuyên cáo rằng: “Việc của chúng Tăng đã thanh tịnh. Không nên khởi ác tâm đối với Tỳ-kheo ác kiến này.” Sở dĩ làm như vậy là để người sau đừng bắt chước thói ác kiến ấy. Nếu trường hợp mục đồng hay người đốn củi nhặt được y bát của người ấy đem đến cúng dường, thì chúng Tăng có thể nhận lấy, vì xem như đó là tịnh vật do họ cúng dường. 19
8. Pháp Yết-ma can người phá Tăng
Bản chất của Tăng là thanh tịnh và hòahợp, nên khi Tăng không cònhòahợp, chia thành nhóm riêng, sinh hoạt và làm pháp Yết-ma riêng, thì gọi là phá hòahợp Tăng. Sự phá hòa hợp Tăng gồm có 18 yếu tố như sau:
1. Như pháp mà bảo là phi pháp.
2. Phi pháp mà bảo là như pháp.
3. Đúng luật mà cho rằng không đúng luật.
4. Không đúng luật mà cho rằng đúng luật.
5. Phạm tội mà cho rằng không phạm.
6. Không phạm tội mà cho rằng phạm.
7. Tội nhẹ mà cho rằng tội nặng.
8. Tội nặng mà cho rằng tội nhẹ.
9. Tội có thể sám hối mà cho rằng không thể sám hối.
10. Tội không thể sám hối mà cho rằng có thể sám hối.
19 Tăng kỳ, tập III,tr 294
11. Tội thơ ác mà cho rằng không thơ ác.
12. Tội không thơ ác mà cho rằng thơ ác.
13. Việc nên làm mà cho rằng không nên làm.
14. Việc không nên làm mà cho rằng nên làm.
15. Phật có chế định mà cho rằng Phật không chế định.
16. Phật không chế định mà cho rằng Phật có chế định.
17. Phật có dạy mà cho rằng Phật không dạy.
18. Phật không dạy mà cho rằng Phật có dạy.20
Chung quy, việc phá Tăng bao gồm trong 2 trường hợp:
1. Phá Yết-ma Tăng.
2. Phá Pháp luân Tăng.
Trường hợp phá Yết-ma Tăng là trong một trú xứ có ít nhất 8 Tỳ-kheo, chia làm hai nhóm, làm Yết-ma riêng, sinh hoạt riêng, đó gọi là phá Yết-ma Tăng. Phá Yết-ma Tăng, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đều có thể phá được, và trong quá khứ, hiện tại, cũng như tương lai đều có thể phá. Trái lại, phá Pháp luân Tăng, ít nhất phải có 9 Tỳ-kheo như pháp, chia làm hai nhóm, một nhóm 5 người, một nhóm 4 người. Trong nhóm 5 người, có một người tự xưng là Phật, đối lập với đức Phật, đề xướng một giáo pháp hay pháp luân khác với pháp luân của Phật, và cho đó là con đường chơn chánh hướng đến Niết-bàn, rồi 4 người kia phụ họa theo. Pháp luân của Phật chỉ cho 8 thánh đạo, tức là 8 con đường chính hướng đến 4 quả Sa-môn.
Phá Pháp luân Tăng phải là Tỳ-kheo như pháp ở trong cùng cương giới hay ngồi cương giới đều có thể phá, và
20 Tứ Phần Luật, Đ 22, tr. 883a.
chỉ có một trường hợp duy nhất xảy ra vào thời đức Phật, do Đề-bà-đạt-đa đề xướng. Tỳ-kheo-ni không thể phá pháp luân Tăng. Luật Thập Tụng thuật lại việc Đề-bà-đạt-đa phá Pháp luân Tăng như sau: Điều-đạt (Đề-bà-đạt-da) xuất gia với thiện tâm, trong 12 năm đầu tu hành tinh tấn, nhưng sau đó ưa tu phép thần thông, phế bỏ chánh đạo. Ông muốn đảo chánh Phật, để giành quyền lãnh đạo chúng Tỳ-kheo, bèn cấu kết với vua A-xà-thế, xúi vua sát hại phụ vương để cướp ngơi, cònông lật đổ Phật để làm lãnh tụ. Một hôm, ông bàn bạc với 4 người đệ tử là Cụ-già-lê, Càn-đà-phiêu, Ca-lưu-la-đề-xá và Tam-văn-đạt-đa, rồi cùng nhau đến thưa với Phật: “Bạch Thế Tôn! Thế Tôn tuổi tác đã cao, nên giao chúng Tăng lại cho con. Thế Tôn chỉ cần hưởng thọ pháp lạc hiện tại, để chúng Tăng cho con lãnh đạo”.
Phật dạy: “Này Điều-đạt! Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, có đại trí tuệ thần thông như thế, mà ta cònkhông giao chúng Tăng cho họ thay, huống gì ngươi là người ngu, là thây chết, mà ta lại đem Tăng chúng giao cho ngươi hay sao?” Bị đức Phật bác bỏ ý đồ đen tối của mình, Điều-đạt bèn bàn với 4 đệ tử tâm phúc như sau: “Ta với các ngươi hãy cùng nhau phá hòahợp Tăng, hoại pháp luân của Sa-môn Cù-đàm. Làm được như thế chúng ta sẽ nổi tiếng là người đã phá hòahợp Tăng và hoại pháp luân”.
Đã rắp tâm như thế, Điều-đạt liền xướng xuất năm điều phi pháp:
1. Tỳ-kheo suốt đời mặc y phấn tảo.
2. Tỳ-kheo suốt đời sống theo hạnh khất thực.
3. Tỳ-kheo suốt đời chỉ ăn mỗi ngày một bữa.
4. Tỳ-kheo suốt đời ngủ dưới khoảng đất trống.
5. Tỳ-kheo suốt đời không ăn thịt.21
Luật dạy: Khi biết có một nhóm Tỳ-kheo muốn phá Tăng, thì Tăng nên sai một Tỳ-kheo thân tình với nhóm người ấy đến khuyên can họ. Nếu khuyên can không được, thì sai 2, 3 Tỳ-kheo đến khuyên can. Nếu 2, 3 người khuyên can cũng không có kết quả, thì phải hợp Tăng, bạch tứ Yết-ma khuyên can. (thể thức tương tự như các pháp Yết-ma trước)
Thầy Yết-ma bạch:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo (mỗ giáp) này muốn dùng phương tiện phá hòa hợp Tăng, kiên trì không bỏ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay làm Yết-ma khuyên thầy bỏ việc ấy như sau: “Này Tỳ-kheo... thầy đừng nên phá hòahợp Tăng, kiên trì không bỏ. Này Tỳ-kheo... thầy nên cùng chúng Tăng hòa hợp, hoan hỷ không tranh cãi, như sữa hòa với nước, sống an lạc trong Phật pháp”. Đây là lời tác bạch. (Tác bạch rồi thầy Yết-ma nên khuyên người ấy) Này Đại đức! Tôi đã tác bạch xong, còn3 lần Yết-ma nữa, thầy nên bỏ việc ấy, đừng để Tăng làm Yết-ma mà thêm tội nặng.
Nói như thế rồi, nếu nghe lời thì tốt, nếu không nghe lời thì bạch Yết-ma lần thứ nhất:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo... này muốn dùng phương tiện phá hòa hợp Tăng, kiên trì không bỏ. Tăng nay khuyên can bỏ việc ấy: “Này Tỳ-kheo... thầy đừng phá hòahợp Tăng, kiên trì không bỏ. Thầy nên cùng
21 Đ23, tr.259a
chúng Tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như sữa hòa với nước, sống an lạc trong Phật pháp”.
- Các Đại đức nào bằng lòng việc Tăng làm Yết-ma khuyên Tỳ-kheo... bỏ việc ấy thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất.
Làm yết ma như thế rồi, nên can người ấy rằng:
- Này Đại đức! Tôi đã bạch Yết-ma lần thứ nhất xong, cònhai lần Yết-ma nữa. Thầy nên bỏ việc ấy, đừng để Tăng làm Yết-ma mà thêm tội nặng.
Nếu nghe lời thì tốt. Nếu không nghe lời thì Yết-ma lần thứ 2 như trên. Xong 2 lần Yết-ma nên khuyên:
- Này Đại đức! Tôi đã bạch Yết-ma lần thứ 2 xong rồi, còn một lần Yết-ma nữa, thầy nên từ bỏ việc ấy, đừng để Tăng làm Yết-ma mà thêm tội nặng.
Nếu bỏ thì tốt, bằng không bỏ thì bạch Yết-ma lần thứ 3 như trên rồi kết luận:
- Tăng đã bằng lòng làm Yết-ma khuyên Tỳ-kheo... bỏ việc ấy xong, vì im lặng, tôi ghi nhận như vậy.
Trong pháp khuyên can này, nếu bạch lần đầu chưa xong mà bỏ thì phạm tội Đột-cát-la. Nếu bạch xong mới bỏ thì phạm tội Thâu-lan-giá nhẹ. Nếu một lần bạch và một lần Yết-ma xong mà bỏ, thì phạm hai tội Thâu-lan-giá nhẹ. Nếu 1 lần tác bạch và 2 lần Yết-ma xong mà bỏ thì phạm 3 tội Thầu-lan-giá nặng. Nếu 3 lần Yết-ma xong mà không bỏ, thì phạm tội Tăng tàn. Nếu hồn tồn chưa bạch, và không bỏ, thì chỉ phạm tội Đột-cát-la.22
22 Tỳ-ni Tác Trì Tục Thích, Tục Tạng kinh, tập 65, tr. 292-294
9. Pháp Yết-ma khiển trách đệ tử
Nếu có đệ tử không tuân theo phép tắc của thiền môn, không phụng sự Hòathượng, A-xà-lê, không biết hổ thẹn, không nghe lời dạy bảo, làm những việc trái oai nghi, không cung kính, bướng bỉnh cứng đầu, kết bạn với kẻ ác; ưa đến nhà phụ nữ, thiếu nữ, Hồng môn; hoặc đến tinh xá của Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, thì Hòa thượng, A-xà-lê phải làm Yết-ma khiển trách. Pháp Yết-ma này tuần tự làm 3 việc:
1. Gọi đệ tử đến trước mặt.
2. Nêu ra lỗi lầm, bắt họ phải thừa nhận.
3. Cân nhắc lỗi lầm để khiển trách đúng mức.
Khi đệ tử có lỗi, thầy phải dạy bảo hết lòng, không nên vì tình thương mà bỏ qua không nói đến; hoặc là khi đệ tử có lỗi nhẹ mà nổi giận khiển trách một cách gay gắt. Làm như thế là cư xử không thích đáng. Người trên đã tự coi thường mình thì phép mơ phạm không được tuân thủ, người dưới sẽ bất bình, việc phụng sự sẽ chểnh mảng. Thế nên phải xử sự thích đáng, mừng giận đúng lúc, theo đúng luật mà dạy dỗ quở trách, đó mới gọi là người hướng dẫn giỏi.
Khi khiển trách có 5 cách nói:
1. Nay tôi khiển trách ông, ông hãy đi đi.
2. Ông đừng vào phòng tôi.
3. Ông đừng làm thị giả cho tôi nữa.
4. Ông đừng đến chỗ tôi nữa.
5. Tôi không nói chuyện với ông.
Đó là cách Hòathượng khiển trách đệ tử.
Người đệ tử sau khi bị khiển trách thì mỗi ngày 3 lần: sáng, trưa và chiều phải đến Hòa thượng, A-xà-lê sám hối. Cách sám hối phải làm là bỏ giày dép, để trần vai áo bên phải, chân phải quỳ xuống đất, chắp tay nói lời sám hối:
- Kính bạch Hòathượng, con… nay xin sám hối, không dám tái phạm nữa. (nói 3 lần).
Nếu cho sám hối thì tốt, bằng không cho thì mỗi ngày phải đến sám hối 3 lần như thế. Nếu đã làm như vậy mà thầy vẫn không cho, thì phải nhúng nhường tùy thuận, tìm mọi phương tiện để sửa đổi lỗi lầm. Thế nhưng nếu đã nhúng nhường tùy thuận, mà thầy vẫn không nhận sự sám hối, thì Tăng sẽ theo đúng pháp mà trị thầy.
Nếu đệ tử bị trị phạt, chưa sám hối, mà thầy lại nhận sự cung cấp và nhận làm người y chỉ, thì đó là việc phi pháp, cần phải trị phạt thầy.
Luật Thập Tụng nói: “Nếu đệ tử có 5 điều:
1. Không thương (thầy).
2. Không kính.
3. Không hổ.
4. Không thẹn.
5. Ưa đến những nơi không đáng đến mà Hòathượng không răn dạy, thì Hòathượng mắc tội”.
10. Pháp khuyên và đuổi Sa-di tà kiến
Pháp Yết-ma này chia làm hai giai đoạn: Trước hết, khuyên Sa-di ấy bỏ ác kiến, nếu khuyên không có kết quả thì Tăng sẽ làm Yết-ma đuổi hẳn. Pháp Yết-ma này không cho đương sự có mặt
Bấy giờ có 2 Sa-di Yết-ma và Ma-hầu-ca, cùng làm hạnh bất tịnh (đồng tính luyến ái), và tự bảo nhau: “Bọn chúng ta từng theo Phật nghe pháp, chúng ta hiểu rằng, việc hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo”. Các Tỳ-kheo nghe thế, bèn khiển trách 2 Sa-di ấy, rồi bạch lên Thế Tôn23
Luật Căn Bản lại nêu một trường hợp khác:
Hai Sa-di Lợi Thích và Trường Đại cùng sống chung với các Tỳ-kheo. Trong số các Tỳ-kheo có người đùa cợt, vuốt ve hai Sa-di. Sau đó, họ hối hận về hành vi bất tịnh của mình, nên nỗ lực tu tập, và chứng quả A-la-hán, có thần thông tự tại bay trên hư không. Hai Sa-di thấy thế, nên cho rằng sự hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo. Mặc dù được các Tỳ-kheo khuyến cáo rằng sự suy nghĩ của họ là ác kiến, nhưng các Sa-di vẫn cố trưng bằng chứng sai lầm của mình.24
Khi sự kiện trên được trình lên Thế Tôn, Thế Tôn liền dạy các Tỳ-kheo bạch tứ Yết-ma khuyên can hai Sa-di kia bỏ ác kiến ấy.
Thể thức bạch Yết-ma như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Các Sa-di này tự bảo nhau: “Theo chỗ chúng ta nghe pháp mà Thế Tôn giảng dạy, thì việc hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo”. Tăng nay khuyên các Sa-di này bỏ việc ấy như sau: “Này các Sa-di, các ngươi chớ phỉ báng Thế Tôn, phỉ báng Thế Tôn là việc bất thiện. Đức Thế Tôn không bảo
23 Tứ Phần luật, Đ22, tr. 683c.
24 Luật Căn Bản, Đ 23, tr. 841b
như thế. Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện dạy rằng dâm dục là pháp chướmg đạo”. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Các Sa-di này tự bảo nhau: “Theo chỗ chúng ta nghe pháp mà Thế Tôn giảng dạy, thì việc hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo”. Tăng nay khuyên các Sa-di này bỏ việc ấy như sau: “Này các Sa-di, các ngươi chớ phỉ báng Thế Tôn, phỉ báng Thế Tôn là việc bất thiện. Đức Thế Tôn không bảo như thế. Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện dạy rằng dâm dục là pháp chuớng đạo”. Các Đại đức nào đồng ý việc Tăng khiển trách những Sa-di này bỏ ác kiến thì im lặng, ai không đồng ý hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ 2, lần thứ 3 cũng thế).
- Tăng đã đồng ý khiển trách các Sa-di này, vì im lặng; tôi ghi nhận như vậy.
Theo luật, sự khuyên can Sa-di bỏ ác kiến này không giống với thể thức khuyên can Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Vì khi khuyên can Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni thì phải tuần tự khuyên can đến 3 giai đoạn.
Nếu Tăng đã ba lần Yết-ma xong mà Sa-di không bỏ ác kiến, thì sẽ làm Yết-ma đuổi hẳn.
Thể thức bạch Yết-ma như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Các Sa-di này đã được Tăng khuyến cáo bỏ ác kiến, mà ngoan cố không bỏ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho các Sa-di này pháp Yết-ma đuổi hẳn, bảo như sau: “Này các Sa-di, từ nay trở đi, các ngươi không được nói: Phật là đức Thế Tôn của con, không được đi theo các Tỳ-kheo khác. Những
Sa-di khác được ngủ chung phòng với Tỳ-kheo hai đêm, ba đêm, nhưng các ngươi thì không được. Các ngươi hãy rời khỏi đây, đi nơi khác, không được ở đây nữa”. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Các Sa-di này đã được Tăng khuyến cáo bỏ ác kiến, mà ngoan cố không bỏ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho các Sa-di này pháp Yết-ma đuổi hẳn, bảo như sau: “Này các Sa-di, từ nay trở đi, các ngươi không được nói: Phật là đức Thế Tôn của con, không được đi theo các Tỳ-kheo khác. Những Sa-di khác được ngủ chung phòng với Tỳ-kheo hai đêm, ba đêm, nhưng các ngươi thì không được. Các ngươi hãy rời khỏi đây, đi nơi khác, không được ở đây nữa”. Các Đại đức nào đồng ý việc Tăng cho những Sa-di này pháp Yết-ma đuổi hẳn thì im lặng; ai không đồng ý hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất, (lần thứ 2, lần thứ 3 cũng thế).
- Tăng đã đồng ý cho các Sa-di này pháp Yết-ma đuổi hẳn, vì im lặng; tôi ghi nhận như vậy.
Làm Yết-ma xong, phải đuổi những Sa-di ấy ra khỏi già lam. Các Tỳ-kheo không được chứa chấp. Trong trường hợp Sa-di phạm 4 trọng giới thì nên làm Yết-ma đuổi hẳn. Ngồi ra, nếu phạm các tội khác thì tùy theo nặng nhẹ hoặc khuyên dạy, hoặc đuổi hẳn. Thể thức Yết-ma dựa theo trên đây, chỉ thay đổi những chỗ cần thiết.
11. Pháp Yết-ma can Tỳ-kheo-ni theo Tỳ-kheo phạm tội
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo Xiển-đà bị Tăng cử tội, nhưng thầy không tùy thuận chúng Tăng và chúng Tăng cũng chưa giải pháp cử tội. Thế mà Tỳ-kheo-ni Úy Thứ lại săn sóc hầu
hạ Xiển-đà. Các Tỳ-kheo-ni can cô không được làm như thế, nhưng Úy Thứ bảo rằng Tỳ-kheo Xiển-đà là anh cô, nên cô phải có bổn phận cúng dường, chăm sóc. Các Tỳ-kheo-ni liền đem việc đó bạch với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo bạch lên Thế Tôn, Thế Tôn cho gọi Úy Thứ đến khiển trách, rồi dạy các Tỳ-kheo-ni bạch tứ Yết-ma, cho cô Úy Thứ pháp khiển trách. Thể thức tác bạch như sau:
- Xin Đại đức Ni Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo-ni (mỗ giáp) này biết Tỳ-kheo (mỗ giáp) kia đã bị Tăng cử tội như pháp, như luật, như lời Phật dạy, mà không tùy thuận, không sám hối. Do đó, Tăng chưa cho phép ở chung, thế mà cô này tùy thuận Tỳ-kheo ấy. Các Tỳ-kheo-ni đã bảo rằng: “Tỳ-kheo ấy đã bị Tăng cử tội như pháp, như luật, như lời Phật dạy, mà không tùy thuận, không sám hối. Do đó, Tăng chưa cho phép ở chung. Cô không được tùy thuận”, thế mà cô này vẫn ngoan cố tùy thuận. Nếu thời gian thích hợp đối với Ni Tăng, Ni Tăng nay cho cô này pháp Yết-ma khiển trách, bảo phải bỏ việc ấy: “Này sư cô! Tỳ-kheo ấy đã bị Tăng cử tội như pháp, như luật, như lời Phật dạy, mà không tùy thuận, không sám hối. Do đó, Tăng chưa cho phép ở chung. Sư cô không nên tùy thuận”. Đây là lời tác bạch.
Tác bạch xong, vị Yết-ma nên bảo:
- Cô nên biết, tôi đã bạch xong, còn3 lần Yết-ma nữa, cô nên bỏ việc ấy, đừng để Ni Tăng cử tội mà thêm tội nặng.
Nếu cô ấy nghe lời khuyên bảo thì tốt, bằng không nghe lời khuyên bảo, thì phải làm Yết-ma lần thứ nhất:
- Xin Đại đức Ni Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo-ni (mỗ
giáp) này biết Tỳ-kheo (mỗ giáp) kia đã bị Tăng cử tội như pháp, như luật, như lời Phật dạy, mà không tùy thuận, không sám hối. Do đó, Tăng chưa cho phép ở chung, thế mà cô này tùy thuận Tỳ-kheo ấy. Các Tỳ-kheo-ni đã bảo cô rằng: “Tỳ-kheo ấy đã bị Tăng cử tội như pháp, như luật, như lời Phật dạy, mà không tùy thuận, không sám hối. Do đó, Tăng chưa cho phép ở chung. Cô không được tùy thuận”, thế mà cô vẫn ngoan cố tùy thuận.Ni Tăng nay cho cô này pháp Yết-ma khiển trách bảo phải bỏ việc ấy: “Này sư cô! Tỳ-kheo ấy đã bị Tăng cử tội như pháp, như luật, như lời Phật dạy, mà không tùy thuận, không sám hối. Do đó, Tăng chưa cho phép ở chung. Sư cô không nên tùy thuận”. Các Đại đức Ni Tăng nào bằng lòng việc Ni Tăng cho Tỳ-kheo-ni này pháp Yết-ma khiển trách bảo phải bỏ việc ấy thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Đây là Yết-ma lần thứ nhất.
Làm Yết-ma lần thứ nhất xong nên bảo:
- Này cô! Tôi đã bạch Yết-ma lần thứ nhất xong, cònhai lần Yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc ấy, chớ để Ni Tăng cử tội mà thêm tội nặng.
Nếu cô ấy nghe lời thì tốt, bằng không nghe lời, thì tiếp tục làm Yết-ma lần thứ hai. Hai lần Yết-ma xong lại bảo:
- Cô nên biết, tôi đã bạch hai lần Yết-ma xong, còn1 lần Yết-ma nữa. Cô nên bỏ việc ấy, đừng để Ni Tăng cử tội mà thêm tội nặng.
Nếu cô ấy nghe lời thì tốt, bằng không nghe lời, thì làm Yết-ma lần thứ 3 như trên, rồi kết luận:
- Ni Tăng đã bằng lòng làm Yết-ma khiển trách Tỳ-kheo-ni này khiến phải bỏ việc ấy xong, vì im lặng; tôi ghi nhận như vậy.
Pháp khiển trách trên đây, nếu bạch chưa xong mà bỏ thì phạm một tội Đột-cát-la. Nếu bạch xong mới bỏ thì phạm một tội Thâu-lan-giá nhẹ. Nếu qua 1 lần bạch và 1 lần Yết-ma xong mới bỏ thì phạm 2 tội Thâu-lan-giá nhẹ. Nếu qua một lần tác bạch và 2 lần Yết-ma xong mới bỏ thì phạm 3 tội Thâu-lan-giá nặng. Nếu 3 lần Yết-ma xong mà không bỏ thì phạm tội Ba-la-di.
Nếu trước khi chưa bạch thì tất cả những ai tùy thuận thầy Tỳ-kheo bị cử tội ấy đều phạm Đột-cát-la. Nếu khi tác pháp mà có Tỳ-kheo bảo: “đừng bỏ”, thì người này phạm Thâu-lan-giá. Nếu khi chưa tác pháp mà khuyên “đừng bỏ”, thì người này phạm tội Đột-cát-la. Tỳ-kheo-ni cũng thế.25
12. Pháp Yết-ma cảnh cáo Tỳ-kheo của Ni chúng
Phật chế pháp thứ nhất trong 8 Kính pháp của Tỳ-kheo-ni là: “Tỳ-kheo-ni dù 100 tuổi mà khi thấy Tỳ-kheo mới thọ giới cũng phải đứng dậy lễ bái, trải tịa, mời ngồi. Pháp này phải cung kính Tôn trọng gìn giữ suốt đời, không được vi phạm.” Nhưng Phật cũng dạy: “Nếu có Tỳ-kheo đánh mắng Tỳ-kheo-ni, hoặc thóa mạ hoặc ném hoa, tạt nước, hoặc nói những lời thơ bỉ, trá ngụy khuyến dụ, thì cho phép Tỳ-kheo-ni bạch nhị Yết-ma tác pháp không lễ kính”. Thể thức tác bạch như sau:
25 Tỳ-ni Tác Trì Tục Thích, Tục Tạng kinh 65, tr.299-300
- Xin Đại đức Ni Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo (mỗ giáp) này đánh mắng Tỳ-kheo-ni, thậm chí dùng những lời trá ngụy khuyến dụ. Nếu thời gian thích hợp đối với Ni Tăng, Ni Tăng nay làm Yết-ma không lễ bái Tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Ni Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo (mỗ giáp) này đánh mắng Tỳ-kheo-ni, thậm chí dùng những lời trá ngụy khuyến dụ. Nếu thời gian thích hợp đối với Ni Tăng, Ni Tăng nay làm Yết-ma không lễ bái. Đại đức Ni nào bằng lòng Ni Tăng làm Yết-ma không lễ bái Tỳ-kheo... thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.
- Ni Tăng đã bằng lòng làm Yết-ma không lễ bái Tỳ-kheo... vì im lặng; tôi ghi nhận như vậy.
Pháp Yết-ma này kết cũng như giải, đều không có sự hiện diện của bị cáo.
Nếu thầy Tỳ-kheo này, sau đó ăn năn hối cải, tùy thuận Tỳ-kheo-ni, không dám trái nghịch, thì có thể đến chùa Ni, lễ độ chắp tay xin giải pháp Yết-ma như sau: “Trước đây vì vô trí, tôi đã xúc phạm quý Sư cô, từ nay trở đi tôi hứa sẽ không tái phạm nữa, xin các Sư cô giải pháp Yết-ma cho tôi”.
Ni chúng nếu xét thấy đúng như lời trình bày của thầy, thì sẽ giải pháp Yết-ma không lễ kính.
Thể thức bạch Yết-ma như sau:
- Xin Đại đức Ni Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo (mỗi giáp) này đã được Ni chúng làm pháp Yết-ma không lễ kính, sau đó đã tùy thuận Tỳ-kheo-ni, không dám trái nghịch. Nay
đến Ni chúng xin giải pháp Yết-ma không lễ kính. Nếu thời gian thích hợp đối với Ni chúng, Ni chúng giải pháp Yết-ma không lễ kính. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Ni Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo (mỗi giáp) này đã được Ni chúng làm pháp Yết-ma không lễ kính, sau đó đã tùy thuận Tỳ-kheo-ni, không dám trái nghịch. Nay đến Ni chúng xin giải pháp Yết-ma không lễ kính. Ni chúng nay giải pháp Yết-ma không lễ kính cho Tỳ-kheo... này. Đại đức Ni nào bằng lòng để Ni chúng giải pháp Yết-ma không lễ kính cho Tỳ-kheo... này thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.
- Ni chúng đã bằng lòng giải pháp Yết-ma không lễ kính cho Tỳ-kheo... này, vì im lặng; tôi ghi nhận như vậy.
13. Pháp Yết-ma phú bát (tẩy chay)
Nguyên nhân sự việc gồm có 3 xuất xứ:
1/ Tứ Phần: Tỳ-kheo Từ Địa vì bất mãn Tỳ-kheo Đạp-bà Ma-la-tử (Dabba-Malaputta), cho rằng Tôn giả ấy chia phòng cho mình không công bằng, nên xúi bạn thân là cư sĩ Đại Ly-xa vu cáo Đạp-bà phạm tội Ba-la-di. Đại Ly-xa nghe lời Từ Địa, đợi khi Phật và chúng Tăng tập hợp, liền đến vu khống Tỳ-kheo Đạp-bà xâm phạm vợ ông. Phật liền hỏi Đạp-bà có đúng thế không. Đạp-bà bạch: “Bạch Thế Tôn, con từ lúc sinh ra cho đến ngày nay, dù trong giấc chiêm bao cũng chưa từng tưởng đến sự dâm dục, huống nữa là khi tỉnh”. Do thế, Phật bèn bảo các Tỳ-kheo gạn hỏi Đại Ly-xa. Đại Ly-xa thành khẩn thưa rằng đó là do Tỳ-kheo Từ Địa xúi ông vu cáo. Do đó, Phật bảo các Tỳ-kheo
bạch nhị Yết-ma cho cư sĩ Ly-xa pháp phú bát, Tăng chúng không được qua lại tiếp xúc với Đại Ly-xa nữa.
2/ Tăng Kỳ: Ưu-bà-tắc Pháp Dự thường thỉnh chư Tăng đến nhà thọ trai. Mỗi lần chư Tăng đến, ông đem nghĩa lý trong kinh điển ra hỏi, vị nào trả lời không trôi chảy, ông chê bai và tỏ vẻ khinh thường ra mặt. Vì thế chúng Tăng không muốn đến nhà cư sĩ Pháp Dự nữa. Phật biết được việc đó, liền cho phép Tăng chúng làm pháp Yết-ma phú bát đối với gia đình Pháp Dự.
3/ Bách Nhất Yết-ma (Đ.24, tr.492b): Cư sĩ Lật Cô Tỳ Thiện Hiền, vì bị ác tri thức mê hoặc, vu cáo Tỳ-kheo Thật Lực phạm tội Ba-la-di. Các Tỳ-kheo liền bạch lên Thế Tôn. Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo đơn bạch Yết-ma cho cư sĩ Thiện Hiền pháp phú bát.
Trước khi làm pháp Yết-ma này, Tăng chúng phải thẩm xét, nếu gia đình cư sĩ ấy có 5 sự kiện sau đây, thì Tăng sẽ thực hiện pháp Yết-ma:
1. Bất hiếu với cha.
2. Bất hiếu với mẹ.
3. Không kính trọng Sa-môn.
4. Không kính trọng Bà-la-môn.
5. Không cung phụng Tỳ-kheo.
Nếu trái lại 5 việc trên thì không nên làm Yết-ma phú bát. Hoặc gia đình nào có 10 pháp sau đây cũng nên làm Yết-ma phú bát:
1. Mắng chửi, hủy báng Tỳ-kheo.
2. Làm cho Tỳ-kheo bị tổn hại.
3. Làm cho Tỳ-kheo mất lợi ích.
4. Làm cho Tỳ-kheo không có chỗ ở.
5. Đấu tranh, gây rối loạn chúng Tỳ-kheo.
6.7.8. Nói xấu Phật, pháp, Tăng trước mặt Tỳ-kheo.
9. Vu khống Tỳ-kheo phạm hạnh bất tịnh.
10. Xâm phạm đến Tỳ-kheo-ni.
Thể thức tác bạch như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Cư sĩ (mỗ giáp) này vu khống Tỳ-kheo thanh tịnh (mỗ giáp) phạm tội Ba-la-di vô căn cứ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho cư sĩ... pháp Yết-ma phú bát, không qua lại gia đình ấy nữa. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Cư sĩ (mỗ giáp) này vu khống Tỳ-kheo thanh tịnh (mỗ giáp) phạm tội Ba-la-di vô căn cứ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay cho cư sĩ... pháp Yết-ma phú bát; không qua lại gia đình ấy nữa. Các Đại đức nào bằng lòng việc Tăng làm Yết-ma phú bát không qua lại gia đình ấy nữa thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.
Tăng đã bằng lòng cho cư sĩ... pháp Yết-ma phú bát, vì im lặng, tôi ghi nhận như vậy.
Sau khi Tăng làm Yết-ma xong, liền cử một sứ giả đến báo cho gia đình ấy biết rằng Tăng đã làm Yết-ma phú bát đối với gia đình ông. Sứ giả do Tăng sai cần có 8 đức tính như sau:
1. Có thể nghe: Khi được Tăng sai bảo ủy thác, nghe rõ, ghi nhớ không sai sót.
2. Có thể nói: Đối với các bậc trí thức không hề khiếp sợ.
3. Tự hiểu được vấn đề: Tự mình lãnh hội được sự việc, không cần người khác chỉ bảo.
4. Có thể làm cho người khác hiểu: Biết người ta muốn gì nói ra hợp với ý họ.
5. Có thể nhận lời chỉ bảo của người: Biết lãnh hội những lời nói có ích, không nói những lời tổn hại.
6. Có thể ghi nhớ: Thông suốt sự việc và nghĩa lý, khéo hộ trì giới luật.
7. Không lầm lẫn: Trình bày chính xác, không nói lộn xộn.
8. Phân biệt được việc phải trái: Khi bị chất vấn không bối rối, trình bày khiến người ta hoan hỷ.26
Nếu cư sĩ này, sau đó ăn năn sám hối, tùy thuận chúng Tăng, không dám trái nghịch, thì có thể đến chúng Tăng xin giải pháp Yết-ma phú bát, và Tăng sẽ làm Yết-ma như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Vừa rồi Tăng đã cho cư sĩ... pháp Yết-ma phú bát, không qua lại gia đình ấy nữa. Nay cư sĩ ấy đã tùy thuận chúng Tăng, không dám trái nghịch, đến xin Tăng giải pháp Yết-ma phú bát. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay giải pháp Yết-ma phú bát cho cư sĩ... và đi lại như trước. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Vừa rồi Tăng đã cho cư sĩ... pháp Yết-ma phú bát, không qua lại gia đình ấy nữa. Nay cư sĩ ấy đã tùy thuận chúng Tăng, không dám trái nghịch, đến xin Tăng giải pháp Yết-ma phú bát. Các Đại đức nào bằng lòng Tăng giải pháp Yết-ma phú bát cho cư sĩ... và đi lại như trước thì im lặng, ai không bằng
26 Tỳ-ni Tác Trì Tục Thích, Tục Tạng 65, tr.306
lòng thì nói.
- Tăng đã bằng lòng giải pháp Yết-ma phú bát cho cư sĩ và đi lại như trước, vì im lặng, tôi ghi nhận như vậy.27
14. Pháp Yết-ma công nhận học gia
(Đây thuộc về loại Yết-ma bảo vệ)
Từ học gia là chỉ cho gia đình cả hai vợ chồng đều đã kiến đế, tức đã chứng đắc thánh quả từ Dự Lưu đến Bất Hồn. Xuất xứ của pháp Yết-ma này mỗi bộ nêu một gia đình khác nhau, nhưng đều là các thánh đệ tử tại gia nổi tiếng thời đức Phật. Theo Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-da Bách Nhất Yết-ma (Đ.24, tr.475) thì đây là gia đình trưởng giả Sư Tử. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, họ đã đoạn trừ phiền não, chứng quả Dự Lưu ngay tại chỗ. Do đó, đối với Tam bảo họ phát khởi lòng tịnh tín sâu xa, thường đem tài sản đến cúng dường, đến nỗi gia cảnh trở nên khánh kiệt, nên bị các người thế tục chê bai. Vì thế, đức Phật bảo các Tỳ-kheo tác pháp Yết-ma học gia, ngăn không cho các Tỳ-kheo đến nhà trưởng giả Sư Tử nữa. Thể thức bạch Yết-ma như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Có một gia đình cư sĩ ở tại..., cả hai vợ chồng đều đã thành tựu tịnh tín, là đệ tử Phật, tài sản bị khánh tận. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay tác pháp Yết-ma xác nhận đó là học gia. Các Tỳ-kheo không ai được đến gia đình ấy để nhận thức ăn. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Có một gia đình cư sĩ ở tại..., cả hai vợ chồng đều đã thành tựu tịnh tín, là đệ tử
27 Tăng kỳ IV, tr. 51
Phật, tài sản bị khánh tận. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay tác pháp Yết-ma xác nhận đó là học gia. Các Tỳ-kheo không ai được đến gia đình ấy để nhận thức ăn. Các Đại đức nào bằng lòng việc Tăng tác Yết-ma xác nhận cư sĩ ấy là học gia thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.
Tăng đã bằng lòng tác Yết-ma xác nhận cư sĩ ấy là học gia, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Nếu qua một thời gian, gia đình ấy làm ăn phát đạt, đời sống trở nên sung túc, thì họ có thể đến thỉnh cầu chư Tăng giải pháp Yết-ma học gia bằng cách tác bạch như sau:
- Kính bạch Đại đức Tăng! Con là... có niềm tin kiên cố thuần thành đối với Tam bảo, thường đem tài sản bố thí cúng dường những người đến xin, không hề hối tiếc. Do nhân duyên ấy mà tài sản trở nên khánh kiệt, dẫn đến bần cùng. Đại đức Tăng vì thế thương tưởng, tác pháp Yết-ma học gia đối với gia đình con, khiến Thánh chúng không đến nhà con. Hiện nay, tài sản của con đã sung túc trở lại. Con đến thỉnh cầu chư Tăng giải pháp Yết-ma học gia cho gia đình con. Ngưỡng mong Đại đức Tăng từ bi hứa khả. (bạch 3 lần)
Nếu xét thấy đúng như lời trình bày của gia chủ thì Tăng sẽ làm Yết-ma giải pháp học gia, bằng cách tác bạch như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Có một gia đình cư sĩ ở tại... cả hai vợ chồng đều đã thành tựu tịnh tín, là đệ tử Phật. Do nhiệt tình bố thí cùng dường, nên gia sản của họ trở nên khánh kiệt. Vì thế, trước đây Tăng đã tác pháp Yết-ma học gia cho gia đình ấy. Nay gia đình ấy tài vật đã
sung túc như trước, nên đến thỉnh cầu Tăng giải pháp Yết-ma học gia. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay giải pháp Yết-ma học gia cho gia đình ấy. Đây là lời tác bạch.
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe! Có một gia đình cư sĩ ở tại... cả hai vợ chồng đều đã thành tựu tịnh tín, là đệ tử Phật. Do nhiệt tình bố thí cúng dường, nên gia sản của họ trở nên khánh kiệt. Vì thế, trước đây Tăng đã tác pháp Yết-ma học gia cho gia đình ấy. Nay gia đình ấy tài vật đã sung túc như trước, nên đến thỉnh cầu Tăng giải pháp Yết-ma học gia. Tăng nay giải pháp Yết-ma học gia cho gia đình ấy. Các Đại đức nào bằng lòng việc Tăng giải pháp Yết-ma học gia thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.
- Tăng đã bằng lòng giải pháp Yết-ma học gia cho cư sĩ ấy, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.28
Pháp Yết-ma này không được thực hiện khi có sự hiện diện của đối tượng Yết-ma. Sau khi Tăng giải pháp Yết-ma xong, các Tỳ-kheo sẽ đi lại gia đình ấy thọ nhận thức ăn như trước.
***
28 Tỳ-ni Tác Trì Tục Thích, Châu Hoằng, Tục Tạng 65, tr.290