Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Luật Học Tinh Yếu

Luật Học Tinh Yếu

Tác giả: HT: Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 325.

Chương 4: II. Lịch sử truyền thừa luật tứ phần (Trang 17 - 36)

2.   Biệt trú Kiền-độ (Pàsivàsika-Khandhaka): Biệt trú.
3.   Phú tàng Kiền-độ (Samuccaya-Khandhaka): Phú tàng.
4.   Diệt tránh Kiền-độ (Samatha-Khandhaka): Dập tắt tranh chấp.
5.   Tạp sự Kiền-độ (Khuddavatthu-Khandhaka): Tạp sự.
6.   Phòng xá Kiền-độ (Senàsana-Khandhaka): Phòng xá.
7.   Phá Tăng Kiền-độ (Sanghabhedaka-Khandhaka): Phá Tăng.
8.   Oai nghi Kiền-độ (Vatta-Khandhaka): Oai nghi.
9.    Già Bố-tát Kiền-độ (Patimakhathapana-Khandhaka): Ngăn Bố-tát.
10.   Tỳ-kheo-ni Kiền-độ (Bhikkhuni- Khandhaka): Nói về Ni giới
11.    Ngũ bách nhân Kiền-độ (Pancasatika-Khandhaka): 500 người kết tập pháp tạng.
Thất bách nhân Kiền-độ (Sattasatika-Khandhaka): 700 người kết tập pháp tạng.
3/. Phụ tùy (Parivàra): Gồm có 19 chương, là những điều giáo hố liên hệ đến 2 bộ phận trên.

II. LỊCH SỬ TRUYỀN THỪA LUẬT TỨ PHẦN
1. Việc xiển dương Luật Tứ Phần tại Trung Quốc
Giáo pháp của Phật bao hàm Tam vô lậu học Giới, Định, Tuệ nhưng Giới là cô sở của Tam học; nếu chẳng trì giới thì sự tiến lên con đường giải thoát trở thành không tưởng. Vì thế, tất cả đệ tử của Phật đều phải trì Giới.
Song chỗ sâu cạn có sai khác, cho nên trong các đại đệ tử chỉ có trưởng lão Ưu-ba-li được Phật khen là người trì giới đệ nhất.
Kế thừa truyền thống này, khi Luật điển truyền sang Trung Quốc và được phiên dịch đầy đủ, các Luật sư bèn chuyên tâm nghiên cứu Luật tạng, mà chủ yếu là bộ Luật Tứ Phần. Theo lịch sử ghi lại, thì sự hoằng truyền Luật Tứ Phần bắt đầu từ thời Nguyên Ngụy do Luật sư Pháp Chánh, Pháp Chánh truyền xuống Pháp Thời, Pháp Thời truyền xuống Pháp Thông, Pháp Thông truyền xuống Đạo Phú, Đạo Phú truyền xuống Tuệ Quang. Đệ tử của Tuệ Quang có Đạo Vân, Đạo Huy, rồi lần lượt truyền xuống đến Đạo Tuyên gồm có chính phái và bàng phái như bản đồ sau đây:
Luật Học Tinh Yếu
Theo sơ đồ trên đây, thì Tổ Đạo Tuyên ở vị trí thứ 9

 
trong 9 vị Tổ sư của Luật Tứ Phần, nhưng vì Ngài có công lớn trong việc hoằng dương Luật học và để lại những công trình soạn thuật, chú thích rất có giá trị về bộ Luật này nên người đời sau suy Tôn Ngài là Tổ thứ nhất của Tứ Phần Luật.
Sau đây là sơ lược tiểu sử của một số vị Tổ sư tiêu biểu kể trên.
1. Luật sư TUỆ QUANG
Ngài họ Dương, người Định Châu, năm 13 tuổi theo cha đến Lạc Dương, rồi ngày mồng 8 tháng tư đến thọ tam quy với Thiền sư Phật Đà. Phật Đà thấy mặt Quang chiếu ra ánh sáng, lấy làm kỳ dị, nghĩ rằng người này hẳn có tiết tháo khác thường, nên khuyến khích Quang ở lại chùa và bảo tụng kinh. Quang cầm kinh xem qua cảm thấy như đã học từ trước, nên thông hiểu nghĩa lý dễ dàng. Đến mùa hạ năm này, Phật Đà độ cho xuất gia. Quang đem những điều đã hiểu biết trong kinh ra giảng cho đại chúng, lời lẽ tao nhã, ý nghĩa súc tích, nên người bấy giờ gọi ông là Thánh Sa-di. Mỗi khi nhận được vật bố thí, Quang liền đem cho người khác. Tính tình ông thanh cao, không câu chấp tiểu tiết và bỏ ngồi tai tất cả những sự khen chê, được mất. Mọi người ai cũng cho ông là bậc Pháp khí. Phật Đà nói: “Ông Sa-di này là bậc phi thường. Nếu thọ Đại giới nên cho học Luật trước, vì Luật là nền tảng, nếu không phải là người trí thì không chịu phụng hành. Kẻ nào ban đầu ỷ y vào Kinh Luận, thì ắt xem thường Giới Luật, đó là tà kiến, là nguyên nhân làm chướng ngại đạo lý”.
Sau đó, ông trở về quê hương, thọ giới Cụ-túc, rồi
chuyên tâm học Luật. Đến mùa hạ thứ tư, Quang đem Luật Tăng Kỳ ra giảng cho đại chúng, lại dành thì giờ học nhiều thứ khác. Phật Đà gọi về, nhắc nhở: “Ta độ con là hy vọng con hướng về chỗ cốt tủy, vì sao lại để tâm đến văn chương, ngôn ngữ của thế gian? Nay ta thấy thần khí của con đã thành tựu, có thể làm bậc Pháp sư cao minh. Các việc khác không phải là bổn phận của con thì để tâm vướng bận làm gì?”. Nhân đó, Quang cảm động rơi nước mắt, bèn đem sở học của mình soạn sớ thích những điểm căn bản của bộ Luật Tứ Phần và các kinh Hoa Nghiêm, Niết-bàn, Duy-ma, Thập Địa, Địa Trì v.v… Các triều thần nhà Tề và các bậc danh hiền đương thời đều kính trọng và xem Ngài như bậc Thánh.
Ngài viên tịch tại chùa Đại Giác ở Nghiệp Thành, hưởng thọ 70 tuổi. Những kinh sách đã soạn thuật gồm có: Tứ Phần Luật Sớ và các kinh Thắng Man, Di Giáo, Nhân Vương, Bát Nhã v.v... đều có sớ thích. *
2. Luật sư TRÍ THỦ (576-635)
Sư họ Hồng Phủ, người An Định (Cam Túc), sinh vào đời Tùy. Lúc trẻ, Sư xuất gia với Trí Mân, chùa Vân Môn tại Tương Châu, rồi thọ giới năm 22 tuổi. Sau khi thọ giới, không biết mình có đắc giới hay không, Sư bèn đến trước tháp Phật cầu xin được hiển chứng và được Phật sờ đầu khích lệ, Sư rất mãn nguyện. Về sau, Sư theo học luật với Luật sư Đạo Hồng, bạn đồng học hôn 700 người mà không ai hôn được Sư. Năm chưa đầy 30 tuổi, Sư đã bắt đầu giảng Luật, hạnh đức cao khiết, tâm trí thông mẫn, nên được mọi


 *(Tục Cao Tăng Truyện, quyển 21, Đ.50, tr.607b).
người đều ca ngợi. Lúc bấy giờ, sư Hồng Tuyên hoằng truyền Luật Tứ Phần, đạo tục đều theo học, nhưng văn luật không được rõ ràng. Do đó, Sư bèn trước tác Ngũ Bộ Khu Phân Sao và Tứ Phần Luật Sớ, làm rõ những điểm các tiền bối chưa giải thích, khiến ai cũng hiểu được. Từ đó, Sư càng được khen ngợi, chính bản thân Hồng Tuân xem Sư như người đồng hàng, và khuyên đại chúng theo học Sư. Sư xây một ngơi tháp tại gị núi ở Vân Môn Tương Châu, để kỷ niệm nơi xuất gia thọ giới của mình. Năm Trinh Quán thứ 8, đời vua Thái Tông, Thái Mục Hồng hậu xây chùa Hoằng Phúc tại Trường An, cung thỉnh chư Tăng hữu đức về an trú và sắc phong Sư chức Tăng Cương.
Sư thị tịch vào tháng tư, năm Trinh Quán thứ 9 (635), hưởng thọ 69 tuổi. Người đời xem Sư là Tổ thứ 8 của Tứ phần Luật Tông. Đệ tử có Đạo Tuyên, Đạo Thế, Tuệ Mẫn, Đạo Hưng, Trí Hưng v.v... Về trước tác, trừ Ngũ Bộ Khu Phân Sao 21 quyển và Tứ Phần Luật Sớ 20 quyển, còncó Xuất Yếu Luật Nghi Cương Mục Chương 1 quyển, Tiểu A-di-đà kinh sao 2 quyển.*
3.- Luật sư PHÁP LỆ (569-635)
Sư họ Lý, sinh quán Triệu Châu (Hà Bắc Triệu huyện), người đời Đường. Năm 15 tuổi, Sư xuất gia với Thiền sư Linh Tục, chùa Diễn Không. Sau khi thọ giới, Sư theo Tĩnh Hồng, nghiên cứu Luật Tứ Phần, rồi soạn các chú thích. Vài năm sau, Sư theo Luật sư Hồng Uyên, nghe giảng Luật học, nghiên cứu đến chỗ nguồn gốc. Nhân thời thế tao loạn, Sư ẩn cư nghiên cứu áo nghĩa của Luật bộ, do đó, đạt được yếu lý,



*(PQĐTĐ, tr.502a).
 bèn mở khóa giảng về luật Tứ Phần. Học trị các nơi vân tập về học rất đông, khai ngộ cũng rất nhiều.
Tháng 10 năm Trinh Quán thứ 9 (635), Sư viên tịch, hưởng thọ 67 tuổi. Tác phẩm của Sư gồm có:
1. Tứ phần Luật sớ.
2. Yết-ma sớ.
3. Xả Sám Nghi Khinh Trọng Sự.
Sư được người bấy giờ Tôn xưng là Tổ của Tướng Bộ Tông. Đệ tử có: Minh Đạo, Đàm Quang, Đạo Thành.*
4.- Luật sư ĐẠO TUYÊN (596-667)
Sư họ Tiền, quê quán Đan Hồ (hay Trường Thành). Mẹ Sư nằm mộng thấy mặt trăng rơi vào lòng, bèn hồi thai Sư. Bà lại nằm mộng thấy một vị Phạm Tăng (sư Ấn Độ) bảo: “Cái thai hài nhi bà đang mang là hậu thân của Luật sư Tăng Hựu đời Lương đó”.
Sư ở trong thai 12 tháng, chào đời nhằm ngày mồng 8 tháng tư, năm 596. Lúc mới 9 tuổi, Sư đã làm được thi phú, năm 16 tuổi học Luật với sư Trí Quân, rất chuyên tinh trì giới, tu học hết sức chăm chỉ. Vào khoảng năm Đại Nghiệp (605-616) đời Tùy, Sư thọ giới Cụ-túc với Luật sư Trí Thủ. Sau khi thọ giới, Sư vào núi Chung Nam, cất một cái cốc ẩn tu, chuyên trì giới luật, người ta gọi nơi này là chùa Bạch Tuyền, có muông thú đến thuần phục và kỳ hoa dị thảo mọc đầy xung quanh.
Sư kết bạn thân với bậc xử sĩ là Tôn Tư Mạo. Về sau, Sư đến chùa Tây Minh soạn các sách: Pháp Môn Văn Ký,



*(Tục Cao Tăng Truyện, quyển 22; PQĐTĐ, tr.3433c).
Quảng Hoằng Minh Tập, Tục Cao Tăng Truyện, Tam Bảo Lục, Yết-ma Giới Sớ, Hành Sự Sao, Nghĩa Sao v.v..., tất cả hôn 220 quyển. Có một vị Phạm Tăng ca ngợi Sư là: “Sau khi Phật diệt độ, sư là người xiển dương Giới Luật bậc nhất, khiến cho tượng pháp trụ lâu đời”.
Sư viên tịch ngày 3 tháng 10, năm Càn Phong thứ 2 (667), thọ 72 tuổi, 52 tuổi hạ. Môn nhân xây tháp phụng thờ, và được ban Thụy là Trừng Chiếu. Đệ tử của Sư hôn 1.000 người. Bài bia nơi tháp của Sư có câu: “Sự trì luật của Đạo Tuyên vang danh đến Thiên Trúc (Ấn Độ); tác phẩm của Sư văn chương mỹ lệ, thiên hạ đều thán phục”.
Tác phẩm của Sư để lại gồm có:
  • Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao, 12 quyển.
  • Giới Bản Sớ, 6 quyển.
  • Thập Tỳ-ni Nghĩa, 6 quyển.
  • Nghĩa Sao, 6 quyển.
  • Yết-ma Sớ, 3 quyển.
Năm bộ này được xem là 5 bộ Luật học có giá trị lớn. Ngồi ra, còncó các bộ:
  • Đại Đường Nội Điển Lục, 10 quyển (Mục lục Chỉnh Lý Kinh Điển)
  • Cổ Kim Phật Đạo Luận Hành, 4 quyển.
  • Quảng Hoằng Minh Tập, 30 quyển (nhằm tuyên dương Phật giáo).
  • Tục Cao Tăng Truyện, (10 quyển).
  • Thích Thị Lược Phổ.
  • Thích Ca Phương Chí.
  • Tam Bảo Cảm Thông Lục v.v... *
5. Luật sư HỒI TỐ (637-707)
Sư họ Phạm, quê ở Kinh Triệu (Tây An Thiểm Tây), sinh vào đời Đường, từ bé đã thông minh khác thường và có khí độ rộng lớn. Năm 12 tuổi, Sư đến đảnh lễ Huyền Trang xin xuất gia, theo nghiệp Kinh Luận. Nhưng sau khi thọ giới lại theo Đạo Tuyên tập học Luật Tứ Phần Hành Sự Sao. Về sau, còntheo môn hạ của Pháp Lệ là Đạo Thành, học Tứ Phần Luật Sớ. Do đó, Sư soạn ra bộ Tứ Phần Luật Khai Tông Ký, tách biệt với Tứ Phần Luật Sớ của Pháp Lệ, và xướng lập thành một Tông phái riêng gọi là Đông Tháp Luật Tông. Tông phái của Sư cùng với Tướng Bộ Tông của Pháp Lệ và Nam Sơn Tông của Đạo Tuyên được xem là 3 Tông lớn của Luật học thời bấy giờ.
Đến năm Cảnh Long thứ nhất (707), Sư viên tịch, thọ 74 tuổi. Những trước tác của Sư gồm có:
- Câu-xá Luận Sớ.
- Di Giáo Kinh Sớ.
- Tứ Phần Tỳ-kheo Giới Bổn Sớ.
- Tăng Yết-ma.
- Ni Yết-ma.
6. Luật sư TÚ (Châu Tú)
(Khoảng cuối thế kỷ thứ 7)
Những đệ tử nổi tiếng của Đạo Tuyên như Đại Từ, Văn Cương, Danh Khác, Châu Tú, Linh Ngạc, Dung Tế,

*(PQĐTĐ, tr.5637b)
Trí Nhân và các đệ tử thọ giới như Hoằng Cảnh, Đạo Ngạn, Hồi Tố thì Châu Tú (hay Tú Luật Sư) là người kế thừa chính thức.
Sư người Tế An, Luật sư đời Đường, năm sinh và mất không rõ. Sư xuất gia lúc cònnhỏ với Hưng Luật sư tại Thục Quận và chẳng bao lâu tinh thông Luật học. Sau khi thọ Cụ-túc, Sư theo Nam Sơn Đạo Tuyên chuyên tâm học luật trải qua 16 năm, thường dùng bộ Luật Sớ của Trí Thủ làm cô sở rồi tổng hợp các thuyết khác, tạo thành một thuyết thống nhất. Về sau, Sư vân du đến các miền Quảng Châu và An Châu.
Sư thị tịch tại chùa Thập Lực, An Châu, thọ hôn 70 tuổi đời, được Tôn là Tổ thứ hai của Nam Sơn Luật Tông. Trước tác của Sư có Hành Trì Sao Ký, và đệ tử tâm đắc có Luật sư Trinh Cố v.v...
Có chỗ nói môn hạ của Đạo Tuyên có Châu luật sư, Tú luật sư 2 người. Châu luật sư được Tôn là Tổ thứ 2 của Nam Sơn Luật Tông, nhưng sự tích của 2 vị này đều không rõ ràng*
Nối tiếp Châu Tú, Nam Sơn Luật Tông truyền thừa theo thứ tự sau: Đạo Hoằng, Tỉnh Cung, Huệ Chánh, Huyền Sướng, Nguyên Biểu, Thủ Ngôn, Nguyên Giải, Pháp Vinh, Xử Hằng, Trạch Ngộ, Duẫn Kham, Trạch Kỳ, Nguyên Chiếu, Trí Giao (hoặc lập Đạo Tiêu), Chuẩn Nhất, Pháp Chánh, Pháp Cửu, Diệu Liên, Hành Cư, tất cả gồm 21 vị. Tông này truyền dần xuống đến cuối đờêi nhà Nguyên thì Luật Tông suy vi, sự truyền thừa không rõ.

*(PQĐTĐ, tr.2985b).
Nhưng đến cuối đời nhà Minh có các Đại đức hoằng Luật tiếp nhau xuất hiện, như: Liên Trì, Ngẫu Ích, Hoằng Tán, Nguyên Hiền.... đều có trước thuật để lại. Đồng thời với Đại sư Liên Trì có Luật sư Như Hinh, Cổ Tâm. Cổ Tâm truyền xuống Tịch Quang, Tịch Quang có đệ tử nổi tiếng là Kiến Nguyệt (Độc Thể) và Hương Tuyết.
Từ sau Kiến Nguyệt và Hương Tuyết, suốt triều nhà Thanh 210 năm, Luật Tông lại suy vi hôn nữa. Thế nhưng, gần đây có Đại sư Hoằng Nhất và Từ Chu chuyên hoằng giới luật, nên Luật học có phần nào khởi sắc trở lại.
Về phương diện Luật điển từ đời Nam Tống trở đi, các tác phẩm bị mất mát hầu như gần hết. Cuối triều Minh, các Đại đức tuy có hoằng Luật mà không được rực rỡ như trước. Thế nhưng, những tác phẩm Luật học đã bị mất mát kể trên, ngày nay cònđược bảo tồn khá tốt tại Nhật Bản. Đó là một điều hết sức may mắn.
Sau đây, chúng ta lại trình bày tiểu sử của vài vị Luật sư tiêu biểu vừa đề cập ở trên.
7. Luật sư LIÊN TRÌ - CHÂU HOẰNG (1532-1612).
Sư họ Trầm, tự Phật Tuệ, hiệu Liên Trì, quê ở Khang Châu, thuộc đời Minh. Thuở nhỏ Sư học Nho, nổi tiếng thông minh, năm 17 tuổi thi đậu Chư Sinh. Vì chịu ảnh hưởng của những người láng giềng nên Sư hướng tâm đến Tịnh Độ, viết 4 chữ “Sanh tử đại sự” lên bàn để tự cảnh tỉnh. Vào tuổi trung niên, sư quy y Phật giáo, thế phát với Vô Nhân Tánh Thiên, tại Tây Sơn. Sau đó, Sư đến chùa Chiêu Khánh thọ giới Cụ-túc với Thiền sư Vô Trần, rồi đi du phương tham học nhiều nơi.
Năm Long Khánh thứ 5 (1571), Sư vào núi Vân Thê tại Khang Châu, ở một ngơi chùa hoang phế trong núi, tinh tấn niệm Phật tam muội. Nghe danh tiếng của Sư, Tăng Ni xa gần tìm đến tham học đông đảo, khiến nơi này thành một tùng lâm quy mơ.
Năm Vạn Lịch thứ 12 (1584), Sư soạn 3 quyển Vãng Sanh tập. Năm 30 tuổi, soạn một quyển Lăng Nghiêm Mơ Phạm Ký. Thời bấy giờ, việc thọ giới bị cấm chế, Sư đã tùy nghi bảo giới tử sắm đủ 3 y đến trước điện Phật để Sư chứng minh cho thọ giới. Sư cònchế định Thủy Lục Nghi Văn và Du Già Niệm Khẩu Pháp để tế độ nỗi khổ của cõi u minh; đồng thời cho đào hồ phóng sanh ở trong và ngồi thành; lại soạn tập Giới Sát Phóng Sinh Văn để răn bảo những kẻ hay sát sinh hại vật.
Sư đặc biệt chú trọng pháp môn Tịnh Độ, thống trách những kẻ cuồng Tăng, tận lực xiển dương Thiền Tịnh kiêm tu, đạo phong hưng thịnh một thời. Các sĩ Đại phu như Tống Ứng Xương, Lục Quang Tổ, Phùng Mộng Trinh v.v... đều thọ ân giáo hóa của Sư. Lúc tuổi già, bệnh phát sinh, Sư lại càng tinh tấn tu Tịnh Độ, làm ra 32 điều “Chẳng lành” để tự cảnh tỉnh và cảnh tỉnh mọi người, lại viết 3 điều đáng tiếc và 10 điều đáng thống trách để đơn đốc đồ chúng.
Năm Vạn Lịch 40 (có thuyết nói năm 43), Sư thị tịch, thọ 82 tuổi. Người bấy giờ gọi Sư là Hòathượng Vân Thê hay Đại sư Liên Trì. Sư cùng với Tử Bá, Hám Sơn, Ngẩu Ích được xưng tụng là 4 vị Đại Cao Tăng của đời Minh. Những trước tác của sư gồm có:
- Thiền Quang Sách Tấn.
- Phạm Võng Giới Sớ Phát Aån.
- A-di-đà kinh Sớ Sao.
- Hoa Nghiêm Kinh Cảm Ứng Lược Ký.
Và các thứ khác hôn 30 loại. Về sau, Vương Vũ Xuân đã kết tập các tác phẩm của sư thành Vân Thê Pháp Vựng, gồm 40 quyển. *
8. Luật sư NGẪU ÍCH – TRÍ HÚC (1599-1655)
Sư người đời Minh, tên Trí Húc, tự Ngẫu Ích, lại tự đặt hiệu là Bát Bất Đạo Nhân, còngọi là Linh Phong (nơi Sư trác tích). Lúc đầu Sư học Nho, soạn sách Tịch Phật Luận (bài bác đạo Phật) mấy chục thiên. Nhưng năm 17 tuổi, nhân đọc sách Tự Tri Lục và Trúc Song Tùy Bút của Đại sư Liên Trì, Sư bèn đem sách Tịch Phật Luận của mình ra đốt. Nhân 3 lần nằm mộng thấy ĐaÏi sư Hám Sơn đang ở Tào Khê, nên Sư đến xin xuất gia với Tuyết Phong đệ tử của Hám Sơn. Ít lâu sau, Sư đến các đạo tràng nghe giảng, nhưng thấy 2 Tông Tánh (Hoa Nghiêm), Tướng (Duy Thức) có mâu thuẫn nhau, Sư suy nghĩ: Phật pháp đâu có 2 loại? Từ đó Sư vào núi Kính Sơn tham thiền, nhờ vậy thấu triệt được nghĩa lý của 2 Tông Tánh Tướng. Nhân thấy Luật học suy vi, Sư quyết tâm xiển dương Giới Luật, soạn sách Tỳ-ni Thập Yếu. Trong lúc đang phân vân chưa biết nên theo Tông nào, Sư bèn đến trước Phật rút thẻ để định hướng. Và chọn được Tông Thiên Thai. Do đó, Sư dốc tâm nghiên cứu giáo nghĩa rồi cực lực hoằng dương Tông này

* (PQĐTĐ, tr.4789b)
 bằng cách chú thích các Kinh Luận. Năm 56 tuổi, Sư nằm dưỡng bệnh tại Linh Phong, soạn Tây Trai Tịnh Độ Thi, đồng thời chỉnh lý lại 5 bộ sách về Tịnh Độ và đặt tên là Tịnh Độ Thập Yếu. Sau khi khỏi bệnh, Sư soạn thêm hai bộ sách khác là Duyệt Tạng Tri Tân và Pháp Hải Quan Lan. Đến tháng 10, bệnh tái phát, Sư để lại di chúc và làm bài kệ Cầu Sinh Tịnh Độ.
Tháng Giêng, năm Thuận Trị thứ 12 (1655). Sư ngồi kiết già trên giường, đưa tay chỉ về cõi Tây Pbưông thị tịch, hưởng dương 57 tuổi, và 34 pháp lạp. Sư là người nghiêm cẩn, tinh chuyên, lìa bỏ danh lợi, kiên trì giữ giới, hoằng dương Luật tạng, sinh bình lấy việc đọc Tam Tạng và trước thuật làm sự nghiệp. Sư học tất cả giáo nghĩa của các Tông Pháp Tướng, Thiền, Luật, Hoa Nghiêm, Thiên Thai và Tịnh Độ, nhưng chú trọng nhất Tông Thiên Thai và chủ trưông Phật, Nho, Đạo tam giáo nhất trí. Phạm vi nghiên cứu của Sư rất rộng nhưng kiến giải về Tông Thiên Thai là độc đáo nhất. Sư đề xướng Thiền, Tịnh, Giáo và Luật đều chung một đường và lấy việc niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ làm trọng tâm.
Sau khi Sư thị tịch, đệ tử Thành Thời Tôn thụy hiệu là Thỉ Nhâït Đại Sư. Người đời bấy giờ gọi sư là Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư, người sau suy Tôn làm Tổ thứ 9 của Tông Tịnh Độ.
Các đệ tử của sư có: Chiếu Nam, Linh Thịnh, Tính Đán, Đẳng Từ v.v... về trước tác khá nhiều, gồm có:
- Lăng Nghiêm Kinh Huyền Nghĩa, 2 quyền.
- Lăng Nghiêm Kinh Văn Cú, 10 quyển.
- A-di-đà Phật Yếu Giải, 1 quyển.
- Kim Cương Kinh Phá Không Luận, 1 quyển.
- Phạm Võng Kinh Hợp Chú, 7 quyển.
- Trùng trị Tỳ-ni Sự Nghĩa Tập Yếu, 17 quyển.
- Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải, 8 quyển.
- Duyệt Tạng Tri Tân, 48 quyển.
- Chu Dịch Thiền Giải, 10 quyển.
- Tứ Thư Ngẫu Ích Giải, 4 quyển.
Tất cả gồm hôn 40 bộ. Đệ tử của sư là Thành Thời biên tập di văn của Sư đề là Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận, gồm 10 quyển.*
9.- Luật sư HOẰNG TÁN (1611-1685).
Sư họ Châu, tự Tại Tham, quê ở Tân Hội Quảng Đông, sinh vào cuối đời Minh, đầu Thanh, thuộc Thiền phái Tào Động. Tuổi trẻ học Nho, có kiến thức rộng, lịch lãm, và có tài văn chương. Lúc tuổi trưởng thành, Sư được bổ làm Giáo học tại huyện nhà. Sau khi nhà Thanh làm chủ Trung Quốc, Sư bèn xuất gia, nghiên cứu Thiền pháp, tham yết Đạo Khâu ở Đỉnh Hồ và nhận được ấn chứng. Bình sinh, Sư đặc biệt chú trọng đến những vấn đề thực tiễn, dốc lòng làm trịn bổn phận, tuy tinh tường Thiền học, nhưng thấy phong khí tùng lâm nặng tính phù hoa, không thật, nên rất đau lòng; do đó, không hề mở miệng nói về Thiền đạo một lời nào mà chỉ dốc sức hoằng truyền luật nghi, đề cao giới hạnh, lấy việc hoằng luật làm nhiệm vụ.



* (PQĐTĐ, tr.5019a)
Sư thị tịch vào năm Khang Hy thứ 14 (1685), hưởng thọ 75 tuổi. Những trước tác của sư gồm có:
- Đỉnh Hồ Sơn Mộc Cư Tại Tham Thiền Sát Cảo, 5 quyển.
- Thất Câu Chi Phật Mẫu Sở Thuyết Chuẩn Đề Đà La Ni Kinh Hội Thích, 3 quyển.
- Tâm Linh Luận.
- Tứ Phần Giới Bổn Như Thích, 12 quyển.
- Quy Giới Yếu Tập, 3 quyển.
- Bát Quan Trai Pháp.
- Lễ Phật Nghi Thức v.v...
Tất cả khoảng 10 bộ *
10. Luật sư HOẰNG NHẤT (1880-1942)
Sư họ Lý, tên Quảng Hầu, hiệu Thúc Đồng, là một bậc danh Tăng trùng hưng Luật học của phái Nam Sơn tại Đài Loan. Sư còncó tên là Thành Hề, tự là Tích Sưông, tính tình tao nhã, điềm đạm, có sở trường về thư hoạ và điêu khắc. Năm 26 tuổi, Sư sang Nhật Bản, vào học trường Thượng Dã Mỹ Thuật, chuyên nghiên cứu âm nhạc, sáng lập Xuân Liễu Kịch Xã, là bậc tiền khu vận động tân kịch của Trung Quốc. Sau khi về nước Sư dạy tại trường Công Nghiệp Chuyên Môn và làm chủ bút tạp chí Thái Bình Dương.
Năm Dân Quốc thứ 7 (1918) Sư được 39 tuổi, thấy cuộc thế vô thường, Sư bèn đem tất cả sách vở, họa phẩm v.v... tặng cho người khác, niêm phong những tấm điêu

* (PQĐTĐ, tr. 1926b)
 khắc quý giá, rồi đến chùa Đại Từ tại Khang Châu xin xuất gia với Thiền sư Liễu Ngộ. Sau đó Sư đến chùa Linh Ẩn thọ giới Cụ túc, được pháp danh là Diễn Âm, hiệu Hoằng Nhất. Thấy Tăng sĩ thường bị người đời hủy nhục do không giữ Giới Luật, vì thế Sư rất xót xa nên phát nguyện suốt đời chuyên nghiên cứu về Giới pháp. Ban đầu, Sư học luật của Hữu Bộ (Thập Tụng), nhưng về sau chuyên hoằng dương Nam Sơn Luật Tông, thường đi chân không, trơ trọi một mình vân du khắp nơi để giảng Kinh, hoằng pháp.
Năm Dân Quốc thứ 25, Sư về an trú tại chùa Phổ Tế, đóng cửa đọc Đại Tạng Kinh. Về già, Sư tự đặt hiệu là Vãn Tinh Lão Nhân, lại có hiệu là Nhị Nhất Lão Nhân. Tháng 10, năm Dân Quốc 31 (1942) Sư thị tịch tại dưỡng lão viện ở Tấn Giang, Ôn Lăng, thọ 63 tuổi đời, 24 hạ lạp.
Bình sinh Sư rất ngưỡng mộ Đại sư Ấn Quang, noi gương Ấn Quang không thu nhận đồ chúng, cũng không sinh hoạt theo lối các chùa mà chỉ dùng cách viết chữ để kết duyên với mọi người. Nếp sống thanh khiết, đạm bạc, cô độc, mơ phạm của Sư có ảnh hưởng rất lớn trong giới Phật giáo Dân Quốc từ ấy đến nay. Những trước tác của Sư gồm có:
- Di-đà Nghĩa Sớ triết Lục.
- Tứ Phần Luật Tỳ-kheo Giới Tướng Biểu Ký.
- Thanh Lương Ca Tập.
- Hoa nghiêm Liên Tập.
- Giới Bản Yết-ma Tùy Giảng Biệt Lục.
- Tứ Phần Hàm Chú Giới Bản Giảng Nghĩa.
- Nam Sơn Đao Tổ Lược Phổ.
Hiện nay các tác phẩm của sư đã được kết tập thành Hoằng Nhất Đại Sư Pháp Tập, và được tàng trữ tại nơi thờ tự Sư. *
11. Luật sư TỪ CHU (1877-1958)
Sư họ Lương, pháp danh Phổ Hải, quê ở Tùy Huyện, Hồ Bắc. Sư xuất gia năm 33 tuổi. Sau khi thọ giới, Sư giữ Luật tinh nghiêm, thực hành Tịnh Độ, tu quán pháp giới, chú tâm xiển dương Giới Luật, sự hoằng hóa của Sư rất rộng rãi.
Tháng Giêng, năm Dân Quốc 47 (1958), Sư thị tịch, thọ 81 tuổi đời, 48 Tăng lạp, trước tác của Sư để lại gồm có:
- Tỳ-ni Tác Trì Yếu Lục.
- Bồ-tát Giới Bản Sớ.
- Đại Thừa Khởi Tín Luận Thuật Ký.
- Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Thân Văn Ký.
2. Việc xiển dương Luật học tại Việt Nam
Vấn đề truyền thừa Luật Tông ở Việt Nam không rõ manh mối. Trái lại, sự truyền thừa Thiền Tông thì khá quy mơ, nhất là vào thời đại nhà Lý và đầu nhà Trần. Thế nhưng, từ cuối đời Trần trở đi, Thiền Tông nói riêng và Phật giáo nói chung rơi vào tình trạng suy trầm, tuy có một số vị Cao Tăng quan tâm đến công tác hoằng pháp, lo việc trước



* (PQĐTĐ, tr.1919b)
**(PQĐTĐ, tr.5800b).
 
thuật nhưng không được khởi sắc lắm. Qua những công trình của các bậc Tôn túc để lại, ở đây chúng tôi chỉ ghi nhận những cống hiến liên quan đến Giới Luật mà thôi. Còn phần tiểu sử của các Ngài vị nào muốn rõ, xin xem các cuốn sử Phật giáo Việt Nam.
1. Thiền sư HƯƠNG HẢI (1628-1715) có: Giải Sa-di Giới Luật.
2. Thiền sư PHÁP CHUYÊN (Luật Truyền, Diệu Nghiêm) (1726-1798)
-     Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Lược Ký.
-     Tỳ-ni Oai Nghi Sa-di Cảnh Sách Ấn Chú Yếu Lược.
-     Tỳ-ni Nhật Dụng Thiết Yếu Phát Ẩn Âm Chú.
-     Sa-di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú.
-     Sự Nghĩa Luật Yếu Lược.
Các tác phẩm trên, một số đã in, số còn lại là những bản thảo lưu trữ tại chùa Từ Quang Phú Yên, nhưng bị trận hỏa hoạn năm 1929 thiêu hủy tất cả. 4
3. Thiền sư TOÀN NHẬT (viên tịch khoảng đầu thế kỷ 19: 1831-1835) có: Sa-di Oai Nghi Tăng Chú Giải Ngụy Tự Tiểu Thiên.
4. Thiền sư CHÁNH THÀNH (1872-1949).        
- Tứ phần như thích (dịch)
- Bồ-tát Giới Kinh.
- Tỳ-kheo Giới Kinh.

4 (theo Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong, Nguyễn Hiền Đức – xuất bản 1995, tập 2, tr.14)
- Sa-di Sớ.
- Tỳ-ni Hương Nhũ.
Hầu bết đều là bản thảo.
5. Thiền sư TRÍ HẢI (Bích Liên) (1876-1950)
- Quy Sơn Cảch Sách, dịch Nơm.
6. Thiền sư HUYỀN Ý (1891-1951).
- Sa-di Luật Diễn Nghĩa
7. Thiền sư TUỆ TẠNG (1889-1959)
- Kinh Phạm Võng Giải.
- Sa-di Luật.
8. Thiền sư KHÁNH ANH (1895-1961)
- Tại Gia Cư Sĩ Luật.
9. Thiền sư THIỆN HÒA (1907-1978)
- Giới Đàn Tăng.
- Tỳ-kheo Giới Kinh.
10. Thiền sư BỬU CHƠN (1911-1979)
- Tứ Thanh Tịnh Giới.
11. Thiền sư TRÍ HẢI (Thanh Thao) (1906-1979)
- Nghi Thức Thọ Tam Quy.
- Sa-di Luật (Dịch), 2 tập.
12. Thiền sư HỘ TÔNG (1893-1981)
- Luật Xuất Gia, 2 quyển
13. Thiền sư TRÍ THỦ (1909-1984)
- Nghi thức truyền Giới Tại Gia và Bồ-tát Thập Thiện.
- Luật Tỳ-kheo.
- Yết-ma Yếu Chỉ.
- Tứ Phần Hiệp Chú, 2 quyển.
14. Thiền sư HÀNH TRỤ (1904-1984)
- Sa-di Luật Giải.
- Quy Sơn Cảnh Sách.
- Tứ Phần Giới Bổn Như Thích.
- Phạm Võng Bồ Tát Giới.
- Tỳ-kheo Giới Kinh. '
15. Thiền sư GIỚI NGHIÊM (1921-1984)
- Luật Tạng Pàli.
16. Thiền sư BÌNH MINH (1924-1988)
- Yết-ma Chỉ Nam (dịch).
17. Thiền sư THIỆN CHƠN (1914-1992).
- Luật Tứ Phần Hiệp Chú.
- Luật tứ phần Tỳ-kheo-ni Lược Ký.
- Tỳ-ni Hương Nhũ.
18. Thiền sư ĐƠN HẬU (1905-1992).
- Cách Thức Sám Hối Các Tội Đã Phạm.
- Luật Tứ Phần Tỳ-kheo-ni Sao.
Ở đây chỉ nêu một số trước tác phiên dịch về luật học của những vị đã viên tịch. Ngồi ra, những vị còn hiện hữu, nếu có những tác phẩm Luật học có giá trị sẽ được ghi nhận ở phần tư liệu tham khảo.
/23
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »