không nói phi thời; 2. Biết việc đó có thật, không phải hư dối; 3. Nói vì lợi ích, không phải vô ích; 4. Nói nhã nhặn, không thơ lỗ; 5. Nói với từ tâm, không phải với ác ý.
Nếu vị này ngăn người khác Tự tứ vì những chứng cứ phạm tội xác thực, chẳng hạn tố cáo người kia phạm tội Ba-la-di, thì Tăng phải diệt tẫn rồi mới Tự tứ. Hoặc tố cáo người kia phạm tội Tăng tàn, thì Tăng phải làm Yết-ma kết tội Ba-lợi-bà-sa, hoặc Bản nhật trị, hoặc Ma-na-đỏa, hoặc xuất tội cho kẻ phạm tội xong, rồi mới Tự tứ.
Trái lại nếu người ngăn Tự tứ mà thân, khẩu, ý không thanh tịnh, thiếu trí, không biết hỏi đáp, thì Tăng nên nói với thầy: “Trưởng lão hãy thôi đi, không nên gây ra sự đấu tranh”. Thế rồi, Tăng cứ tiến hành Tự tứ mà không cần để ý đến ý kiến của ông ta.
Luật cònquy định: Người đang bệnh cũng không được ngăn người không bệnh Tự tứ. Và người không bệnh cũng không được ngăn người bệnh Tự tứ.
Hôn nữa, nếu tại một trú xứ nào khi Tự tứ không phát hiện được kẻ phạm tội, đến khi Tự tứ xong mới phát hiện, thì không nên khui lại tội của người ấy. Nếu ai sinh sự thì theo luật mà trị.10
***
VI. TẠP SỰ
1. Y Ca-thi-na
1.1. Nguyên nhân Phật chế Y Ca-thi-na.
Sau 3 tháng An cư, một số Tỳ-kheo từ các nơi về Xá
10 Tứ Phần Luật, quyển 38, Đ.22, tr.837-841
vệ thăm viếng đức Thế Tôn. Trên đường đi, họ gặp phải những côn mưa dầm, đường sá lầy lội, ba y bị ướt sũng, nên khi đến nơi, tất cả đều ẩm ướt và mệt mỏi. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi, đức Phật biết rõ tình cảnh vất vả của họ, Ngài bèn chế định, từ nay trở đi các Tỳ-kheọ được phép thọ y Ca-thi-na sau ngày Tự tứ. Các bộ luật đều nhất trí điểm này, riêng luật Ngũ phần cònnói rõ trường hợp Trưởng lão A-na-luật, vì tuổi già sức yếu, mang ba y đi đường xa, gặp trời mưa ướt nên càng mệt nhọc, do đó mà Phật cho phép các Tỳ-kheo được thọ y Ca-thi-na. Vì thọ y Ca-thi-na sẽ hưởng được một số quyền lợi đặc biệt.
1.2. Định nghĩa Y Ca-thi-na.
Ca-thi-na hay Ca-hi-na là phiên âm từ chữ Phạn Kathina, dịch nghĩa Công đức y hay Thưởng thiện y, tức chiếc y chứa nhiều công đức, chiếc y tưởng thưởng những việc thiện. Ý nói trải qua ba tháng An cư, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đã nỗ lực tu học, gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp, nên xứng đáng được tưởng thưởng một số quyền lợi nhất định. Về hình thức, luật cho phép dùng y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng hay An-đà-hội để làm y Ca-thi-na đều được cả.
1.3. Lợi ích của Y Ca-thi-na
Trong thời gian thọ trì y Ca-thi-na, các Tỳ-kheo được hưởng năm quyền lợi như sau:
1- Súc trường y: được cất giữ vải, y dư, quá 10 ngày mà không phạm tội.
2- Ly y túc: được rời y ngủ một chỗ khác (ngày thường Phật chế Tỳ-kheo phải đem theo ba y và bát bên mình như chim có đôi cánh, không được lìa y ngủ một nơi khác).
3- Biệt chúng thực: được ăn riêng chúng (bình thường Phật không cho phép các Tỳ-kheo từ bốn người trở lên tách ra khỏi chúng, đi khất thực về ăn riêng).
4- Triển chuyển thực: được phép thọ trai nhiều lần, tại nhiều chỗ trước giờ ngọ.
5- Trước hoặc sau bữa ăn tách riêng đi vào xóm mà không cần báo cho các Tỳ-kheo khác biết. (từ lúc bình minh đến khi ăn là trước bữa ăn, từ khi ăn xong đến bình minh hôm sau là sau bữa ăn. Phật chế định trước giờ ăn các Tỳ-kheo không được đi vào làng mà không báo cho những người khác biết).
1.4. Thời gian hiệu lực của Y Ca-thi-na.
a. Thời gian tác pháp Yết-ma để thọ trì:
Thời gian này kể từ 16 tháng 7 âm lịch đến 15 tháng 8 âm lịch. Nếu y định làm Ca-thi-na đã có sẵn, chúng Tăng nên tác pháp thọ trì ngay trong ngày 16 tháng 7. Nếu chưa có, Tăng chúng có thể chờ đợi thí chủ cúng dường cho đến hạn chót 15 tháng 8. Trong khoảng thời gian này, ngày nào nhận được y thì tác pháp thọ trì vào ngày ấy.
b. Thời gian hiệu lực của y:
Theo luật Tứ phần hiệu lực của y Ca-thi-na kể từ ngày 16 tháng 7 đến 15 tháng 12 âm lịch, tức thời gian năm tháng. Nhưng theo luật Ngũ phần, hiệu lực ấy chỉ có 4 tháng, tức đến 15 tháng 11 âm lịch là hạn chót. (1)
(1) - Nếu tiền An cư được thọ y Ca-thi-na từ ngày 16/7 → 15/11 thì xả
- Nếu hậu An cư thì thọ y Ca-thi-na ngày 16/8 và xả 15/12 (Luật ngũ phần. Đ.22,tr.153c)
c. Thời gian may y.
Nếu không có y mà có vải định làm y Ca-hi-na thì vải ấy phải may xong và thọ trì trong một ngày. Nếu một người may không kịp thì Tăng sai nhiều người hợp sức cùng may.
Ở đây cũng cần nói thêm, luật định mỗi năm vào tháng Ca-đề tức từ 16/7 âl đến 15/8 âl, các Tỳ-kheo được quyền sắm thêm y mà không phạm luật. Nhưng, nếu có thọ trì y Ca-thi-na thì thời gian pháp định này kéo dài đến năm tháng, tức từ 16/7 đến 15/12 âl. Ngồi thời gian ấy, Tỳ-kheo có đủ 3 y không được sắm thêm y khác, nếu thí chủ có cúng dường y mới thì trong vịng 10 ngày phải đem tịnh thí (đem cho người khác tượng trưng, tức hợp thức hố quyền sở hữu của mình).
1.5. Người giữ y Ca-thi-na cần có 5 đức tính.
Về giá trị tinh thần của y thì mọi Tỳ-kheo đều được quyền bình đẳng hưởng thụ như nhau, nhưng việc bảo quản chỉ giao cho một Tỳ-kheo có đủ 5 đức tính như sau:
1- Không thiên vị (không yêu riêng ai)
2- Không giận dữ.
3- Không si mê.
4- Không sợ hãi.
5- Biết thể thức thọ Ca-thi-na.
Năm đức tính này tương tự như năm đức tính của người thọ Tự tứ, chỉ hơi khác ở điểm thứ năm là người thọ Tự tứ thì biết ai Tự tứ rồi, ai chưa Tự tứ.
Sau khi Tăng Yết-ma sai một Tỳ-kheo có năm đức tính
kể trên giữ y công đức, vị này có bổn phận đem y cất ở một chỗ cao ráo, rắc hoa lên trên cúng dường và bảo quản cẩn thận cho đến 15/12. Đến ngày cuối, hoặc Tăng tác pháp tuyên bố chấm dứt hiệu lực của y, hoặc không tác pháp tuyên bố thì đương nhiên y cũng hết hiệu lực. Theo tinh thần chung của các bộ luật thì sau khi y hết hiệu lực, thầy Tỳ-kheo lâu nay có trách nhiệm bảo quản mặc nhiên được sử dụng y ấy. Nhưng, theo luật Thiện Kiến, sau khi y hết hiệu lực, Tăng sẽ đem cho Tỳ-kheo nào mặc y rách. Nếu nhiều Tỳ-kheo mặc y rách thì cho Tỳ-kheo già nhất. Nếu không có người già thì cho người nhiều tuổi hạ chứ không được cho người thiếu phẩm chất.
1.6. Những người không được hưởng quyền lợi của y Ca-thi-na.
a. Năm trường hợp theo luật Thập tụng:
1- Người không có tuổi hạ (vì khi nhập hạ, vị ấy là Sa-di, đến giữa mùa hạ mới thọ giới Cụ túc, nên chưa đủ tuổi hạ).
2- Người phá An cư (An cư không đúng quy định).
3- Người hậu An cư (theo truyền thống Bắc truyền thọ An cư từ ngày 17/4 đến 16/5 Âl là hậu an cư. Theo truyền thống Nam Tông thọ An cư từ ngày 17/6 đến 16/7 Âl là hậu An cư).
4- Người bị tẫn (vì phạm giới luật nên Tăng Yết-ma kết tội. Tẫn có ba thứ: 1. Diệt tẫn: vĩnh viễn cho ra khỏi Tăng đồn; 2. Khu tẫn: mời ra khỏi Tăng đồn một khoảng thời gian nhất định; 3. Mặc tẫn: Tăng chúng không giao thiệp với người phạm tội).
5- Người biệt trú (do phạm giới; chư Tăng cho ở riêng tại một chỗ).
b. Mười một trường hợp theo Hành Sự Sao Tư Trì Ký *
1- Người vắng mặt lúc Yết-ma thọ trì y Ca-thi-na.
2- Người có nạn, tức bị chính quyền hay giặc bắt đi.
3- Người không có đại y, tức không có y Tăng-già-lê.
4- Người thuộc trú xứ khác.
5- Người trung và hậu an cư.
6- Ngườiù phá hạ (phá An cư).
7- Người không đồng kiết giới, tức Tỳ-kheo thuộc trú xứ khác cùng sinh hoạt thuyết giới chung mà không cùng chia sẻ quyền lợi, nên không được hưởng các quyền lợi về y vật.
8- Người phạm tội Tăng tàn.
9- Người đang hành biệt trú.
10- Người học hối, tức Tỳ-kheo phạm Ba-la-di (tội nặng) mà thành thật phát lồ, khẩn thiết xin được tiếp tục tu học thì Tăng không diệt tẫn mà cho thọ trì 35 pháp để sám hối suốt đời.
11- Người bị tẫn.
Tóm lại, Luật Tứ Phần và Thập Tụng không chấp nhận người hậu An cư hưởng quyền lợi của y Ca-thi-na, nhưng luật Ma-ha-tăng-kỳ thì chấp nhận việc này. Luật này nói: Nếu cả chúng đều hậu An cư, thì đến ngày 16 tháng 8 vẫn được thọ y công đức, nhưng thời bạn chót hết hiệu lực cũng vẫn là 15 tháng 12.(1)
* (Đ.40, tr. 252a):
(1) Luật Ngũ Phần cũng chấp nhận người hậu An cư được hưởng công đức của y Ca-thi-na, nhưng chỉ có 4 tháng.(Đ.22, tr.153c)
1.7. Y Ca-thi-na mất hiệu lực trong các trường hợp.
a. Chín trường hợp theo luật Nam Tông:*
1- Cho người khác.
2- Bị trộm cướp lấy mất
3- Bạn thân lấy đi.
4- Bị thối hóa, phạm giới tội.
5- Hồn tục.
6- Viên tịch.
7- Biến đổi giới tính.
8- Hòa hợp cùng xả (Yết-ma tuyên bố chấm dứt hiệu lực của y)
9- Bị hư rách.
b. Tám trường hợp theo luật Ngũ phần **
1- Thời cánh: thời gian hiệu lực của y chấm dứt, tức 15/11 âl.
2- Thất y: y bị mất.
3- Văn thất: khi ra ngồi đại giới mà nghe tin y đã bị mất.
4- Viễn khứ: rời khỏi cương giới di chuyển đến 1 nơi khác.
5- Vọng đoạn: rời khỏi cương giới tìm y, nhưng đến đó không có y.
6- Y xuất giới: vì 1 lý do nào đó mà phải đem y ra ngồi cương giới.
7- Nhân xuất giới: đang ở ngồi cương giới mà hay tin Tăng đã tuyên bố chấm dứt hiệu lực của y.
* Gồm chung cả trường hợp y hết hiệu lực và trường hợp người không được hưởng quyền lợi của y
** Đ:22, tr. 153c
8- Bạch nhị Yết-ma xả: Tăng tác Yết-ma tuyên bố chấm dứt hiệu lực của y.
1.8. Trường hợp không biết cách thọ y Ca-thi-na.
Nếu tại 1 trú xứ có từ 5 Tỳ-kheo trở lên mà không một ai biết tác pháp thọ y công đức thì các Tỳ-kheo này có thể đi đến một trú xứ khác thỉnh một Tỳ-kheo thông luật về tác pháp Yết-ma để thọ trì. Vị Tỳ-kheo khách này tuy được quyền tác pháp Yết-ma, nhưng không có quyền hưởng lợi ích của y công đức ấy. Quyền lợi này hồn tồn thuộc về các Tỳ-kheo tại trú xứ đó mà thôi.
Tóm lại, trên đây đã trình bày về nguyên nhân, ý nghĩa, giá trị hiệu lực... và những gì liên quan đến y Ca-thi-na theo cả hai truyền thống Bắc và Nam Tông. Nhưng ngày nay Nam Tông vẫn còngiữ được truyền thống thọ trì y Ca-thi-na này một cách tốt đẹp, mà Bắc phương thì hầu như rất ít để ý đến, hoặc đã thất truyền từ lâu.*
2. Phân vật
2.1. Phân loại Tăng vật.
Những vật sở hữu của Tăng chúng nói chung, thông thường chia làm bốn loại:
1/ Thường trú thường trú: vật thường trú của Tăng chúng thường trú, tức là bất động sản của Tăng chúng thường trú (hay Tăng chúng tại trú xứ).
2/ Thập phương thường trú: vật thường trú của Tăng chúng thập phương (hay bốn phương), tức là bất động sản
* Ghi chú: Theo Pháp sư Thánh Nghiêm.Các chi tiết và thể thức thọ trì y Ca-thi-na xin xem Yết-ma Yếu Chỉ
của Tăng chúng thập phương.
3/ Hiện tiền hiện tiền: vật hiện tiền của Tăng chúng hiện tiền, tức là động sản của Tăng chúng hiện tiền.
4/ Thập phương hiện tiền: vật hiện tiền của Tăng chúng thập phương, tức là động sản của Tăng chúng thập phương.
Bất động sản là những tài sản cố định, hoặc không thuận tiện di chuyển đi nơi khác. Động sản là những vật nhẹ có thể đem đi nơi khác dễ dàng, tức là những vật thường dùng hằng ngày của chư Tăng.
Trên đây là vật sở hữu của Tăng chúng nói chung, cònvật sở hữu của Tăng chúng thập phương thì đại khái luật chia làm năm loại: 1. Ruộng đất; 2. Phòng ốc; 3. Vật thiết dụng; 4. Cây cối; 5. Hoa quả.
2.2. Nguồn gốc của Tăng vật.
Những tài sản của Tăng chúng sở hữu là do hai nguồn gốc:
1/ Vật do 7 chúng cúng dường.
Bảy chúng tức là chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Sa-di, sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Tùy theo nguyện vọng của người cúng dường mà xử lý như sau:
(l) Nếu họ cúng dường cho Tam bảo động sản hay bất động sản thì tài sản ấy chia làm ba phần, Tăng được một phần.
(2). Nếu họ cúng dường cho hai bộ Tăng (Tăng bộ và Ni bộ), thì tài sản ấy chia là hai phần, không kể nhân số (ví dụ Tăng chúng có 50 người, Ni chúng chỉ có 1 Sa-di-ni thì cũng chia làm 2 phần bằng nhau, Ni chúng nhận một phần. Hoặc trái lại cũng thế).
(3). Nếu họ cúng dường cho Tăng chúng thập phương, thì tài sản ấy thuộc Tăng chúng thập phương.
(4). Nếu họ cúng dường cho Tăng chúng hiện tiền, thì tài sản ấy thuộc Tăng chúng hiện tiền.
(5). Nếu họ cúng dường cho từng cá nhân, thì tài sản ấy thuộc về cá nhân.
Các vật được cúng dường cho Tăng, Tăng phải đem chia đều cho các Tỳ-kheo. Người đang bị Tăng tác Yêát-ma trị phạt vẫn được hưởng một phần. Phần này nên để dưới đất, họ tự đến lấy hoặc sai tịnh nhân đem cho. Nếu Tăng hòahợp thì có thể chia đều cho cả Sa-di và tịnh nhân; hoặc cho Sa-di ½, tịnh nhân ⅓ hay ¼. Trái lại, nếu Tăng không đồng ý thì không được cho.*
2/ Vật do năm chúng xuất gia qua đời để lại.
Cách xử lý như sau:
(l) Nếu người qua đời là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni thì tài sản để lại do Tăng chúng xử lý.
(2) Nếu người qua đời là Sa-di, Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na thì tài sản để lại do bổn sư xử lý. Trường hợp không có bổn sư thì Tăng chúng xử lý.
(3). Nếu người qua đời là người mà Tăng đã Yết-ma diệt tẫn (cho ra khỏi Tăng đồn), thì tài sản để lại thuộc về thân quyến, không thuộc của Tăng.
THỂ THỨC PHÂN CHIA.
Những tài sản của người quá cố để lại trước khi Tăng đem phân chia nên trích một ít cho những người được ưu tiên sau đây:
* Quan điểm của các bộ Luật không nhất trí trong vấn đề này; đo đó, có thể tùy nghi xử lý
(1)- Người nuôi bệnh: (Nếu người nuôi bệnh có 5 đức tính sau đây: 1. Cho bệnh nhân ăn uống đúng lúc; 2. Chùi rửa, dọn dẹp những vật bất tịnh của người bệnh một cách vui vẻ; 3. Nuôi bệnh vì tình thương, không có ý vụ lợi; 4. Biết phương pháp chăm sóc để bệnh nhân chĩng khỏi; 5. Có thể thuyết pháp làm cho bệnh nhân sinh tâm hoan hỷ).
(2)- Bổn sư (Thầy của người quá cố).
(3)- Người đầu tiên phát giác người chết. (trong trường hợp người chết đột ngột, hoặc ở nơi không người, nếu hai người cùng thấy một lúc thì mặt người chết quay về phía người nào, người ấy sẽ được ưu tiên).
(4)- Người thiếu những vật dụng tương tự như vật dụng mà người chết để lại.
Sau khi tưởng thưởng cho những người được quyền ưu tiên, các vật cònlại sẽ đem chia đều cho chúng Tăng. Nếu khách Tăng từ nơi khác đến gặp lúc đang Yết-ma phân vật vẫn được hưởng một phần, nhưng đến sau lúc Yết-ma thì không có.
Ngồi ra, còn nhiều quan điểm khác cũng cần lưu ý:
(l). Người chết tại trú xứ A mà tài sản để trú xứ B, ký thác cho một Tỳ-kheo ở trú xứ C, thì tài sản ấy thuộc quyền sở hữu của Tăng trú xứ C.
(2). Nếu người chết di chúc rằng thầy đã cho ai mượn vật gì đó, thì Tăng phải đòi về, hoặc là thầy đã mắc nợ ai, thì phải bán những di vật của thầy để trả nợ. Nếu lúc sinh tiền thầy đã hứa cho ai vật gì thì nên đem vật ấy cho họ. Nhưng nếu thầy di chúc rằng: “Sau khi tôi chết, đem vật này cho người này, vật nọ cho người kia...”, thì lời di chúc ấy xem như không có giá trị, Tăng được trọn quyền xử lý các tài sản ấy.
Một số chi tiết trong các vấn đề trên đây có lẽ ngày nay không cònthích hợp nữa, do đó, khi thực hiện cần uyển chuyển áp dụng cho phù hợp với thực tế và những phong tục của từng địa phương.*
*Ghi chú: Các chi tiết và thể thức thực hiện sự phân vật, xin xem Yết-ma Yếu Chỉ.