PHẦN PHÂN TÍCH NỘI DUNG
MỘT SỐ PHẨM TIÊU BIỂU
PHẨM TỰA.
Phần Tựa phần nhiều chỉ một đoạn ngắn, riêng kinh Pháp Hoa phần Tựa chiếm trọn một phẩm. Vì vậy cho nên trong phẩm Tựa bao hàm nghĩa lý được coi như một phần khai thị giáo nghĩa ở phần Chánh tông. Phẩm Tựa được chia đại cương như sau: Phần Tựa, phần Chánh tông và phần Lưu thông.
Sau đây là nội dung tổng quát :
1.
Thông tựa : Như thị ngã văn.
2.
Biệt tựa : Gồm 5 phần.
a. Tập chúng.
b. Hiện thụy : Hiện điềm lành, có hai cách giải thích.
- Hiện sáu điềm lành ở cõi này : Hiện ra sự thuyết pháp; nhập định, mưa hoa, đất rung động, chúng hoan hỷ và phóng hào quang.
- Hiện sáu điềm lành ở cõi khác : Thấy lục thú chúng sinh, thấy Phật ra đời, nghe Phật thuyết pháp, bốn chúng tu hành đắc đạo, hàng Bồ-tát tu hành, Phật Niết-bàn và xây tháp cúng dường.
c. Nghi niệm : Bồ-tát Di-lặc và Đại chúng nghi không biết Phật hiện ra những điềm lành ấy để làm gì.
d. Bồ-tát Di-lặc hỏi Bồ-tát Văn-thù : Bồ-tát Di-lặc thuật lại những điềm lành đã hiện ra ở cõi này và sáu điềm lành ở cõi khác mà mình đã thấy để hỏi Bồ-tát Văn-thù.
e. Bồ-tát Văn-thù đáp, có ba cách đáp:
* Trù lượng đáp : Bồ-tát Văn-thù trả lời theo chỗ Bồ-tát suy nghĩ.
* Dẫn chuyện xưa để so sánh chuyện nay đáp:
(a). Dẫn Phật pháp của đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tối sơ.
(b). Dẫn Phật pháp của hai vạn đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh kế tiếp.
(c). Dẫn Phật pháp của đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau cùng.
- Các đức Phật đã từng hiện đủ sáu điềm lành như đức Phật Thích-ca hiện nay: Thuyết pháp, nhập định, mưa hoa, đất rung động, chúng hoan hỷ và phóng hào quang.
- Khi chư Phật xuất định liền giảng Pháp Hoa cho Diệu Quang Bồ-tát.
- Trước khi chư Phật vào Niết-bàn, cũng đã thọ ký cho Bồ-tát Đức Tạng.
- Chư Phật vào Niết-bàn, Bồ-tát Diệu Quang trì kinh.
* Kết đáp : Bồ-tát Văn-thù đáp : Quá khứ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau khi hiện sáu điềm lành thì xuất định, liền giảng kinh Pháp Hoa. Nên biết, hôm nay
đức Phật Thích-ca cũng hiện sáu điềm lành như vậy, sau khi xuất định, Ngài cũng sẽ giảng kinh Pháp Hoa.
Cuối cùng là bài kệ trùng tuyên lời đáp của Bồ-tát Văn-thù Sư-lợi. Sau đây là phần Chánh văn.
*
Như vậy tôi nghe. Một thời đức Phật ở núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương-xá, cùng chúng đại Tỳ-kheo một vạn hai ngàn người đều đông đủ. Đều là những bậc A-la-hán các lậu đã hết, không còn phiền não, đã được lợi mình, hết các hữu kiết, tâm được tự tại, tên là A-nhã Kiều-trần-như, Ma-ha Ca-diếp... (lược) các vị đại A-la-hán như vậy là những vị trong chúng đều biết.
Đó là câu mở đầu của kinh. Câu này tất cả các kinh đều có.
Phật dạy kinh nào cũng phải có sáu thành tựu là thành tựu sáu điều để biết đó là kinh của Phật nói :
1.
Tín thành tựu : Như vậy.
2.
Văn thành tựu : Tôi nghe.
3.
Thời thành tựu : Một thời.
4.
Chủ thành tựu : Phật, thuyết pháp chủ.
5.
Xứ thành tựu : Ở núi Kỳ-xà-quật, trong thành Vương-xá.
6.
Chúng thành tựu : Cùng chúng đại Tỳ-kheo 12.000 người.
Đó là một lối chứng minh rằng lời Phật nói là công khai giữa đám đông người, chứ không phải truyền thuyết lập lại.
Như thị ngã văn. Như vậy tôi nghe là Hán dịch, còn Pàli dùng chữ Evam me suttam. Evam có nghĩa là như vậy, bao hàm ý nghĩa tin thuận. Nếu như thị có nghĩa là như thật, như như, thì Phạn âm là Tathata chứ không dùng chữ evam. Bởi khi Tôn giả A-nan trùng tuyên kinh điển trong lần kiết tập đầu tiên để chữ Như thị có nghĩa rằng điều tôi nghe đây là đúng như vậy, Phật nói như vậy tôi nghe đúng như vậy, mà nghe đúng như vậy với lòng tin thuận theo lời Phật nói. Nếu như nghe mà không tin thuận theo thì không gọi là như vậy. Tin thuận theo lời Phật dạy, nghe lời Phật dạy, Ngài nói như thế nào, bây giờ thuật lại đúng như thế đó, không thêm không bớt, và trực tiếp nghe Phật nói, chứ không phải nghe từ một người khác nói lại nên gọi như vậy. Do lẽ chính từ Tôn giả A-nan tín thuận chắc chắn như vậy, nên gây được lòng tin cho người đọc kinh sau này tin chắc lời đó là Phật nói. Cho nên đầu tiên vào kinh để như thị ngã văn là lý do đó.
Trong luận Đại Trí Độ, ngài Long Thọ cắt nghĩa chữ “Như vậy” đó là Tín và Trí : “Phật pháp như đại hải, tín vi năng nhập, trí vi năng độ”, nghĩa là, Phật pháp như biển cả, có tin thì vào được; có trí thì qua được. Tín và trí rất cần thiết, nên trong kinh thường mở đầu bằng chữ “Như vậy” là lòng tin đối với Phật pháp; như người có cánh tay đi vào núi báu mới lượm được của báu đem về
nhiều hay ít; trái lại, người không có cánh tay thì chỉ đưa mắt nhìn mà thôi, trọn không lượm được gì cả. Cũng vậy, đối với Phật pháp, có bao nhiêu núi báu vô lậu pháp công đức mà người không có lòng tin thì cũng như người không có cánh tay, chỉ đưa mắt nhìn rồi đi về, muốn lấy cũng không thể được.
Vì vậy lòng tin thật quan trọng. Một người tụng kinh, đọc kinh mà không có lòng tin Tam bảo một cách thành kính, thì kẻ ấy rất mau chán bỏ, không thể nhận được lợi ích của Phật pháp.
Ngài Long Thọ lại cắt nghĩa : “Người có lòng tin như miếng da đã thuộc, xếp cong hay tròn gì cũng được cả. Cũng vậy, người có lòng tin đối với Phật pháp thì mới có thể tiếp thu được giáo lý của đức Phật; nếu không có lòng tin thì cũng như miếng da chưa thuộc, cứng nhắc, không dùng được việc gì cả.
“Tôi nghe như vậy” là lời của Tôn giả A-nan trong khi kiết tập kinh điển. Ý Tôn giả muốn nói rằng, chính tôi được nghe đức Phật nói chứ không phải ai khác; cũng không phải người khác thuật lại hay tôi tưởng tượng. Tôi nghe như vậy là tôi xác tín điều đó, bây giờ tôi nói ra đây như vậy, không thêm không bớt, không sai khác. Chính Tôn giả A-nan đã tin và đã nói, làm cho người khác tin như vậy, thì gọi là Tín thành tựu.
Bấy giờ đức Phật trú tại núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương-xá cùng với chúng Tỳ-kheo như vậy... Các vị ấy đều là bậc đại A-la-hán, các lậu đã dứt.
Kỳ-xà-quật, Trung Hoa dịch là Linh Thứu hay Thứu sơn, nói gộp là Linh Thứu sơn (núi Linh Thứu). Núi Linh Thứu nằm trong thành Vương-xá của nước Kiều-tát-la. Núi này trên đỉnh có các mỏm đá vươn ra và nhô lên, có hình tượng như con chim Kên kên, và cũng có thể ngày xưa núi này có rất nhiều chim Kên kên đến ở, nên có tên ấy chăng?
Phật thuyết pháp ở đây cùng với chúng đại Tỳ-kheo mười hai ngàn người, đều là những bậc A-la-hán, các lậu đã sạch.
Thế nào gọi là các lậu ? Lậu có nghĩa là lọt, rơi rớt, rỉ, đó là một tên khác của phiền não, của kiết sử. Lậu có ba ý nghĩa:
1. Tiết lậu lục căn: Phiền não, tham sân uế trược rỉ ra ở sáu căn.
2. Lậu thất chánh đạo (hay lậu thất thiện căn) : Làm lọt mất chánh đạo, hay lọt mất thiện căn, không giữ lại được.
3. Lậu lạc tam giới : Bị trôi lăn trong ba cõi, vì nó mà người ta không thoát ly ra khỏi ba cõi.
Các lậu này được gọi nhiều tên khác nhau: khi thì gọi là lậu; khi thì gọi là phiền não; khi thì gọi là tùy miên... vì lậu có nhiều tính chất và tác dụng khác nhau như vậy, nên người ta gọi nó là sử hay kiết sử, gọi tắt là kiết; nghĩa là sai khiến và trói buộc. Ý nói chúng sinh vì bị các lậu này sai khiến, trói buộc, không thoát ra được, nên có nghĩa như vậy. Trong bài sám Quy Mạng có câu
: “Tích thành hữu lậu chi nhân – chứa thành nguyên nhân hữu lậu” là chỉ cho nghĩa này. Cho nên, ai còn phiền não thì gọi là người hữu lậu; ai hết phiền não là người vô lậu.
Các lậu là: Dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
a. Dục lậu : Những phiền não ràng buộc chúng sinh vào cõi Dục.
b. Hữu lậu : Những phiền não ràng buộc chúng sinh vào cõi Sắc, cõi Vô sắc.
c. Vô minh lậu : Căn bản của Dục lậu và Vô minh lậu là vô minh.
Ba thứ này làm triền phược chúng sanh trong tam giới mà các bậc A-la-hán đã dứt sạch những thứ đó, ra khỏi ba cõi nên gọi là vô sanh không còn phiền não, không còn kiết sử, tâm được tự tại, nên gọi chư lậu dĩ tận. Các vị tâm được tự tại thành bậc A-la-hán rất nhiều, như Tôn giả Xá-lợi-phất : Trí tuệ đệ nhất, Tôn giả Mục-kiền-liên : Thần thông đệ nhất... mỗi vị mỗi hạnh. Người thì chuyên tu đầu đà, người thì chuyên tu mật hạnh, và có vị thì chuyên tu hạnh thiểu dục tri túc như ngài Bạc-câu-la. Trong A Dục Vương truyện có kể rằng : Sau khi vua A Dục hồi đầu theo Phật, ông ăn năn hối cải tội ác, nên hết lòng phát huy đạo pháp, cất chùa xây tháp, cúng dường Xá-lợi..., Một hôm nhà vua đi chiêm bái tháp Phật và Thánh Tăng, mỗi tháp nhà vua đều cúng dường lễ lạy và mỗi tháp nhà vua đều hỏi lại công đức tu hành của các ngài, ngài nào cũng
có công hạnh to lớn, nhưng khi đến tháp ngài Bạc-câu-la thì biết ngài chẳng có công hạnh gì cả, duy chỉ có hạnh thiểu dục tri túc mà thôi, cho nên vua A Dục chỉ cúng dường một đồng tiền. Nhưng lạ thay, khi nhà vua về đến cung điện thì một đồng tiền cúng dường nơi tháp ngài Bạc-câu-la lại được hoàn trả lại. Bấy giờ vua A Dục mới càng kính phục hạnh thiểu dục tri túc của ngài.
Vô phục phiền não : Các lậu đã sạch, không còn phiền não.
Đãi đắc kỷ lợi : đã được lợi mình.
Các kiết sử này là nhân mà hữu là quả : nhân quả sinh tử luân hồi trong ba cõi. Chữ hữu ở trong kinh khác với chữ “hữu” ở ngoài thế gian. Trong kinh khi nói ái, thủ, hữu là hữu; ba cõi cũng là hữu (Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu). Ba cõi là quả; chín kiết là nhân. Chữ “hữu” ở đây cũng chỉ cho nhị thập ngũ hữu. Các vị A-la-hán đã dứt sạch nhân quả trong ba cõi rồi nên gọi là vô sinh, là không sinh trở lại trong ba cõi.
Tâm đắc tự tại : Tâm được tự tại, có hai : tâm đắc tự tại và tuệ đắc tự tại. Tâm đắc tự tại là định; tuệ đắc tự tại là tuệ. Khi định đã tự tại thì có tuệ. Hai câu này hợp với nghĩa của chữ Vô sinh.
Lại có hàng Hữu học và Vô học hai ngàn người. Lại có Ma-ha Ba-xà-ba-đề Tỳ-kheo-ni và quyến thuộc sáu ngàn người đông đủ. Mẹ của La-hầu-la là Da-du-đà-la Tỳ-kheo-ni cùng với quyến thuộc đông đủ.
Bồ-tát Ma-ha-tát, tám vạn người đều là những vị không thối chuyển vô thượng chánh đẳng Bồ-đề, chứng được pháp Đà-la-ni, lạc thuyết biện tài.
Đà-la-ni gọi là tổng trì. Tổng trì có bốn nghĩa : Văn tự tổng trì, Pháp tổng trì, Hành tổng trì, Giải tổng trì. Sự hiểu biết được giữ gìn chặt chẽ, đối với pháp hiểu biết trọn vẹn... cũng gọi là Đà-la-ni.
Lạc thuyết biện tài, đây là một trong bốn món vô ngại biện. Nói về vô ngại biện, tức là đứng về mặt ứng dụng. Còn về mặt hiểu biết thì gọi là bốn vô ngại giải, đó là : Pháp vô ngại giải, nghĩa vô ngại giải, từ vô ngại giải và lạc thuyết vô ngại giải.
Bốn vô ngại biện gồm có :
1. Pháp vô ngại biện : Đối với Tam tạng kinh điển, hiểu biết trên phương diện ngôn thuyết năng thuyên.
2. Nghĩa vô ngại biện : Biết được trên phương diện lý nghĩa sở thuyên.
Thuyên : Nói. Năng thuyên : Hay nói. Sở thuyên: Được nói. Ngôn giáo là năng thuyên, lý nghĩa là sở thuyên. Hiểu như thế để đừng kẹt mắc vào ngôn giáo, lấy ngôn giáo làm lý nghĩa tức là y nghĩa bất y ngữ. Pháp vô ngại biện chỉ về mặt năng thuyên : Ngôn giáo. Nghĩa vô ngại biện chỉ về mặt sở thuyên : Nghĩa lý.
3. Từ vô ngại biện : Sự vận dụng ngôn từ, cú pháp, văn phạm, rành rẽ, mạch lạc.
4. Lạc thuyết vô ngại biện :
a. Vui vẻ đem giáo pháp Phật ra truyền bá.
b. Trong sự truyền bá gây được niềm vui cho người nghe.
Trong 4 vô ngại biện được đúc kết thành hai chữ như trong kinh Lăng Già :
- Tông thông (gồm pháp và nghĩa): Thông suốt về mặt tôn chỉ giáo nghĩa.
- Thuyết thông (từ và lạc): Thông suốt về phương diện trình bày diễn tả.
Chuyển pháp luân bất thối, cúng dường vô lượng trăm ngàn các đức Phật, đối với chư Phật, gieo các gốc lành, thường được các đức Phật tán thán. Những vị này lấy từ bi để tu thân, khéo đi vào trí tuệ Phật, thông đạt đại trí, đến bờ bên kia. Những vị đó danh tiếng khắp cả vô lượng thế giới hay độ vô số trăm ngàn chúng sanh.
Dĩ từ tu thân thiện nhập Phật tuệ. Dĩ từ tu thân : Tức đem thân hành động theo những pháp lành, lợi lạc. Thiện nhập Phật tuệ : Là đi vào trí tuệ Phật. Tam tạng giáo điển là cửa ngỏ đi vào trí tuệ Phật, tu hành quán niệm là cửa ngỏ đi vào trí tuệ Phật. Nhưng nếu không khéo đi thì cũng không vào được nên trong kinh dùng chữ Thiện.
Những vị ấy là A-la-hán: A-nhã Kiều-trần-như, Ma-ha Ca-diếp, Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-chiên-diên, A-nậu-lâu-đà, Kiếp-tân-na, Kiều-phạm-ba-đề, Ly-bà-đa, Tất-lăng-già-bà-sa, Bạc-câu-la, Ma-ha
Câu-hy-la, Nan-đà, Tôn-đà-ra Nan-đà, Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử, Tu-bồ-đề, A-nan, La-hầu-la. Các vị A-la-hán như vậy chúng đều biết hết.
A-la-hán: Có 3 nghĩa: Sát tặc, ứng cúng, vô sanh.
- Chính câu "chư lậu dĩ tận, vô phục phiền não" đó là câu cắt nghĩa chữ sát tặc.
- Đãi đắc kỷ lợi: Đó là nghĩa ứng cúng.
- Tận chư hữu kiết: : Sạch hết các hữu, các kiết, tâm được tự tại. Hữu đây chỉ cho tam hữu. Kiết có chín thứ : ái, kiết (nhuế), mạn, si, nghi, kiến, thủ, xan, tật. Hữu và kiết đây là nhị thập ngũ hữu hay tam hữu. Cho nên chữ hữu trong kinh có khác với chữ hữu là có, ví dụ như nói ái thủ hữu cũng gọi là hữu, ba cõi cũng gọi là hữu. Chữ hữu có nghĩa rộng như vậy cho nên chữ hữu này có nghĩa là nhị thập ngũ hữu hay tam hữu. Tam hữu là cái nhân, còn cái quả là kiết sử. Vì vậy các kiết sử là cái nhân mà tam hữu là cái quả. Cho nên chữ A-la-hán là dứt sạch, vì dứt sạch nhân quả trong tam giới rồi cho nên cũng có thể gọi là vô sanh, không còn sanh trong tam giới này nữa, cho nên tâm đắc tự tại, câu này là hợp với nghĩa vô sanh. Thành thử "chư lậu dĩ tận, vô phục phiền não, đãi đắc kỷ lợi, tận chư hữu kiết, tâm đắc tự tại" là cắt nghĩa chữ A-la-hán, tán dương công đức của A-la-hán, công đức của A-la-hán gồm trong 3 nghĩa đó.
Chúng sở trí thức: Đây là những vị danh tiếng mà mọi người đều biết tới, có danh xưng, có chúng tán thán, đó là các vị:
· A-nhã Kiều-trần-như : Một trong năm vị Tỳ-kheo được Phật thuyết pháp đầu tiên. A-nhã có nghĩa là “hiểu”, “biết”. Khi Phật thuyết pháp cho năm vị Tỳ-kheo, Phật hỏi có hiểu không, Kiều-trần-như trả lời là hiểu. Ông là người đầu tiên hiểu pháp Tứ đế, chứng được quả Tu-đà-hoàn nên gọi là “A-nhã”.
Trong Tăng nhất A-hàm, Phật tán thán: “Tỳ-kheo bậc nhất trong chúng Thanh văn của Ta về lòng nhân từ rộng rãi, biết rộng, khéo hay khuyên bảo giáo hóa nuôi dưỡng Thánh chúng, chẳng mất oai nghi, đó là A-nhã Kiều-trần-như. Nhận Pháp vị đầu tiên, suy nghĩ về Tứ đế cũng là A-nhã Kiều-trần-như”.
· Ma-ha Ca-diếp: Ca-diếp theo sách Trung Hoa gọi là Ẩm Quang vì thân ngài có ánh sáng lấn lướt hết các ánh sáng khác. Lịch sử kể lại ngài là con đại Bà-la-môn, khi sanh ra tánh ngài ưa yên tịnh, cha mẹ muốn lập gia đình cho ngài, nhưng ngài chỉ ưa làm đạo sĩ lang thang đó đây, chứ không ưa cuộc sống gia đình. Thế nhưng để tỏ lòng hiếu thuận với cha mẹ nên đã theo lời mẹ lập gia đình, nhưng ngài ra một điều kiện là thuê một người thợ lập một bức tượng nữ nhân xinh đẹp và thưa cha mẹ xem có nữ nhân nào như vậy thì sẽ bằng lòng. Cha mẹ vì thương con, nghĩ chắc sẽ có người như vậy nên sai vị hào trưởng đi du lịch đó đây để tìm người như vậy. May thay, ở một làng kia có người con gái giống hệt như bức tượng. Nàng tên là Bana có nghĩa là Mỹ hạnh, Hữu hạnh. Nàng con gái nầy cũng là con nhà giàu, cha mẹ cô cũng ép cô lấy chồng; nhưng cô không
chịu chỉ muốn làm kiếp đạo sĩ lang thang đó đây mà thôi. Đến khi hai họ tìm gặp hoàn cảnh hai người thì liền thông báo cho nhau biết và xin lập thông gia. Ngài Ca-diếp khi được giới thiệu về nàng Bana thì ngài liền viết thư khuyên nàng Hữu hạnh hãy tìm một người xứng đáng để gá nghĩa trăm năm, còn ngài chỉ muốn làm một đạo sĩ lang thang đây đó, nàng đừng mong đợi gì mà thất vọng. Cô Bana kia cũng viết lại một bức thư nội dung cũng giống như bức thư của ngài Ca-diếp viết cho cô; nhưng cha mẹ hai bên thì không hiểu uẩn khúc này nên xúc tiến việc hôn nhân. Cưới xong Ca-diếp hỏi cô có nhận được bức thư không và đọc cho ông nghe thử. Cô liền đọc nội dung bức thư, Ca-diếp thấy chẳng trúng gì cả. Cô cũng hỏi lại Ca-diếp và ngài cũng đọc nội dung thư cô gởi thì thấy cũng sai luôn; vì cha mẹ đã tráo nội dung thư của hai người gởi cho nhau. Thế là hai bên đành thỏa ước lại, giả làm vợ chồng với nhau để thỏa lòng cha mẹ chờ khi cha mẹ mất sẽ xuất gia. Sau đó Ngài Ca-diếp đến gặp Phật và lãnh hội ý nghĩa thâm áo của giáo lý đức Phật. Ngài Ca-diếp khi ấy tuổi cũng đã lớn, gặp lúc Phật mặc một chiếc áo cũ kỹ mà Ca-diếp thì giàu có, bèn dâng chiếc áo đẹp của mình cúng dường đức Phật. Đáp lại lòng của Ca-diếp, đức Phật nói : “Ta cũng có một vật quý lắm, đó là pháp giải thoát và chiếc áo của Ta, Ta trao lại cho ngươi làm kỷ niệm”. Ngài Ca-diếp nói: “Con sẽ giữ nó suốt đời”. Từ đó ngài tu theo hạnh Đầu-đà. Đầu-đà có nghĩa là đẩu tẩu. Tẩu có nghĩa là rũ như giũ áo cho sạch bụi. Tu hạnh Đầu-đà đó là để rũ lòng mình cho sạch các phiền não
Đầu-đà cũng gọi là Thập nhị hạnh đầu đà, không ngoài : y, thực, trú (cơm ăn, áo mặc, chỗ ở …).
Thập nhị hạnh đầu đà : 1. Trước phấn tảo y : Y lượm của người chôn xác chết, hay y dơ bẩn vất ngoài nghĩa địa, gọi là phấn tảo y, tức y xấu, y tệ, y kém, nghĩa là kém hơn người xung quanh ; 2. Ba y: Chỉ đủ ba y thôi chứ không quá; 3. Thường khất thực: Ngày nào cũng đi khất thực không bỏ; 4. Thứ đệ khất thực: Đi khất thực thứ lớp nhà này nhà kia; 5. Tiết độ thực: Khất thực vừa đủ ăn; 6. Ngọ trung nhất thực: Giữa ngọ ăn một bữa; 7. Ngọ hậu bất thực tương : Sau giờ Ngọ không uống các loại nước có bã và thức ăn lỏng ; 8. Thường ở nhàn tịnh xứ : A-lan-nhã, chỗ thanh vắng ; 9. Trục gian trú : Ở giữa chỗ gò mả, để thuận tiện quán tử thi, thấy cảnh vô thường, bất tịnh ; 10. Thọ hạ nhất túc : Ngủ dưới cây một đêm, đêm này ngủ cây này, đêm kia ngủ cây khác ; 11. Lộ địa trú : Ở chỗ trống; 12. Thường toạ bất ngoạ : Ngồi nhiều chứ không nằm, ít ngủ. Ngài Ca-diếp phát nguyện tu mười hai hạnh Đầu-đà đến suốt đời, đến nỗi Phật khuyên ông già yếu rồi nghỉ đi, ngài chỉ nói dạ nhưng bản thân thì không nghỉ, cho nên ngài Ca-diếp được đức Phật ngợi khen vì hạnh Đầu-đà đó. Sau khi đức Phật diệt độ, ngài đứng ra lãnh đạo chúng Tăng mở cuộc kiết tập kinh điển đầu tiên. Khi đức Phật diệt độ ngài không có mặt tại đó, ngài từ Khổ hạnh lâm đi về, giữa đường gặp người Tà mạn ngoại đạo, cầm cái hoa đi ngược đường, ngài hỏi Tà mạn: “Tôn giả ở đâu đến?” Tà mạn trả lời: “Tôi ở nơi đức Phật đến”. – “Thế thì Tôn giả có biết đức Đại sư của tôi có khỏe không?” Tà
mạn trả lời: “Ồ, ông Đại sư của hiền giả đã tịch diệt rồi!” Khi nghe như vậy, những vị chứng A-la-hán đi với ngài thì yên lặng, còn các vị khác chưa chứng A-la-hán thì khóc lóc than tiếc. Chúng ta cũng nên biết, khi chưa gặp Phật, Ca-diếp tu đạo thờ thần lửa. Sau được Phật thuyết pháp hóa độ cho, ông trở thành một trong những đại đệ tử của Phật. Đại Ca-diếp là người tu hạnh Đầu-đà tinh cần nhất.
Trong thời Phật còn tại thế, chính ông đã được Phật chia tòa cho ngồi cùng với Phật, chính ông đã được dùng cái áo của Phật và Phật cũng có lần dùng áo của ông. Sau khi Phật diệt độ hơn ba tháng, chính ông là người đã đứng lên triệu tập hội nghị kiết tập kinh điển lần thứ nhất ở thành Vương-xá gần động Thất Diệp (Saptaparni).
Trong Tăng nhất A-hàm Phật tán thán: “Mười hai hạnh đầu đà khó hành đệ nhất là Đại Ca-diếp”.
· Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên: Xá-lợi-phất nghĩa là con của bà Xá-lợi.
Ấn Độ lúc bấy giờ có nhiều nước, Ma-kiệt-đà là nước lớn nhất. Ở đó có một luận sư nổi tiếng không ai địch nổi tên là Ma-đà-la. Ông này có hai con : cô gái lớn tên là Xá-lợi (vì cô này có đôi mắt đẹp như đôi mắt của loài chim bồ câu), người con trai thứ hai tên là Câu-hy-la. Ông này có đầu như cái gối, nên người ta còn gọi là Đại Tất.
Lúc bấy giờ ở Nam Thiên Trúc cũng có một luận sư tên là Đề-xá. Ông này tự cho mình là thông thái quá, vì bao nhiêu kinh sách có trong đời ông đều đọc hết. Ông tự
đắc rằng, bụng mình chứa nhiều kiến thức như vậy sẽ có ngày nứt vỡ, nên ông làm một cái nịt sắt thắt quanh bụng và đội một chảo lửa trên đầu. Mọi người thấy vậy lấy làm kinh ngạc, hỏi :
- Sao ông đội chảo lửa trên đầu mà đi ?
Ông bảo:
- Tối quá !
Mọi người nói :
- Mặt trời chiếu sáng thế này, sao ông bảo là tối?
Ông bảo :
- Tối có hai nghĩa : một là không có ánh sáng, hai là ngu si. Thiên hạ còn ngu si nghĩa là còn tối, nên tôi phải đội lửa mà đi.
Ông bèn đến Ma-kiệt-đà thách đố mọi người xem có ai dám đến nghị luận với ông không. Bấy giờ Ma-đà-la chịu đứng ra luận nghị với ông. Ma-đà-la thua, liền đem con gái lớn là Xá-lợi gả cho Đề-xá.
Hai chị em Xá-lợi đều rất thông thái và thường nghị luận với nhau. Thời gian mang thai, Xá-lợi lại càng xuất sắc hơn, nên Câu-hy-la nghị luận không thắng chị được. Ông nghĩ : Đây không phải là sự thông minh vốn có của chị ta, mà đây là do sự thông minh của thai nhi trong bụng gởi lời nơi miệng mẹ. Ông bèn quyết chí đi học, vì sợ sau này sẽ thua đứa cháu sắp sinh.
Ông đi tìm thầy học đạo và rất chăm học, đến nỗi tóc và móng tay dài mà cũng không cắt. Vì vậy người đời gọi Câu-hy-la là Trường Trảo Phạm chí (Phạm chí có móng tay dài).
Trong thời gian Câu-hy-la đi học thì Xá-lợi-phất đã được sinh ra và lớn lên. Một hôm Câu-hy-la đến nước Xá-vệ. Ở đây người ta đang tổ chức một hội luận nghị. Ông nhìn quanh thấy các vị Luận sư, không thấy ai có thần khí xuất sắc cả, ông bèn bước lên tòa Luận sư và biện luận một cách thông suốt trước sự ngạc nhiên và khâm phục của mọi người.
Khi ông về nhà hỏi thăm người cháu, thì được biết là người cháu đã đi theo đức Cồ-đàm (Cồ-đàm là một tên gọi khác của các ngoại đạo dành cho đức Phật). Ông tự hỏi: “Sa-môn Cồ-đàm có oai lực gì mà khuyến hóa được cháu ta là một người thông minh như thế ?” Ông bèn hỏi thăm chỗ ở của Phật và người cháu. Ông đến gặp Phật và được Phật thuyết pháp cho. Khi nghe xong bài pháp, ông nhiếp tâm mà được chứng quả A-la-hán. Khi ấy Xá-lợi-phất đang đứng hầu Phật, qua bài pháp ấy mà cũng chứng được quả A-la-hán.
Vì Xá-lợi-phất là con của Đề-xá và bà Xá-lợi, nên khi sinh ra ông có tên là Ưu-ba-đề-xá (Upatissa) và Xá-lợi-phất hay Xá-lợi-tử (Sariputra).
Cùng sinh một ngày với Xá-lợi-phất có ngài Mục-kiền-liên ở xứ Kolita, nên ngài cũng có tên là Kolita. Hai ngài kết bạn với nhau và rất tâm đầu ý hợp, vì hai ngài có tư cách, tính tình rất giống nhau.
Sau một thời gian, hai ngài cùng thấy đời là vô thường nên muốn xuất gia. Hai ngài nghe San-xà-dạ (Sanyaya) là một nhà tu hành có tiếng, nên cùng nhau đến đầu sư học đạo. Học được một thời gian, họ vẫn thấy mù mịt, chưa tỏ được đạo lý sáng suốt nên bỏ mà cùng nhau lên đường tầm sư học đạo. Họ ước với nhau rằng hễ ai gặp được thầy hay thì hãy báo cho nhau biết để cùng tu cùng chứng.
Một hôm, trên đường đi, Xá-lợi-phất gặp Ác-bệ, là một trong năm vị Tỳ-kheo được Phật thuyết pháp đầu tiên (Kiều-trần-như, Ác-bệ, Thập-lực Ca-diếp, Ma-ha Nam-câu-ly và Bạc-đề). Thấy pháp tướng của Ác-bệ phi thường, Xá-lợi-phất đến gần hỏi :
- Tôi thấy Ngài sáu căn thanh tịnh, tự tại giải thoát như vậy, chẳng hay Ngài tu theo pháp của ai mà được như thế ?
Ác-bệ đáp :
- Tôi tu theo giáo pháp của đức Cồ-đàm, dòng họ Thích-ca đã thành bậc Đại giác.
- Pháp môn ấy là pháp môn gì ?
- Đấng Đại giác thuyết pháp cho tôi nhiều lắm nhưng tôi thu nhận được rất ít, nên không dám nói.
- Nếu Ngài không nói hết được, thì xin Ngài tóm tắt cho một vài câu cũng được.
Ác-bệ liền đọc bài kệ :
“Chư pháp tùng duyên sinh
Diệc tùng nhân duyên diệt
Ngã Phật Đại Sa-môn
Thường tác như thị thuyết”.
Tạm dịch:
“Các pháp từ duyên sanh,
Cũng do nhân duyên diệt,
Bậc Đại Sa-môn của tôi,
Thường hay dạy như thế”.
Đây là bài kệ tóm tắt giáo lý tinh yếu của Phật giáo, đó là lý Duyên khởi và Tứ đế.
Lý Duyên khởi: Không pháp này tự sinh, cũng không phải pháp này tự diệt, đều từ duyên giả sinh, cũng từ duyên giả diệt. Do nhân duyên hợp lại nên giả có sinh; do nhân duyên tan rã nên giả có diệt. (Không có pháp này sinh, pháp này diệt. Các pháp theo duyên mà sinh, theo duyên mà diệt. Nhân duyên hòa hợp lại thì hư vọng sinh, nhân duyên rời xa thì hư vọng diệt). Nó không thật có nên không nói sinh diệt được.
Tứ đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.
Duyên sinh duyên diệt, nói về Mười hai nhân duyên, tức là Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức v.v... cho đến Lão tử là nói lưu chuyển. Nói về Hoàn diệt thì từ Vô minh diệt thì Hành diệt v.v... cho đến Sinh diệt, Lão tử diệt. Như vậy, “chư pháp tùng duyên sinh” là Tập đế, Khổ đế; “Chư pháp tùng duyên diệt” là Diệt đế.
Khi nghe xong bài kệ này, Xá-lợi-phất vui mừng quá, trạng thái con người thay đổi, liền về báo cho Mục-
kiền-iên biết. Vừa thấy nét mặt hớn hở của Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên liền hỏi :
- Hiền giả được nước cam lồ rồi hay sao mà nét mặt hoan hỷ thế ?
- Đúng thế. Có một vị đệ tử của đức Cồ-đàm nói cho một bài kệ hay quá, tôi xin đọc lại cho hiền giả nghe.
Mục-kiền-liên khi nghe xong bài kệ, liền hoan hỷ, cùng với Xá-lợi-phất đến Trúc Lâm xin làm đệ tử Phật. Khi hai Tôn giả vào, Phật đang ngồi giữa đại chúng, Phật hỏi :
- Này các Tỳ-kheo, có biết hai người này không? Đây là hai vị đệ tử lớn của Như Lai đấy.
Hai Tôn giả đến tu với Phật, nhưng căn cơ của hai vị khác nhau nên chứng quả cũng khác nhau.
Tôn giả Mục-kiền-liên trí tuệ không bằng Tôn giả Xá-lợi-phất nhưng sức tu hành và định tâm nhiều hơn nên Tôn giả có thần thông đệ nhất. Vì thế mà chỉ cần tu một tuần là Mục-kiền-liên đắc ngộ A-la-hán. Còn Xá-lợi-phất thông minh như thế mà phải hai tuần sau khi Trường Trảo Phạm chí đến hầu Phật, Phật thuyết pháp cho nghe, Xá-lợi-phất nhân đó mới chứng quả A-la-hán.
Từ đó, hai Tôn giả trở thành hai vị đệ tử thượng thủ, được xem như hai cánh tay hộ pháp được vận chuyển: Ngài Xá-lợi-phất như cánh tay phải và ngài Mục-kiền-liên như cánh tay trái của đức Phật. Khi A-nan và La-hầu-la xuất gia, Phật cũng giao hai vị này cho Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên dạy dỗ. Trong kinh Tăng nhất A-
hàm có lời tán thán như thế này: “Ngã Phật pháp trung trí tuệ vô cùng dụng chư nghi giả, Xá-lợi-phất tối đệ nhất. (Xá-lợi-phất là bậc trí tuệ đệ nhất trong Phật pháp)”.
Và cũng trong Tăng nhất A-hàm, Phật tán thán: “Trí tuệ vô cùng, giải quyết hết các nghi, đệ nhất là Tỳ-kheo Xá-lợi-phất; Thần túc nhẹ nhàng, bay đến mười phương, đệ nhất là Tỳ-kheo Mục-kiền-liên”
· Ma-ha Ca-chiên-diên : Trung Hoa dịch là Văn Sức hay Hải Kiến. Ngài rất có đặc tài về luận nghị. Một hôm có người hỏi :
- Ngài tên gì ?
Ngài bảo :
- Hỏi nghĩa chứ hơi đâu hỏi tên cho mệt.
- Vả chăng không dựa vào pháp mà được Niết-bàn chăng ?
- Không dựa pháp ngũ uẩn thì được Niết-bàn, tức là yếm ly ngũ uẩn, không chấp ngũ uẩn thì được Niết-bàn.
- Thế ngũ uẩn từ đâu sinh ?
- Ngũ uẩn từ ái sinh.
- Làm sao diệt ái ?
- Lấy Bát chánh đạo diệt ái.
Ngài có tài nghị luận như thế, nên trong kinh Tăng nhất A-hàm nói : “Thiện phân biệt nghĩa, phô diễn đạo pháp giả Ca-chiên-diên tối ư đệ nhứt. (Vị
giỏi phân biệt ý nghĩa và phô diễn đạo pháp đệ nhất là Ca-chiên-diên)”.
· A-nậu-lâu-đa : Trung Hoa dịch là Vô Cùng. Cũng còn có tên là A-na-luật hay A-na-luật-đà (Anarudha).
Ông là con Hồng Phạn Vương, em ruột của Ma-ha Nam. Vua Hiếp Sư Tử có ba con là Tịnh Phạn, Bạch Phạn và Hồng Phạn. Ma-ha Nam và A-nậu-lâu-đà gọi vua Tịnh Phạn bằng bác ruột, tức là anh em thúc bá với đức Phật. Gia đình ông nhờ có phước báo cúng dường chư vị Bích-chi Phật Ly-ca một bữa ăn, nên trong nhà ông không thiếu thứ gì cả. Ông cùng các vương đệ chơi cưỡi ngựa đánh cầu. Hễ ai thua là phải nộp bánh. Ông bị thua luôn và mẹ ông phải làm bánh hoài, rất mệt.
Một hôm, bà để một cái khay đậy kín, A-na-luật đánh cầu thua, về nhà lấy bánh đem nộp.
Ông hỏi mẹ :
- Bánh gì trong ấy hở mẹ ?
Bà mẹ bảo :
- Bánh “không có”.
Nhưng nhờ phước báo, nên khi mở ra, ông thấy một khay đầy bánh, khác thứ bánh ngày thường và ăn rất ngon. Ông nghĩ : “Bấy lâu nay mẹ mình có thứ bánh “không có” rất ngon mà mẹ giấu, chưa hề cho mình ăn, nay mới được ăn”.
Sau này lớn lên, nhận thấy cuộc đời vô thường, sự sống thật không có ý nghĩa, nên khi Phật về thăm cung thành Ca-tỳ-la-vệ, vua Tịnh Phạn kêu gọi trong Hoàng
tộc, nhà nào có hai, ba người con trai thì nên xuất gia một người. A-na-luật hưởng ứng lời vua Tịnh Phạn, theo Phật xuất gia.
A-na-luật tu thiền định rất tinh tấn, thức ngủ đến nỗi mù cả hai mắt. Mỗi khi bị rách y, các Tỳ-kheo khác phải khâu giúp. Nhưng không lâu sau, do nhờ sức tinh tấn thiền định nên ông đã chứng được thiên nhãn thông đệ nhất. Do vậy mà các việc may y đều không còn trở ngại nữa.
Trong Tăng nhất A-hàm Phật tán thán: “Thiên nhãn đệ nhất, thấy các cõi ở mười phương, đệ nhất là A-na-luật”.
· Kiếp-tân-na : Trung Hoa dịch là Phòng Túc hay Phòng Tú. Phòng Tú là ngôi sao Phòng. Bà mẹ Ngài thấy ngôi sao này mà sinh ra Ngài, nên gọi là Phòng Tú. Phòng Túc là ngủ lại trong phòng.
Kiếp-tân-na không phải xuất gia làm đệ tử Phật, mà xuất gia với một đệ tử của Phật. Trước và cho tới khi xuất gia, ông chưa một lần gặp Phật hoặc thấy Phật. Nên sau khi xuất gia, ông tới tinh xá Trúc Lâm đãnh lễ đức Phật.
Một hôm, đang đi giữa đường, nhân lúc trời tối gặp mưa, Kiếp-tân-na bèn vào nhà một người thợ gốm để xin ngủ trọ. Cùng chiều ấy cũng có một vị Tỳ-kheo nữa đến xin tá túc.
Người thợ gốm nói :
- Nhà tôi chỉ có một phòng trống mà hồi nãy đã có một vị Tỳ-kheo đến xin trọ rồi. Bây giờ nếu Thầy muốn ngủ lại, thì xin hãy đến thương lượng với vị kia.
Kiếp-tân-na nghe thấy, liền nói :
- Không sao, Thầy cứ ở lại đây cho vui. Phòng còn rộng chỗ mà.
Rồi ông nhường bớt một nửa phòng cho vị Tỳ-kheo mới đến. Suốt đêm ấy, Kiếp-tân-na chỉ chú tâm chuyên cần thiền định. Vị Tỳ-kheo mới đến theo dõi thấy Kiếp-tân-na là một người hết sức chí thành tu niệm, nên sáng hôm sau khi thức dậy, vị Tỳ-kheo hỏi Kiếp-tân-na :
- Thầy tu bao lâu rồi ?
- Dạ, tôi chỉ mới tu gần đây thôi.
- Thầy tu theo giáo pháp của ai ?
- Dạ, tôi tu theo giáo pháp của đức Thích-ca Mâu-ni.
- Thầy đã thấy Ngài chưa ?
- Thưa chưa. Tôi đang trên đường đến xin yết kiến Ngài.
- Bây giờ giả sử có đức Thích-ca thuyết pháp cho Thầy, Thầy có nghe không ?
- Dạ, xin nghe.
Hóa ra, vị Tỳ-kheo ấy chính là đức Thích-ca Mâu-ni. Phật liền thuyết pháp cho Kiếp-tân-na. Càng nghe, tâm ông càng sáng suốt. Cuối cùng, ông mới hiểu ra đây chính là đức Thích-ca mà mình đang tìm gặp. Ông liền đứng dậy đảnh lễ và xin đức Phật cho phép xuất gia.
· Kiều-phạm-ba-đề : Trung Hoa dịch là Ngưu Tử, vì ngài trong một kiếp có tật nhai lại như trâu, nên khi sinh ra được đặt tên là Ngưu Tử.
Ngài là người rất thông hiểu giới luật. Ngài là đệ tử của Tôn giả Xá-lợi-phất. Khi đại hội kiết tập kinh điển lần thứ nhất thì ngài đang ở trên cung trời Đao Lợi. Khi nói đến việc kiết tập Luật tạng thì mọi người ai cũng nghĩ đến Kiều-phạm-ba-đề, bèn sai sứ giả đến thỉnh ngài về tụng Luật để kiết tập Luật tạng. Kiều-phạm-ba-đề hỏi vị sứ giả:
- Đức Thế Tôn diệt độ rồi phải không ?
- Thưa, phải.
- Còn Xá-lợi-phất, Thầy tôi, còn mạnh khỏe không ?
- Ngài cũng đã diệt độ rồi.
- Thế Tôn giả Mục-kiền-liên, Pháp hữu của Thầy tôi hiện nay ra sao ?
- Ngài cũng đã diệt độ rồi.
Tôn giả liền nói :
- Đức Như Lai và các bậc Tôn sư đã diệt độ cả, tôi còn về làm gì nữa !
Ngài liền phóng một luồng nước cam lồ đến Tôn giả Đại Ca-diếp ở giữa đại hội. Trong luồng nước cam lồ ấy vang lên một bài kệ :
“Kiều-phạm-ba-đề khể thủ lễ,
Diệu Chúng đệ nhất Đại đức Tăng,
Văn Phật diệt độ, ngã tùy diệt
Tượng vương dĩ khứ tượng tử tùy,
Nhất đăng diệt nhi nhất đăng tục.
Tạm dịch:
“Kiều-phạm-ba-đề cúi đầu đảnh lễ,
Vị Đại đức Tăng ở trong chúng của Phật,
Nghe đức Thế Tôn đã diệt độ, tôi cũng xin
diệt độ theo,
Như voi chúa đi thì voi con cũng đi theo,
Một ngọn đèn tắt mà một ngọn đèn vẫn tiếp tục cháy sáng
· Ly-bà-đa : Trung Hoa dịch là Ly Việt hoặc Giả hòa hợp hay Thường Tác Thanh.
Nhân có một lần ngài ngủ trọ trong một ngôi nhà trống, nửa đêm có một con quỷ đem đến một xác người. Lại có một con quỷ khác đến giành cái thây đó. Quỷ nào cũng bảo cái thây ấy là của mình đem tới. Thấy ngài nằm đó, chúng bèn bảo : “Thử hỏi người này xem thây đó của ai”. Ngài liền nghĩ: “Nói thật cũng chết, nói dối cũng chết. Thà nói thật mà chết còn hơn nói dối”, nên ngài nói: “Thây chết do quỷ trước đem tới”. Thế là quỷ sau tức giận bèn rứt một cánh tay của ngài mà ăn. Lập tức quỷ trước rứt một cánh tay của thây chết ráp vào cho ngài. Quỷ sau lại rứt một cánh tay khác của ngài mà ăn, quỷ trước lại rứt cánh tay kia của thây chết ráp vào. Lần lượt như vậy, quỷ thứ hai ăn hết thân xác của ngài mà vẫn sống. Quỷ thứ hai ăn xong bèn bỏ đi. Ngài nghĩ: Bây giờ thân này là thân của ta hay không phải thân của ta ? Nếu nói là thân của ta thì sao ta thấy quỷ thứ hai đã ăn hết rồi? Nếu nói không phải thân ta thì ta mang cái gì đây?” Ngài rời chỗ ngồi để đi hỏi mọi người. Bỗng gặp các vị Tỳ-kheo đang du hành, ngài hỏi :
- Tôi có thân không ?
- Chẳng phải ông đang mang cái thân đó, sao ông còn hỏi ?
Ông liền đem việc trên kể lại cho các Tỳ-kheo nghe. Các Tỳ-kheo liền bảo ông :
- Từ xưa tới nay, không có cái gì là thật của ông. Ai cũng mang cái thân giả huyễn vay mượn của nhiều người khác chứ không có cái gì là chắc thật của mình cả.
Vì lý do đó mà ông có cái tên là “Giả Hòa Hợp”. Lại có tên là “Thường Tác Thanh”, vì ông thường kêu lên : “Thân này là thân của tôi hay thân của ai đây ?”
Trong Tăng nhất A-hàm có tán thán: “Tọa thiền nhập định tâm bất tán loạn giả Ly-bà-đa đệ nhất. (Vị tọa thiền nhập định, tâm không tán loạn đệ nhất là Ly-bà- đa)”.
· Bạt-câu-la : Trung Hoa dịch là Thiện Dung.
Nhân kiếp trước nhờ cúng dường cho một vị Tỳ-kheo bệnh một quả A-lê-lặc mà suốt đời này ngài không bệnh. Ngài rất vui thích cảnh nhàn cư, không thích giao du, sống tri túc, thiểu dục, thọ mạng rất lâu dài. Ngài tịch khi Phật còn tại thế.
Sau này khi vua A-dục hồi đầu Tam Bảo, hộ trì Chánh pháp rất đắc lực. Vua cho xây 84.000 trụ đá để ghi dấu những nơi như Phật Đản sinh, Thành đạo, Chuyển Pháp luân và nhập Niết-bàn... Vua cũng thường đến đảnh lễ các tháp thờ Phật và chư vị Thánh tăng. Đến tháp của ngài nào thì người ta kể công đức của ngài đó.
Khi đến tháp của Tôn giả Xá-lợi-phất, được nghe qua công đức của ngài, vua bèn cúng 100 đồng tiền vàng. Đến tháp ngài Mục-kiền-liên và các ngài khác cũng vậy. Khi đến tháp ngài Bạt-câu-la, vua hỏi : “Ngài này có công đức gì ?” Mọi người thưa : “Ngài này chỉ tu hành yểm ly thế gian, thiểu dục tri túc chứ không hề thuyết pháp độ sinh”. Vua nói : “Ngài này công đức ít quá!” và chỉ cúng 1 đồng tiền vàng. Khi về cung, vua liền giật mình sửng sốt khi thấy đồng tiền vàng ấy lại nằm ngay trên bàn. Từ đó vua mới nhận ra rằng công đức yểm ly thế gian, thiểu dục tri túc thật to lớn biết chừng nào ! Mặc dầu chỉ là cái tháp không cũng có năng lực không nhận đồng tiền vàng, đem trả lại cho vua.
Nên trong Tăng nhất A-hàm có tán thán : “Thọ mạng cửu trường chung bất trung nhiễu, lạc nhàn cư bất xử chúng trung, Bạt-câu-la đệ nhất. (Vị thọ mạng dài lâu, thanh tịnh, nhàn cư đệ nhất là Câu-bạt-la)”.
Điều ấy cho chúng ta thấy rằng thiểu dục tri túc không phải là chuyện tầm thường mà cho là không có công đức. Chính Tôn giả Bạc-câu-la là người không thích ở trong chúng nhiều. Ở trong chúng nhiều cũng có lợi nhưng cũng có hại, như trong kinh Di giáo, Phật dạy : “Tịnh xử chi nhân, Đế Thích chư thiên sở cọng kỉnh trọng. Thị cố đương xả thử chúng, tha chúng, không nhàn độc cư. Nhược nhạo chúng giả tắc thọ chúng não; thí như đại thọ chúng điểu tập chi, tắc hữu khô chiết chi hoạn”. Nghĩa là, người ở yên tĩnh thì Đế
Thích và chư thiên đều tôn kính. Vì thế mà hãy thoát ly hội chúng của mình và người, ở thanh vắng đơn độc. Nếu thích hội chúng thì sẽ bị hội chúng quấy phá; ví như cây lớn mà chim chóc đến tụ tập thì cũng bị cái bệnh khô gãy”. Thế nên, chúng ta phải thấy được công đức của thiểu dục tri túc và tai họa của việc ham thích chỗ hội chúng ồn ào náo nhiệt.
· Câu-hy-la : Cậu ruột của Xá-lợi-phất, tức là Trường Trảo Phạm chí như đã nói ở trước.
Trong Tăng nhất A-hàm đức Phật tán thán: “Được tứ biện tài đối đáp những vấn nạn đệ nhất là Tỳ-kheo Ma-ha Câu-hy-la”.
· Nan-đà : Trung Hoa dịch là Mục Ngưu, Phóng Ngưu (Nikàya có nói rõ) hay Thiện Hoan Hỷ. Phóng Ngưu là vì vua Tần-bà-sa-la một lần thỉnh Phật và chúng Tăng an cư tại vương quốc của mình trong 3 tháng mùa mưa. Vua sai những người chăn trâu dắt trâu đến buộc ở gần đó để hằng ngày tiện lấy sữa cúng dường. Cuối ba tháng mùa mưa, vua nghĩ rằng: “Những người chăn trâu này lấy sữa đem dâng Phật nhưng chưa bao giờ gặp Phật, nên cho họ vào gặp Phật”. Những người chăn trâu bàn với nhau: “Nếu gặp Phật, chúng ta nên hỏi gì ? Ngài là con vua, nên kinh sách gì Ngài cũng hiểu hết, còn phép chăn trâu thì chắc là Ngài chịu. Vậy chúng ta nên hỏi Ngài có phép gì chăn trâu cho tốt là thật tế nhất”. Hỏi phép này, họ đoan chắc là Ngài chịu, không trả lời được. Không ngờ khi họ hỏi Phật,
Phật dạy: “Chăn trâu có 11 phép, làm đúng 11 phép ấy, bầy trâu sẽ phát triển tốt”.
Mười một phép ấy là: “Nếu người chăn trâu phạm phải 11 điều sau thì không thể làm cho đàn trâu lớn mạnh :
1. Không biết sắc pháp.
2. Không biết tướng trạng.
3. Không biết trừ khử độc trùng.
4. Không biết băng bó vết thương.
5. Không biết un khói.
6. Không biết chọn đường đi.
7. Không biết thương đàn trâu.
8. Không biết chỗ nước trâu có thể lội qua.
9. Không biết chọn chỗ thả trâu ăn.
10. Vắt sữa trâu cho đến kiệt quệ.
11. Không biết chăm sóc những con trâu đầu đàn.”
(Phật thuyết pháp ngưu kinh)
Cho nên Tôn giả Nan-đà còn có tên là Mục Ngưu hay Phóng Ngưu. Sau này Mục Ngưu đồ nhân nơi tích này mà diễn dịch ra.
Trong Tăng nhất A-hàm Phật tán thán: “Thân thể như trời, đoan chánh khác biệt với đời, các căn tịch tịnh, tâm không biến dị, đệ nhất là Tỳ-kheo Nan-đà”.
· Tôn-đà-ra Nan-đà : Trung Hoa dịch là Hảo Ái. Đúng ra tên của ngài là Nan-đà mà thôi. Nhưng đây là ghép thêm tên bà vợ của ông là Tôn-đà-lỵ, nên có thêm tên là Tôn-đà-ra.
Ngài là con của bà Ma-ha Ba-xà-bà-đề, là em cùng cha khác mẹ của Phật. Phật muốn khuyến hóa ngài đi tu mà không được. Hôm ấy, nhà đang làm lễ cưới cho ngài thì Phật vào. Ngài mời Phật thọ trai. Khi Phật thọ trai xong, ngài tiễn Phật về tinh xá. Ngài định đến tinh xá để bình bát rồi về, không ngờ đến tinh xá bị các Tỳ-kheo bao vây, không về được. Phật khuyên ngài xuất gia.
Xuất gia rồi nhưng ngài ngày này xin về, ngày mai xin về. Phật cứ hẹn hoài mà không cho về. Ba lần ngài lén trở về, ba lần ngài gặp Phật bảo trở lại tinh xá.
Một hôm, Phật dẫn ngài đi xem địa ngục. Đi qua các chỗ hành hình tội nhân, ngài thấy trong các chảo dầu, chảo nào cũng có người bị buộc trong đó, chỉ có một cái chảo không có người trong đó. Ngài hỏi: “Sao chảo này lại không có tội nhân?” Ngục tốt bảo: “Chảo này đang đợi Nan-đà, nếu ông không tu thì xuống đây sẽ bị bỏ vào đó”. Ngài sợ quá, núp sau lưng Phật, vì sợ bị bắt. Đi qua chỗ cưa xẻ tội nhân, chỗ nào cũng có người bị cưa, chỉ có một cái cưa còn bỏ trống. Ngài hỏi và Ngục tốt bảo: “Cưa này còn đợi ông Nan-đà, hễ ông không tu thì sẽ bị bỏ vào đây”. Khi ấy ngài năn nỉ Phật : “Thôi, xin Thế Tôn hãy lên, đừng xem nữa”. Phật lại dẫn ngài lên Thiên đường. Đến một nơi có thiên nam, thiên nữ rồi lại đến một nơi khác chỉ toàn có thiên nữ
mà không có thiên nam. Ngài hỏi : “Sao ở đây lại không có thiên nam ?” Các thiên nữ đáp : “Ở đây chúng tôi đợi Nan-đà”. Ngài bảo : “Chính tôi là Nan-đà đây. Bây giờ tôi ở lại đây có được không ?” Họ đáp : “Thưa, không được. Phải có phước mới ở lại được”. Phật hỏi Nan-đà : “Ông thấy các Thiên nữ có đẹp không?” - “Thưa, đẹp lắm!” - “Đẹp bằng vợ của người không?” - “Vợ con đâu bằng”. - “Vậy ông có thích các Thiên nữ đó không?” - “Thưa, thích lắm”. - “Vậy, ông hãy về tu để có phước báo thì sẽ được lên đây”. Đến khi về, vì ham tu quá nên ngài quên mất chuyện lên thiên đường hưởng dục lạc. Một thời gian sau, Phật hỏi: “Ông còn muốn lên thiên đường nữa không?” - “Thưa, không ưng nữa”. - “Vì sao?” - “Vì bây giờ con chỉ muốn đạt đạo mà thôi”. Vì vậy mà trong Luận Đại Trí Độ mới có câu: “Phật nói người đa dâm dục mà tăng thêm cái dâm dục thì sẽ được giải thoát”. Tăng thêm ví như trường hợp của Nan-đà. Nếu không hiểu thấu đáo cái lai lịch ấy thì có sự hiểu lầm kinh luận rất nguy hại.
· Phú-lâu-na : Trung Hoa dịch là Mãn Nguyện. Ngài có tinh thần vô úy trong khi hoằng pháp. Một lần ngài xin đi hoằng pháp xứ Du-na là chỗ dân chúng rất hung bạo. Phật thử lòng ngài bèn hỏi:
- Dân xứ đó rất hung bạo nếu qua chỗ đó ông bị họ mắng chửi thì ông làm thế nào?
- Như thế họ còn hiền, họ chưa lấy đá ném con.
- Nếu họ ném đá thì ông tính sao?
- Con nghĩ họ còn hiền, họ chưa lấy gậy gộc đánh con
- Nếu họ lấy gậy gộc đánh ông thì sao?
- Họ còn hiền vì chưa lấy dao đâm con.- Nếu họ lấy dao đâm ông thì sao?
- Họ còn hiền vì chưa làm cho con chết.
- Nếu họ đâm ông chết thì ông nghĩ sao?
- Nếu được như thế trong khi con đang đem tâm hoằng pháp là một hạnh phúc, một sự giải thoát cho con.
Vì thế kinh Tăng Nhất A Hàm có câu: “ Hiện năng quảng thuyết phân biệt nghĩa lý mãn nguyện tư tối đệ nhất”. (Thuyết pháp rộng rãi, phân biệt nghĩa lý rõ ràng đệ nhất là Phú-lâu-na).
· Tu-bồ-đề : Trung Hoa dịch là Không Sanh vì khi sanh ngài bao nhiêu đồ vật trong nhà đều biến mất, người nhà mời thầy về bói, thầy bói nói đó là điềm tốt nhất. Vì thế đặt tên cho ngài là Không Sanh. Cũng vì điềm ấy nên người sau gọi là Giải không đệ nhất, vì đối với cái Không tính mà ngài đã thâm nhập nhiều nhất như trong kinh Kim Cang gọi là Vô tránh Tam - muội. Phật cũng khen Tu-bồ-đề đã nhập được Vô tránh Tam - muội. Ai cúng dường ngài thì có phước báo hiện tiền, vì thế ngài có tên là Thiện Cát (tốt lành). Những tên ấy là biểu hiện cho đức tính của ngài.
Chuyện kể rằng khi Phật lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho Thánh mẫu xong, có Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc muốn hơn tất cả mọi người nên đến đảnh lễ trước tiên. Không ngờ Phật dạy: “Trước nhà ngươi đã có
Tu-bồ-đề đến đón Ta rồi”. Trong lúc ấy không có Tu-bồ-đề ở đó. Phật nói như vậy là vì trong lúc ấy Tu-bồ-đề cũng biết Phật từ cung trời Đao Lợi trở về nhưng ngài nghĩ : Phật ly ngũ uẩn, sắc chẳng phải Phật, âm thanh chẳng phải Phật, Nhất thiết pháp không; đó là pháp thân Phật nên ngài nhập quán không để thấy Phật ngay nơi Phật pháp. Phật biết như vậy nên nói: “Tu-bồ-đề đến đón Ta trước Liên Hoa Sắc”. Liên Hoa Sắc được Phật khen: “Thần túc đệ nhất, cảm đến chư thần đệ nhất là Tỳ-kheo-ni Ưu-bát Hoa sắc (Liên-hoa sắc)”.
Trong Tăng nhất A-hàm Phật tán thán Tu-bồ-đề: “Là vị ưa mặc áo tốt, hạnh vốn trong sạch đệ nhất là Tu-bồ-đề”.
· Ananda : A-nan-đa là người nổi tiếng, kinh sách nào cũng có tên Tôn giả cả.
A-nan có tên là Khánh Hỷ vì ngài sanh ra trong đêm Phật Thành đạo. (Trong cuốn Giải Kinh Đại Xứ ghi Ananda cùng tuổi và sinh cùng ngày với đức Phật ?). Đêm ấy Ma vương khuấy phá Phật không được nên về khuấy phá thân phụ ngài. Nó đến bảo vua Tịnh Phạn rằng: “Con ông vì tu khổ hạnh đói quá chết rồi.” Vua nghe tin rất buồn khổ. Nhưng sáng ngày khi Phật đã chứng được tam minh, thành Phật rồi thì thiên thần đến báo tin cho vua biết đức Thích-ca đã Thành đạo: “Ngài thành bậc Chánh giác không ai hơn được”. Vua và Hoàng gia rất vui mừng. Cùng lúc ấy, Bạch Phạn là em của Tịnh Phạn đến báo vừa sinh đứa con thứ
hai, xin anh đặt tên cho. Tịnh Phạn bèn đặt tên cho đứa bé mới sinh là Khánh Hỷ.
A-nan tu hành rất tinh tấn và rất đẹp tướng, ai thấy cũng rất hoan hỷ. Đại chúng đệ tử Phật thấy A-nan là người xứng đáng nên đề nghị Tôn giả làm người hầu Phật. Tôn giả bằng lòng nhưng kiến nghị mấy điều :
1. Đức Phật không ban cho Tôn giả những bộ y do thiện tín dâng cúng đức Thế Tôn (vì sợ trong chúng có người dị nghị).
2. Đức Phật không ban cho Tôn giả những vật thực do thiện tín dâng cúng Thế Tôn.
3. Đức Phật cho phép Tôn giả không cùng ở trong một tịnh thất với Thế Tôn.
4. Đức Phật cho phép Tôn giả không đi cùng đức Phật đến nơi nào mà thí chủ chỉ thỉnh riêng Phật.
5. Đức Phật sẽ hoan hỷ cùng Tôn giả đi đến nơi nào có thí chủ thỉnh Tôn giả đến.
6. Đức Phật sẽ hoan hỷ cho phép Tôn giả được tiến dẫn vị khách từ phương xa đến yết kiến Thế Tôn.
7. Đức Phật sẽ hoan hỷ cho phép Tôn giả đến bạch đức Phật mỗi khi có điều hoài nghi phát sanh.
8. Đức Phật sẽ hoan hỷ nói lại những bài pháp mà đức Phật giảng lúc không có mặt Tôn giả ở đó.
Phật chấp thuận những điều ấy và Tôn giả trở thành người hầu chính của Phật. Vì thế, có những kinh Phật nói trước khi A-nan xuất gia mà Tôn giả đều nói : “Tôi nghe
như vậy...” là vì lý do đó. Tuy Tôn giả hầu Phật nhưng Tôn giả vẫn đi khất thực như mọi Tỷ-kheo khác.
Một hôm, đi khất thực về, giữa đường trời nắng, khát nước, Tôn giả thấy một thiếu nữ xinh đẹp gánh nước bên giếng. Cô gái này là Bát-la-đề, dòng Ma-đăng-già (trong kinh gọi là Ma-đăng-già nữ). Tôn giả đến xin nước uống. Cô từ chối và nói : “Tôi thuộc giai cấp hạ tiện, không dám dâng nước cho ngài, sợ ngài tới gần sẽ bị ô uế”. Tôn giả bảo rằng : “Ta xin nước uống chứ không xin giai cấp”. Cô gái dâng nước cho ngài. Thấy Tôn giả đẹp quá, cô gái đắm đuối si tình. Về nhà, cô gái lập mưu với mẹ để chiếm A-nan về làm chồng. Hai mẹ con lập mưu, đợi khi Tôn giả đi khất thực, mời vào nhà để cúng dường. Khi Tôn giả vào, hai mẹ con bèn đóng cửa lại để quyến rũ ngài. Bà mẹ dọa Tôn giả, nếu không thành thân với con bà, bà sẽ quăng Tôn giả vào đống lửa. Lúc ấy Phật đang nhập định, quán thấy A-nan đang gặp nạn, phóng thần lực đến gia hộ, giải thoát cho A-nan. Mưu việc không thành, Ma-đăng-già cứ tới đứng trước tinh xá khiến A-nan không đi khất thực được, nên vào bạch Phật, Phật cho gọi Ma-đăng-già vào tinh xá. Cô gái vào xin Phật cho A-nan kết nghĩa trăm năm với cô. Phật bảo: “A-nan cạo đầu mặc áo như vậy, bây giờ cô muốn A-nan làm chồng thì cô phải cạo đầu mặc áo như A-nan mới kết nghĩa với A-nan được”. Cô gái mừng quá về mách với mẹ. Bà mẹ không chịu. Cô gái buồn quá bỏ ăn bỏ ngủ. Bà mẹ phải chìu ý con. Cô gái cạo tóc, mặc Ca-sa đến yết kiến Phật. Với sức mạnh thuyết pháp (định tâm, nội lực và tâm lợi tha sâu xa)
của Phật, làm cho bao nhiêu ước muốn của Ma-đăng-già tiêu tan hết. Cô chỉ thấy lời dạy của Phật văng vẳng bên tai, thâm nhập từng lời từng chữ, nên cô quyết chí tu hành. Phật liền giao Ma-đăng-già cho Ni chúng hướng dẫn. Sau một thời gian tu tập, Ma-đăng-già nhờ lời dạy của đức Phật, cô đã tìm thấy pháp lạc nên không còn tưởng nhớ hình ảnh của A-nan nữa.
Biết trình độ tu tập của Ma-đăng-già đã tiến bộ rồi, Phật cho gọi cô đến hỏi :
- Con còn muốn gặp A-nan nữa không ?
- Bạch Thế Tôn, không.
Đó là cái tâm chuyển mê khai ngộ. Nội tâm chuyển nên Ma-đăng già chuyên tâm tu hành, không bao lâu cô trở thành một Tỳ-kheo-ni đắc quả A-la-hán.
A-nan hầu Phật 25 năm. Một hôm, Tôn giả mộng thấy 7 điềm dữ :
1. Lửa dữ rực cháy làm khô cả sông ngòi biển lạch.
2. Mặt trời rơi rụng xuống, tất cả thế giới tối tăm mà đầu mình lại cao lên ngang núi Tu-di.
3. Tỳ-kheo bỏ giới luật, treo áo Ca-sa.
4. Tỳ-kheo y áo tả tơi, sống khốn cùng trong lao lý chông gai.
5. Từng đàn heo rừng đến bới gốc cây Chiên-đàn.
6. Voi con không nghe lời voi mẹ, tung tăng khắp xứ, lạc vào chốn đồng khô cỏ cháy, chết đói chết khát ngổn ngang.
7. Sư tử chết, các loài phi trùng, điểu thú không dám đến gần, giòi bọ từ trong ruột Sư tử bò ra lúc nhúc, rúc rỉa thịt xương Sư tử.
Tôn giả đem giấc mộng bạch với đức Phật. Phật dạy :
Điều 1 : Điềm tương lai Tỳ-kheo được sự cúng dường dồi dào mà không chịu tu hành, khởi xướng đấu tranh với nhau mãi.
Điều 2 : Điềm sau khi Ta diệt độ, A-nan tuyên dương Chánh pháp của Ta trước đại chúng trong kỳ kiết tập.
Điều 3 : Sau này có hạng Tỳ-kheo chỉ nói lý thuyết suông mà không chịu thực hành.
Điều 4 : Điềm tương lai có hạng Tỳ-kheo vợ con đùm đề, bỏ giới không tu, sống theo thế tục.
Điều 5 : Sau này có hạng Tỳ-kheo buôn bán Như Lai, lấy Phật pháp làm phương tiện lợi dưỡng.
Điều 6 : Sau này các vị Tỳ-kheo trẻ không nghe lời các vị Tỳ-kheo Trưởng lão, tự do phóng túng.
Điều 7 : Tương lai chính đệ tử Phật phá hoại giáo pháp của Phật chứ không ai phá nổi.
Khi Phật diệt độ, A-nan chưa chứng được A-la-hán, nên trong khi kiết tập kinh điển lần thứ nhất, Tôn giả Ca-diếp triệu tập 500 vị A-la-hán mà chỉ được 499 vị. Tôn giả A-nan chưa chứng quả nên không được tham dự. A-nan rất khổ tâm. Tôn giả bèn tìm một chỗ thanh vắng tham thiền. Ngồi suốt một ngày một đêm, mệt quá, vừa ngã lưng xuống định nghỉ xả hơi thì liền đoạn tận lậu
hoặc, chứng quả A-la-hán. Sự chứng ngộ ấy là cả một sự vận dụng công phu rất lớn mới được thành tựu như vậy.
Vì thế trong Tăng nhất A-hàm Phật tán thán: “Biết thời, rõ vật, gặp việc không nghi, ghi nhớ không quên, nghe nhiều sâu rộng, kham nhận, kính thờ người trên đệ nhất là Ananda”.
· La-hầu-la : Tiếng Phạn là Rahula, Trung Hoa dịch là Phú Chướng.
Khi Thái tử Tất-đạt-đa xin đi xuất gia, vua Tịnh Phạn không cho. Thái tử năn nỉ quá, vua bảo: “Nếu có con nối ngôi thì hãy xuất gia”. Đợi mãi sáu năm mới có con, cho nên mới đặt tên cho đứa bé là La-hầu-la, nghĩa là Phú Chướng, ý nói chính La-hầu-la là sự ngăn chướng việc xuất gia của Thái tử Tất-đạt-đa. Và trong kinh cũng có nói rằng, La-hầu-la là A-tu-la sinh vào lúc thần A-tu-la lấy tay che mặt trăng, nên cũng gọi là Phú Chướng. Vì vậy mà có câu Phật nói rằng : “Ngã pháp như nguyệt, thử như chư chướng ngại, bất tức xuất gia” (Pháp của Ta như mặt trăng, đứa nhỏ này nó làm chướng ngại cho Ta, Ta không xuất gia liền được).
La-hầu-la xuất gia khi còn nhỏ. Vì còn nhỏ nên La-hầu-la có tính thích đùa cợt, thường hay nói dối để vui đùa. Có người đến xin gặp Phật, La-hầu-la bảo là Ngài đi vắng. Nhiều lần như vậy, người ta biết là La-hầu-la nói dối để trêu cợt, nên nhiều người đến bạch Phật. Phật cho gọi La-hầu-la đến, bảo lấy một chậu nước để Phật rửa chân. Rửa xong, Phật hỏi La-hầu-la :
- La-hầu-la, nước này có thể uống được không ?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Vì sao vậy ?
- Vì nước đã bị nhơ bẩn.
- Một Sa-di như La-hầu-la không có giới hạnh cũng như vậy.
Phật bảo La-hầu-la đổ nước đi và hỏi :
- La-hầu-la, có thể lấy chậu này đựng thức ăn được không ?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Vì sao vậy ?
- Thưa, vì chậu đã bẩn.
- Làm Sa-di như La-hầu-la không có giới hạnh cũng lại như vậy.
Phật bảo La-hầu-la úp chậu lại và lấy nước đổ lên trên, Phật hỏi :
- Nước đọng lại ở trên chậu không ?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Làm Sa-di như La-hầu-la mà không có tâm, không có giới hạnh thì Phật pháp cũng không đọng lại được.
Phật lấy chân đá làm vỡ cái chậu và hỏi La-hầu-la :
- Có tiếc chậu ấy không ?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Vì sao ?
- Vì cái chậu này không dùng vào việc gì được cả, nên không tiếc.
- Cũng vậy, làm Sa-di như La-hầu-la mà không có giới hạnh thì không ai tin dùng cả.
Từ đó, Phật giao La-hầu-la cho Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên hướng dẫn và tiếp độ, để cho đại chúng thấy sự bình đẳng, không thiên vị và các vị trong hoàng tộc bớt kiêu căng.
Một hôm, La-hầu-la quét dọn phòng mình xong thì có một vị tân Tỳ-kheo đến. La-hầu-la còn là Sa-di nên nhường phòng cho vị Tỳ-kheo và ra sân ngủ. Đêm ấy trời mưa, La-hầu-la phải vào nhà xí ngủ. Phật biết được điều này nên chế giới : Sa-di có thể ngủ chung với Tỳ-kheo một phòng. La-hầu-la được Phật tán thán là một mật hạnh đệ nhất.
· Ma-ha Ba-xà-bà-đề : Tiếng Phạn gọi là Mahà Prajnàpati Gotami. Trung Hoa dịch âm là Kiều-đàm-di hay Cù-di, dịch nghĩa là Đại Ái Đạo.
“Trước khi bậc Đạo sư ra đời, bà được sanh ở Devadaha, trong gia đình Mahà Suppabuddha. Tên gia đình của bà là Gotama, và bà là em gái của Mahàmàyà. Các thầy đoán tướng tiên đoán rằng, các người con của hai chị em sẽ là vị Chuyển luân vương. Vua Suddhadana, khi đến tuổi trưởng thành cưới cả hai chị em. Sau đó, bậc Đạo sư Đản sanh và trong khi Chuyển pháp luân, Ngài đi đến Vesàli, và phụ vương được quả A-la-hán, mệnh chung.
Mahàpajàpati muốn xuất gia, xin phép bậc Đạo sư nhưng không được chấp nhận. Nhưng bà vẫn cắt tóc, đắp
y, và sau thời giảng kinh về tinh cần nỗ lực, bà ra đi với 500 Thích-ca nữ mà các vị hôn phu đã xuất gia, đi đến Vesàli, và xin bậc Đạo sư cho xuất gia với sự tha thiết thỉnh cầu của Tôn giả A-nan-đa. Bậc Đạo sư chấp nhận với điều kiện phải chấp nhận 8 kỉnh pháp dành cho các Tỷ-kheo-ni.
Sau khi xuất gia, Mahàpajàpati đến yết kiến đức Phật và đứng một bên, Ngài thuyết pháp cho bà, và bà tinh cần tinh tấn chứng được quả A-la-hán với trí tuệ trực giác và phân tích. 500 Tỷ-kheo-ni sau khi nghe Nandaka giáo giới, họ chứng được sáu thắng trí.
Một ngày kia, khi bậc đạo sư ngồi giữa thánh chúng tại tinh xá Jetavana (Kỳ Viên), Ngài xác nhận Mahàpajapati là vị có kinh nghiệm đệ nhất, sống hưởng thọ hạnh phúc, giải thoát, Niết-bàn. Để nói lên lòng biết ơn của mình, Mahàpajàpati tuyên bố chánh trí của mình trước mặt đức Thế Tôn, tán thán hạnh đức của Ngài đã giúp đỡ hộ trì cho bà mà trước đây bà không được gặp :
Bậc Giác ngộ anh hùng,
Con xin đảnh lễ Ngài,
Ngài là bậc tối thượng,
Giữa mọi loài chúng sanh.
Ngài giải khổ cho con,
Cùng rất nhiều người khác.
*
Liễu tri mọi đau khổ,
Gột sạch nhân khát ái,
Con đường thánh tám ngành,
Đoạn diệt, ta chứng ngộ.
*
Trước ta sống là mẹ,
Là con, là cha, anh.
Là ông nội, ông ngoại,
Đời sống trước là vậy.
Không rõ biết như thật,
Luân hồi, tìm không gặp.
*
Nay ta thấy Thế Tôn,
Thân này thân tối hậu,
Sanh tử được đoạn tận,
Nay không còn tái sanh.
*
Siêng, tinh cần, nỗ lực,
Thường kiên trì tinh tấn,
Hãy thắng, đệ tử Phật,
Hoà hợp, đảnh lễ Ngài.
*
Vì hạnh phúc nhiều người,
Ma-da sanh Cù-đàm,
Giải toả nhóm khổ đau,
Cho người bị bệnh chết”.
(Trưởng lão Ni kệ)
Bà là người nuôi nấng đức Phật và sinh ra A-nan-đà. Đã mấy lần bà xin đức Phật xuất gia, nhưng Phật không cho. Một hôm bà cùng với 500 người nữ trong dòng họ Thích, tự cạo đầu đắp Ca-sa, đi bộ từ thành Ba-la-nại đến Trúc Lâm. Trải qua bao nhiêu nắng gió bụi bặm, nhọc nhằn đến xin đức Phật được xuất gia, đức Phật cũng không cho. Bà đứng trước cổng tinh xá mà khóc. Gặp Tôn giả A-nan đi ngang qua, bà năn nỉ nhờ xin giúp. A-nan thương tình nhận lời đến bạch đức Phật, Phật cũng lại không cho. A-nan bèn bạch Phật :
- Bạch Thế Tôn, giả sử trong giáo pháp của Ngài, nếu người nữ xuất gia tu tập thì có chứng được bốn quả Sa-môn không ?
Đức Phật trả lời :
- Nếu như trong giáo pháp của Như Lai, nếu có người nữ xuất gia thì họ cũng có thể chứng được bốn quả Sa-môn, nếu họ tinh tấn tu tập.
A-nan thưa :
- Như vậy, bây giờ bà Kiều-đàm-di xin xuất gia, sao Phật không cho bà ấy xuất gia?
Phật dạy :
- A-nan, ở thế gian, nếu trong nhà nào phụ nữ nhiều, mà nam giới ít thì như thế nào ?
- Bạch Thế Tôn, nhà ấy rất dễ bị các nạn như trộm cắp...
- Cũng vậy, trong giáo pháp của Như Lai nếu người nữ xuất gia nhiều thì Phật pháp cũng sẽ gặp nhiều chướng ngại.
Sau đó, Phật cũng thuận theo và cho phép phái nữ được xuất gia tu tập, nhưng phải giữ Bát kỉnh pháp:
1. Tỳ-kheo-ni dù được 100 tuổi hạ, phải chào hỏi một Tỳ-kheo, đứng dậy trước vị Tỳ-kheo, đảnh lễ và thực hành bổn phận đối với Tỳ-kheo, mặc dù vị này chỉ mới xuất gia ngày hôm ấy.
2. Tỳ-kheo-ni không thể nhập hạ nơi không có Tỳ-kheo.
3. Đến kỳ sám hối, Tỳ-kheo-ni phải hỏi các Tỳ-kheo chừng nào có lễ Bố-tát và vào giờ nào thì Bố-tát?
4. Khi mãn thời gian kiết hạ, mỗi Tỳ-kheo-ni phải thọ lễ Tự tứ, chánh thức ra hạ trước mặt những Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni khác (để kiểm thảo xem trong 3 tháng có nghe, thấy, nghi mình có lỗi lầm gì không)
5. Tỳ-kheo-ni đã phạm trọng tội phải chịu phạt (kỷ luật theo giới đã thọ) trước chư Tăng và chư Ni.
6. Nữ Sa-di đã thọ trì sáu giới trong thời gian hai năm có thể xuất gia trở thành Tỳ-kheo-ni trước chư Tăng và chư Ni.
7. Bất luận trong trường hợp nào, Tỳ-kheo-ni cũng không có quyền khiển trách hay nặng lời với Tỳ-kheo.
8. Tỳ-kheo không được sám hối với Tỳ-kheo-ni, nhưng Tỳ-kheo-ni có thể sám hối với Tỳ-kheo.
Bát kỉnh pháp là điều luật tối thiểu để có sự ngăn cách, tạo nên sự trang nghiêm, thanh tịnh trong giáo đoàn.
Nhờ sự quyết chí của bà Ma-ha Ba-xà-bà-đề, nhờ ngài A-nan tận tình xin Phật, Phật cho nữ giới xuất gia nhưng phải giữ Bát kỉnh pháp, từ đó bà Ma-ha Ba-xà-bà-đề và giới nữ được xuất gia. Ni giới được hình thành từ đây.
Trong kinh Pháp Hoa phẩm thứ 13 Kính giữ Pháp Hoa có ghi: Bấy giờ di mẫu của đức Thế Tôn là Tỷ-kheo-ni Đại Thắng Sinh Chủ cùng 6000 Tỷ-kheo hữu học và vô học cùng đứng dậy, chuyên chú chắp tay mà chiêm ngưỡng Thế Tôn. Ngài bảo: “Đại Thắng Sinh Chủ, tại sao bà ưu tư mà nhìn Như Lai? Bà nghĩ Như Lai không gọi tên bà mà thọ ký chăng? Đại Thắng Sinh Chủ, trước đây Như Lai đã nói tổng quát, rằng hết thảy Thanh văn đều được thọ ký. Nay bà muốn biết sự thọ ký ấy thì, vị lai trong chánh pháp của hàng ức đức Phật, bà và 6000 Tỷ-kheo-ni cùng làm những nhà diễn giảng vĩ đại, và bằng cách này mà bà hoàn thiện một cách đều đặn đường đi của Bồ-tát, trở thành đức Phật hiệu là Nhất Thế Chúng Sinh Hỷ Kiến Như Lai, đủ 10 đức hiệu”.
Trong Tăng nhất A-hàm Phật tán thán: “Bà là người xuất gia học đạo lâu, được Quốc vương cung kính đệ nhất là Tỳ-kheo-ni Đại Ái Đạo Kiều-đàm-di”.
· Da-du-đà-la (Yasodhara): Mẹ của La-hầu-la cùng quyến thuộc cũng đến.
Công chúa Yasodhara là con gái vua Thiện Giác (Suppabuddha, đứng đầu dòng họ Koliya). Sau khi Thái tử rời bỏ hoàng cung, xuất gia tìm đạo, công chúa cũng bỏ hết đồ trang sức, mặc áo vàng của đạo sĩ để trở thành người tu nữ, tận tình nuôi con cho đến khôn lớn. Khi đức Phật đến thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu), Ngài dùng cơm với Phụ vương rồi cùng với các Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đến thăm công chúa. Khi đức Phật vào phòng và ngồi vào chỗ soạn sẵn, công chúa đảnh lễ Phật với lòng cung kính. Đức Phật giảng truyện tiền thân đức Phật Candakinara cho mọi người cùng nghe, trong đó có Phụ vương của Ngài, và Ngài nói: “Thưa Phụ vương, không phải chỉ trong kiếp này mà trong kiếp trước công chúa cũng đã từng bảo vệ tôi và thủy chung với tôi”. Sau khi giảng pháp cho công chúa nghe, đức Phật an ủi công chúa và từ giã hoàng cung. Sau khi vua Tịnh Phạn qua đời và dì mẫu Pajapati xuất gia, công chúa cũng xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Công chúa là người giỏi phép thần thông, hưởng thọ 78 tuổi. (Lịch sử Đức Phật Thích Ca – Hòa thượng Thích Minh Châu)
Trong phẩm Kính giữ Pháp Hoa, đức Thế Tôn cũng thọ ký cho thân mẫu của La-hầu-la là Tỷ-kheo-ni Trì Dự rằng: “Trì Dự, vị lai bà sẽ ở trong chánh pháp của hàng ức đức Phật mà làm việc làm của Bồ-tát, bằng cách cũng làm nhà diễn giảng vĩ đại, đều đặn và hoàn tất đường đi của Phật rồi được thành Phật tại cõi Thiện Quốc với danh
hiệu Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, đủ 10 đức hiệu, sống lâu vô lượng”.
Chúng đại A-la-hán, chúng Hữu học, Vô học, chúng Ni; đó là hàng Thanh văn.
Bây giờ đến hàng đại Bồ-tát và tám vạn người là những vị đối với Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, đây là những vị không thối chuyển tâm Bồ-tát, cho nên nói sơ phát tâm Bồ-tát, gia hạnh Bồ-tát, địa thượng Bồ-tát, địa hậu Bồ-tát, đều đã được Đà-la-ni, đó là được tự lợi.
Chữ Bồ-tát nói cho đủ là Bồ-đề tát đỏa, có nghĩa là Giác hữu tình, tức một chúng sinh, một hữu tình đã có sự giác ngộ, đồng thời phát nguyện giác ngộ cho kẻ khác gọi là Bồ-tát.
Cùng một danh từ Bồ-tát, nhưng phân biệt ra có: Sơ phát tâm Bồ-tát, Gia hạnh Bồ-tát, Địa thượng Bồ-tát, Địa hậu Bồ-tát. Thế thì sơ phát tâm Bồ-tát là thế nào ? Là các vị phát tâm thọ giới Bồ-tát, họ chỉ mới phát tâm thôi, chưa làm gì xứng đáng với sự phát tâm ấy, chưa hoàn thành những giới hạnh của một vị Bồ-tát nên gọi là Sơ phát tâm Bồ-tát. Từ đó tu tập trải qua các giai đoạn tín, trụ, hạnh và hướng theo những pháp môn Đại thừa gọi là Gia hạnh Bồ-tát. Nhờ sự gia hạnh đó mà vô minh sẽ diệt bớt, chân như sẽ được chứng thành, dần dần nhập vào sơ địa, nhị địa, tam địa, tứ địa cho đến thập địa gọi là Địa thượng Bồ-tát. Các vị này sau khi đã thành tựu Đẳng
giác, Diệu giác vẫn tùy duyên hóa độ chúng sanh dưới nhiều hình thức, nhiều căn cơ, nhiều phương tiện và tính cách tùy duyên hóa độ, không trú Niết-bàn của các đức Phật gọi là Địa hậu Bồ-tát.
Các vị Bồ-tát này là những vị không còn thối chuyển đối với tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều đã được Đà-la-ni (tự lợi); lạc thuyết biện tài bất thối chuyển pháp luân (lợi tha).
Đà-la-ni: Chú, thần chú (Thí dụ: Đại bi Đà-la-ni là thần chú Đại bi), Tổng trì: tức là khả năng không mất. Có bốn khả năng (tức bốn Đà-la-ni):
1. Pháp Đà-la-ni hay pháp Tổng trì: Pháp là giáo pháp của Phật, 12 bộ kinh nhớ đầy đủ không quên mất câu nào, gọi là người được Pháp Đà-la-ni.
2. Nghĩa Đà-la-ni hay nghĩa Tổng trì: Là nghĩa của giáo pháp. Giáo lý của 12 bộ kinh như Tứ đế, 12 Nhân duyên, Vô thường, Vô ngã... Giáo lý của 12 bộ kinh học được, giữ được, thâu tóm được một cách rành mạch, chắc chắn không mất, gọi là Nghĩa Đà-la-ni.
3. Chú Đà-la-ni hay chú tổng trì: Tức thiền định, thần thông bí mật, có khả năng gìn giữ được không mất, gọi là chú Đà-la-ni. Mỗi ngài có một tánh, một đức khác nhau. Bồ-tát tuy mỗi ngài nặng về mỗi hạnh, có ngài nặng tinh tấn. Như ngài Di-lặc Bồ-tát, là vị Phật bổ xứ tương lai, ngài sẽ thị hiện ở cõi Ta-bà thế giới kế thừa đức Phật Thích-ca Mâu-ni, đức Thích-ca đã thọ ký cho ngài đương lai sẽ thành Phật.
4. Nhẫn Đà-la-ni hay nhẫn tổng trì: Đối với đệ nhất nghĩa đế, với các thật tướng, sự khó chấp trì, khó nhẫn nhất mà chấp trì được, nhẫn được, đó gọi là Đà-la-ni.
Các vị Bồ-tát này đều có các Đà-la-ni, đó là về phương diện tự lợi. Còn về lợi tha thì có lạc thuyết biện tài bất thối chuyển pháp luân là một trong bốn biện tài: 1. Pháp vô ngại biện, 2. Nghĩa vô ngại biện, 3. Từ vô ngại biện, và : 4. Lạc thuyết vô ngại biện.
Vì sao các vị Bồ-tát có được các biện tài ấy ? Bởi vì các vị Bồ-tát ấy đã gần gũi, cúng dường vô lượng trăm ngàn vạn ức chư Phật; đã trồng các gốc lành công đức ở nơi các đức Phật, thường được các đức Phật khen ngợi, đã tu tập tự thân, khéo vào Phật tuệ, thông đạt đại trí tới chỗ rốt ráo viên mãn.
Danh xưng phổ thiên vô lượng thế giới: Danh tiếng của các vị ấy vang khắp vô lượng thế giới. Các vị Bồ-tát này là Văn-thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Đại Thế Chí, Thường Tinh Tấn, Bất Hưu Tức, Bảo Chưởng, Dược vương, Dõng Thí, Bảo Nguyệt, Nguyệt Quang, Dược Thượng, Đại Lực, Vô Lượng Lực... Các ngài hay độ vô lượng trăm ngàn chúng sinh, nhưng mỗi vị có đức hạnh khác nhau. Trong các vị Bồ-tát đó, ngài Văn-thù thuộc về trí, ngài Phổ Hiền thuộc về hạnh.
· Về các tam-muội như:
Vô tướng tam-muội, Vô tác tam-muội, Thủ-lăng-nghiêm tam-muội, Du hí thần thông tam-muội, Sư tử
hống tam-muội... đó là những danh từ Tam-muội trong các kinh Đại thừa.
+ Sư tử phấn tấn: Sư tử vui mừng.
+ Du hí tam- muội: Tam muội có sức định tự tại như trò chơi, không có tác ý.
+ Thủ- lăng- nghiêm tam-muội: Thủ -lăng-nghiêm có 3 tam-muội mà cả Nikàya và Đại thừa đều có, là : Không tam-muội, Vô tướng tam-muội và Vô tác tam-muội.
+ Không tam muội: Nhiếp vào tam-muội (định) mà quán về các pháp là không, vô ngã; đó gọi là Không tam-muội.
+ Vô tướng tam-muội: Nhập vào tam-muội thoát ly hết thảy mọi tướng, nghĩa là không vướng mắc hết thảy các tướng, gọi là Vô tướng tam-muội.
+ Vô tác tam-muội: Vô tác, còn có chỗ dịch là vô nguyện; nghĩa là không làm cái gì để mong có kết quả. Không tạo nhân, không tạo quả; nói cách khác là khi nào đã vô tướng thì khi đó tức là Vô tác tam-muội.
Nói tóm lại, nhập vào tam-muội mà quán về cái gì thì tam-muội được mệnh danh theo cái đó.
· A-li-ka (Tiền thân của Bồ-tát Di-lặc) là vị Bồ-tát bổ xứ, được Phật thọ ký cho tương lai sẽ thành Phật, kế vị đức Thích-ca. Đức Di-lặc hiện thời ở trong giáo pháp của đức Phật Thích-ca, làm một vị Tỳ-kheo, tên là Alika. Ngài là con của vua A-xà-thế, xuất gia lúc còn nhỏ. Lúc Phật về thăm Ca-tỳ-la-vệ lần thứ nhất, bà Kiều-đàm-di tự tay dệt
và nhuộm một tấm vải thật đẹp đem cúng dường Phật. Phật không nhận và bảo bà đem cúng cho chúng Tăng. Phật dạy: “Chúng Tăng đức như hải”. Bà buồn quá nhưng buộc lòng phải đem cúng cho chúng Tăng. Ban đầu bà cúng cho ngài Đại Ca-diếp, Tôn giả không nhận. Bà đem cúng cho ngài Xá-lợi-phất rồi Đại Mục-kiền-liên... Ngài nào cũng không nhận cả. Cuối cùng bà đem cúng cho A-li-ka, vị Tân Tỳ-kheo nhỏ nhất. A-li-ka nhận. Phật nhận biết A-li-ka đương lai sẽ thành Phật, đáng được nhận sự cúng dường đó và Phật cũng nhận biết được tâm tư của bà Kiều-đàm-di không vui khi cúng dường cho một vị Tỳ-kheo nhỏ tuổi. Phật liền giải tỏa nỗi buồn ấy cho bà, đồng thời Ngài cũng muốn chứng thực cho A-li-ka, nên Phật bảo đại chúng : “Có Tỳ-kheo nào đến đây cầm bình bát giúp Thế Tôn không?”. Phật vừa nói xong, tự nhiên bình bát trên tay biến đâu mất. Phật lại bảo : “Các Tỳ-kheo hãy đi tìm bình bát về giúp Thế Tôn”. Không ai tìm được cả. A-li-ka ngồi sau nghĩ rằng : Ta phải đi tìm bình bát giúp Thế Tôn, và phát thệ rằng : “Nếu đương lai tôi được làm Phật, thì hãy cho bình bát về lại tay tôi”. A-li-ka bèn đứng dậy xin đi tìm bình bát. Bình bát liền hiện đến nơi tay ông. Phật bèn thọ ký cho A-li-ka đương lai sẽ thành Phật, hiệu là Từ thị Di-lặc Tôn Phật. Bà Kiều-đàm-di thấy vậy liền hết buồn, sinh tâm hoan hỷ. Đó là Phật muốn dạy cho hàng Phật tử sau này rằng đã nghĩ đến Phật thì phải nghĩ đến chúng Tăng, vì “Tăng đức như hải”.
Đó là chúng Bồ-tát, tiếp theo là chúng Chư thiên.
Bấy giờ Thích-đề-hoàn-nhơn cùng với quyến thuộc hai ngàn vị thiên tử.
Thích-đề-hoàn-nhơn : Thiên đế hay Thiên đế thích, là vị trời chủ trên cung trời Đao Lợi.
Trời có ba loại : Trời Dục giới, trời Sắc giới và trời Vô sắc giới. Dục giới có 6 tầng trời : Tứ thiên vương, Đao-lợi thiên, Tu-dạ-ma thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hóa- lạc thiên và Tha-hóa-tự-tại thiên. Hai trời Tứ thiên vương và Đao-lợi gộp chung gọi là Tam-thập-tam thiên. Đây còn gọi là Địa-cư thiên (Trời trên đất).
Chữ “Thiên” ở đây có nghĩa là vị sáng suốt. Nghĩa là người tu thập thiện cũng là trời; đất cũng là trời, nên ở chỗ đức Phật, chư thiên thường hay lui tới. Tam-thập-tam thiên này ở trên chóp núi Tu-di. Bốn phía đều có bốn thành. Bốn trời gọi là Tứ thiên vương, là bốn ông vua ở bốn phía. Mỗi phía của mỗi thành có 8 vua. Tám vua ở bốn thành, như vậy là 32. Trên này có trời Đao Lợi nữa, tức là Đế chủ hay là Đế thiên chủ, hoặc là Thích-đề-hoàn-nhân. Đây là cung trời thứ 33, gọi chung là Tam-thập-tam thiên.
Trong kinh thường dùng các từ Đế-thích thiên vương, Thiên chủ, Thiên đế, Đế-thích hoặc Nhân-đà-la hay Thích-đề-hoàn-nhân đều là để chỉ cho vị vua ở cung trời này.
Có các vị nữa như Minh Nguyệt Thiên tử, Bửu Hương thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Tự Tại thiên tử... 3.000 ngàn người đông đủ, Ta-bà thế giới chủ Phạm thiên vương.
Ta-bà thế giới chủ Phạm thiên vương đây là chỉ cho trời Sắc giới : Phạm thiên vương, Tám Long vương, Hòa Long vương, Tu-cát Long vương... cùng với bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc. Bốn Khẩn-na-la tức là tám bộ: Kim Cang, Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà. Bốn Càn-thát-bà, bốn A-tu-la, bốn Ca-lầu-la vương cùng đầy đủ các quyến thuộc, các vua chúa trời rồi đến người.
Về người, trước hết là vua A-xà-thế và trăm ngàn quyến thuộc. Đây là ông vua có vị trí lớn nhất trong Phật giáo, gần giống như A-dục vương. Hai ông vua này khi mới lên làm vua đều là những ông vua tàn ác, nhưng sau hồi tâm theo Phật, đều là nhà đại hộ pháp.
· A-xà-thế: Tiếng Phạn: Ajàtasatra, Ajata-sattu (Pàli). Trung Hoa dịch là “Vị sanh oán”, nghĩa là Kẻ oán khi chưa sinh; còn có tên là Chiết Chỉ, là gãy một ngón tay. Vì sao ông có những tên ấy ?
A-xà-thế là con vua Tần-bà-sa-la (Bình-sa vương) và bà Vi-đề-hy. Khi còn làm thái tử, ông nghe theo lời Đề-bà-đạt-đa xúi giục, muốn sớm đoạt được vương vị nên đã bắt vua cha hạ ngục và giam đói. Hằng ngày chỉ một mình hoàng hậu Vi-đề-hy được phép vào thăm mà thôi. Hoàng hậu lén lút tiếp tế thức ăn cho vua. Một thời gian thấy vua cha chưa chết, biết Hoàng hậu đã tiếp tế cho vua, ông bèn sai người kiểm soát và cấm hoàng hậu mang thức ăn vào. Không còn cách gì khác hơn là, Hoàng hậu mỗi khi vào thăm, tắm rửa sạch sẽ
rồi phết thức ăn tán nhuyễn lên người, khi vào ngục, bà cạo ra cho vua dùng. Vì vua là một Phật tử thuần thành, nên mặc dầu ở trong nghịch cảnh như vậy mà vẫn không hề thù hận con. Ông nghĩ đây là oan gia của mình đã tạo ra trong kiếp trước nên bây giờ phải trả, vì vậy ông sống rất thanh thản và càng hướng tâm đến đức Phật để tự giải thoát. Khi biết được cách Hoàng hậu đã tiếp tế cho vua cha, A-xà-thế liền cấm không cho mẹ vào thăm nữa nên Bình Sa vương phải chết. Cùng lúc vua cha chết, A-xà-thế nghe tin mình vừa hạ sinh được một hoàng nam. Ông rất vui mừng và thương quý đứa con đầu lòng. Chính lòng thương con phát khởi đã làm ông sực nghĩ đến cha. Ông ra lệnh thả cha ra gấp, nhưng Bình Sa vương đã chết. Ông đau đớn hối hận đến tìm và hỏi mẹ :
- Thưa mẹ, khi con còn nhỏ, cha con có thương con không ?
- Sao bây giờ con mới hỏi điều đó ? Mẹ nghĩ trên đời này chưa có một người cha nào thương con như người cha của con.
- Cha con thương con như thế nào ?
- Khi mẹ mang thai, mẹ chỉ thèm được uống giọt máu nơi bàn tay của cha con. Vì không thể nói ra điều ấy nên mẹ thân thể mỗi ngày một tiều tụy. Sợ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần đứa con trong bụng, nên buộc mẹ phải nói với cha con điều ấy. Vì thương con nên cha con đã vui vẻ lấy dao rạch tay cho mẹ hút máu. Nghe chuyện ấy, các
nhà tiên tri đoán rằng đứa con sắp sinh là kẻ oán thù của nhà vua. Nghe điều tiên tri ấy nên mẹ đã không muốn cho con ra đời. Nhưng vì thương con nên cha con đã hết sức ngăn cản ý định của mẹ. Đến khi con ra đời, mẹ cũng đã thả con từ trên lầu cao xuống nhưng con không chết mà chỉ gãy một ngón tay, nên con lại có tên là “Chiết Chỉ”. Rồi một ngày kia, con bị một cái nhọt ở lóng tay, nhức nhối sốt cả ngày đêm. Vì thương con nên cha con cũng đã đặt con lên đầu gối và ngậm ngón tay con vào miệng để con đỡ đau. Khi cái nhọt bung mủ, cha con phải hút hết mủ máu ra để con được lành. Trên đời này, có người cha nào thương con được như thế ?
Nghe xong, vua A-xà-thế quá đau đớn, hối hận. Từ đó tâm ông chuyển đổi, bỏ mối ác cảm thù hằn đối với chư Tăng theo lời khuyên của Đề-bà-đạt-đa mà hướng tâm đến Phật và xin sám hối. Nhân đó ông hỏi triều thần :
- Các Sa-môn tu hành có kết quả hiện tại không?
Các triều thần trả lời mỗi người một cách, vua không thỏa mãn. Sau đó có người đề nghị ông nên đến với Phật, Phật sẽ trả lời ông điều đó. Do đó mà có bài kinh “Sa-môn Quả” trong Trường A-hàm.
Sau này khi Phật diệt độ, chính ông đã là một nhà ngoại hộ rất đắc lực trong kỳ kiết tập kinh điển lần thứ nhất dưới sự chủ trì của Tôn giả Đại Ca-diếp.
Theo kinh Sa-môn Quả ghi ông là một vị vua thông minh, can đảm, biết đánh giá tình thế của xã hội và nhạy cảm với vấn đề tâm linh và đạo đức. Kinh kể rằng, lúc
bấy giờ nhân ngày trăng tròn, vua cảm hứng nói với quần thần: “Thực khả ái thay, thật diễm lệ thay, thật mĩ miều thay, thật êm dịu thay, thật điềm lành thay, đêm rằm trăng sáng. Này các khanh, nếu chúng ta đến chiêm bái với một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, nhờ đó tâm hồn chúng ta được tịnh tín thì thật là hạnh phúc”. Nghe nói vậy, các đại thần đã giới thiệu với vua một loạt các Trưởng lão Giáo trưởng các giáo phái nổi tiếng đương thời, nhưng vua vẫn làm ngơ vì triết thuyết của họ tỏ ra kém thuyết phục. Cuối cùng vua đến với Sa-môn Gotama và câu hỏi của vua đặt ra cho Thế Tôn là: “Ngài có thể cho biết kết quả của Sa-môn hạnh chăng?” Phật trả lời được và đưa ra các dẫn chứng đưa đến kết quả của Sa-môn hạnh từ thấp đến cao. Phật dẫn chứng: Như người nô bộc của vua xuất gia, người điền chủ trong các giai cấp xuất gia, họ giữ giới và chế ngự với giới bổn đã thọ thì người ấy có thể chứng Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền cho đến quả vị cao hơn. Đó là kết quả của Sa-môn hạnh từ thấp lên cao trong giáo pháp đức Phật dạy cho các đệ tử. Đó là kết quả thiết thực hiện tại của Sa-môn hạnh. Khi nghe nói vậy, vua Ajatasattu nước Magadha bạch Thế Tôn: “Thật vi diệu thay bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện để trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con
làm đệ tử từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời qui ngưỡng.
“Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, con đã hại mạng phụ vương con, một vị vua chân chánh để đạt vương quyền. Mong Thế Tôn nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn ngừa trong tương lai.
“Đại vương, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, bất thiện, Đại vương đã hại mạng phụ vương, một vị vua chân chánh để đoạt vương quyền. Vì Đại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú tội đúng chánh pháp. Ta nhận tội ấy cho Đại vương. Đó là một sự tiến bộ, này Đại vương, trong luật pháp của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, thú tội đúng chánh pháp, và để ngăn chận trong tương lai”.
Bấy giờ vua Ajatasattu hoan hỉ tán thán lời dạy của đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.
Khi vua Ajatasattu đi chưa bao lâu, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: “Này các Tỳ-kheo, tâm vua ấy rất ăn năn, tâm vua ấy rất hối lỗi, nếu vua ấy không hại mạng vua cha, một vị vua rất chân chánh, thì tại ngay chỗ ngồi này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn, không trần cấu, không ô nhiễm”. (Kinh Sa-môn Quả).
Vua A-xà-thế, con bà Vi-đề-hy cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đầy đủ, mỗi mỗi đều đảnh lễ ngang chân Phật xong, lui ngồi qua một bên.
Đây là những người trong hàng tại gia cư sĩ cùng các vị xuất gia tham dự trong hội thuyết Pháp Hoa của đức Phật. Trong chúng hội này trước hết là các vị đại A-la-hán, các vị hữu học, vô học, các vị Bồ-tát, chư thiên, long, thần, các vị Dạ-xoa... tám bộ đủ cả; rồi Thích-đề-hoàn-nhơn của Đao Lợi thiên, Phạm thế thiên chủ cho đến Long vương đủ các hạng, A-tu-la vương cho đến vua cõi người như A-xà-thế vương. Như vậy, trong chúng hội này đông đủ các thành phần, gồm đủ lục đạo, trừ địa ngục.
Trong các kinh như Nikàya thường ít nói số người tham dự trong các chúng hội nghe pháp, mà thường chỉ nói tại nơi ấy Phật nói kinh ấy như thế nào mà thôi. Còn kinh Đại thừa thường nói chúng hội có 1.250 vị đệ tử gồm A-la-hán, Duyên giác, Bồ-tát đủ cả, chúng hội đệ tử tham dự có cả hàng vạn người.
Trong chúng hội này có đủ cả lục đạo nói lên tinh thần Đại thừa là tinh thần “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh”. Với tinh thần Đại thừa “tất cả chúng sinh, ai cũng có Phật tánh”, nên ai cũng có thể tham dự trong hội thuyết pháp của Phật. Do đó mà trong hội Pháp Hoa này có cả hàng ngàn hàng vạn người.
Hàng ngàn hàng vạn người vừa là có nghĩa mà cũng vừa là có sự : Một, chúng hội thuyết pháp của Phật, người nào tham dự cũng được, Phật nói chung cho tất cả. Còn trong giáo pháp Thanh văn, phần nhiều trong kinh nói : Khi Phật nói Pháp cho cư sĩ là chỉ có hàng cư sĩ tham dự; khi nói Pháp cho Tỳ-kheo là chỉ có hàng Tỳ-
kheo nghe Pháp mà thôi. Hai, đây Phật nói chung cho tất cả là với tinh thần mở rộng không gian. Không gian, thời gian theo giáo lý Đại thừa là bao la, vì nó dựa vào cái tính mà nói, nên không gian vô cùng vô tận mà thời gian cũng vô cùng vô tận, bởi vì không gian không thật mà thời gian cũng không thật.
Lúc bấy giờ Thế Tôn được bốn chúng vây quanh, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.
Đây là phần tập chúng. Bốn chúng, thường hiểu gồm có: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Bốn chúng cũng còn có nghĩa nữa là trong hội pháp của Phật có bốn hạng, tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết khác nhau. Tuy nhiên, bốn chúng ở đây không phải là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di. Mà những người đến tham dự đây, có những người chưa quy y, nên bốn chúng đây gồm bốn hạng người sau :
1. Chúng khải thỉnh : Những người có trình độ có thể thưa hỏi Phật về những vấn đề trong giáo pháp cần được giải nghi.
2. Chúng đương cơ : Những người có căn cơ chính thức nghe hiểu được bài pháp đó. Thí dụ như Phật thuyết Tứ đế, thì chúng đương cơ là hạng người cầu Thanh văn. Phật nói về 12 Nhân duyên hay Nhân duyên sinh thì chúng đương cơ của pháp ấy là hạng cầu Duyên giác; nói về Lục độ Vạn hạnh, chúng đương cơ của pháp ấy là hạng cầu Bồ-tát đạo. Trong hội Pháp Hoa này, chúng đương cơ là các vị Thanh văn mà Phật muốn đưa họ về nhất Phật thừa.