CHƯƠNG 2
TRUNG QUÁN
-
Các nguồn văn tịch
Các học thuyết của tông Trung quán (…) đều có cứ liệu đầy đủ. Chúng được khởi tạo bởi (…) Long Thọ (…) và (Thánh Thiên), hai đại luận sư người Nam ấn.1 Khoảng năm PL.650. có khoảng 25 tác phẩm khác nhau được cho là do (…) trước tác, trong đó quan trọng nhất là các bộ (…) (Trung quán luận tụng (…) (…) (Hồi tránh luận (…) (…) (Bảohành vương chính luận (…) và có lẽ cả bộ (…) (Đại thừa nhị thập tụng (…) . một bản sớ giải rất hoẳng vĩ về bộ Đại bát-nhã 2 cũng được cho là của (…) mà cũng chính là, có thể đúng hoặc sai, tác giả của Trung luận. Có điều chắc chắn là tác phẩm đó đã dẫn giải một cách có thẩm quyền quan điểm của (…) nó phát triển ở vùng tây-bắc Ấn. Một lượng thông tin dồi dào đến khó tin dàn trải trước mắt chúng ta trong bộ bách khoa thư này, mà có
1 Tiểu sử hai Ngài hiện còn trong Tạng hán ngữ, T2047-8. Pibl Regamey, các tr. 54-8
2 Chỉ bằng Hán ngữ: Đại trí độ luận, 100 quyển Hán, Xem PL 41, 93-4. Xem thêm Robinson 48-53: một số ý kiến của tác giả của tác phẩm này. E.Lamotte đã dịch được một phần tư toàn bộ đại tác phẩm này. Ch 1 bàn về các quan niệm của Đại thừa về Phật giáo và các vị Bồ-tát, Ch. 2 mô tả chi tiết sáu ba-la-mật.
lẽ được soạn tập trong thời kỳ phát triển đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo. Về (…) chủ yếu chúng ta có bộ (…) (Tứ Bách luận, Hán dịch một phần: Đại thừa quảng bách luận bản (…). Chiếm vị trí quan trọng trong các sớ giải về bộ (…) trong đó, tác phẩm lợi ích nhất là bộ (…) của (…) (PL 1150). Về cơ bản quan điểm (…) được giới thiệu bởi Gs. T. R. V. Murti (… 1955), kết hợp nỗ lực kiên trì về tri thức và sự trong sáng dể hiểu với sở học uyên bác đầy thận trọng và đam mê siêu hình. Các trước tác về sau của Trung quán. Quan trong nhất vẫn là (…) (Nhập Bồ-đề hành kinh (…) của (…) ( Tịch Thiên) (…) ( Nhiếp chân thật luận (…) của (…) (Tịch Hộ) và (…) (Quảng thích Bồ-đề tâm luận (…) của (…) (Liên hoa giới, 793 stl)
(…) đã tạo ra một nền văn học phong phú và sung mãn đến mức tận ngày nay, vẫn còn nhiều tác phẩm chúng ta chưa mấy khi động chạm tới nó. Nhiều giáo pháp về mặt tín ngưỡng của họ còn bị chôn vùi trong những bản sớ giải đồ sộ của (..) chưa được chuyển dịch. Cho đến nay (…) cũng không được quan tâm đến mấy. Chúng ta vẫn chưa có ý niệm rõ ràng về hệ thống (…)( Trung luận tự giáo) của (…) (Thanh Biện), mà đến nay chỉ có thể nghiên cứu bằng các dịch bản Tạng ngữ, một hệ thống biến chứng dường như là cơ sở bảo vệ luận cứ khó có thể chấp nhận được, rằng trong (…) có thể đưa ra
* Minh cú luận (như sách) gọi đủ là Trung quán mính cú luận thích (…)-ND.
các mệnh đề khẳng định có giá trị về mặt lô-gic. Mặt khác chúng vẫn còn bối rối với các giáo nghĩa và sự hội nhập Trung quán-Du-già (Duy thức) dẫn đến xu hướng tổng hợp cuối cùng của Đại thừa Ấn độ
2. Mô tả biện chứng Trung quán
Các nhà Trung quán chỉ quan tâm duy một vấn đề; các điều kiện nào chi phối trục giác siêu nghiệm về Tuyệt đối thể, và đã dành một lượng đồ sộ tài năng để phân biêt tri thức tuyệt đối với tri thức thường nghiệm là cái tự thân (ipsofacto) đã bị coi là sai lầm. Nhìn thấy các pháp đúng thực như chính chúng là nhìn thấy tự tánh (như sách) của chúng. Theo (như sách)3 truyền thống Phật giáo sử dụng từ ‘tự tánh’ này ít nhất với ba ý nghĩa:
-
Yếu tính hay đặc tính của một sự vật (thing). Lửa đang cháy là một ‘vật’, và ‘sức nóng’ là tự tánh. Loại ‘tự tánh’ này được định nghĩa như là ‘thuộc tính’ (của pháp đó) luôn đi theo pháp đó chứ không đi theo pháp nào khác.’4
-
Điểm đặc trưng tinh yếu của một pháp (dharma)* ‘tự tánh’ là cái mang dấu ấn riêng của nó.5 Mỗi pháp xét như một thực thể riêng biệt (…) , mang một dấu ấn độc nhất, và chỉ một mà thôi. Do đó theo nghĩa nào đó thì ‘tự tánh’ và ‘tự tướng’ là một và như nhau.**
3 Pras. Đặc biệt ch.5
4 Pras xiii 241
*Theo ngôn ngữ của (…) dữ liệu kinh nghiệm ở đây không được hiểu như là các ‘chủng tử’ v.v., mà là các ‘hành’ (…).
5(…) tự tướng
** Bộ (…) (Bách thiên) 1410-1 đưa ra cái nhìn tổng quát
3. Cuối cùng, ‘tự tánh’ có thể được coi như là phàm nghĩa với ‘tha tánh’.6 Như vậy nó là cái chỉ quan hệ với chính nó, chứ không với bất cứ gì bên ngoài.7 Nó là cái ta gọi là ‘Tuyệt đối’ mà đối đãi với nó hết thảy pháp riêng biệt khác thảy là (…) (tha tánh). Dấu ấn (…) của tự tánh này nói lên rằng nó không phải là không là cái ngẫu hợp, không y duyên, không liên hệ bất cứ gì ngoài chính nó. Do đó nó hàm nghĩa tự hữu và tự tại hoàn toàn và viên mãn.*
Trung quán bác bỏ hai loại ‘tự tánh’ đầu xem như chỉ là những cấu trúc giả tạm. Chỉ riêng cái thứ ba là thực hữu là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý. Tự tánh của hết thảy pháp hay các sự thể biệt lập rõ ràng là ngẫu hợp và lệ thuộc các duyên. Như hơi nóng, đặc trưng chính của lửa tùy thuộc vào sự cùng tác động của nhiều nhân tố khác nhau như que diêm (hay một mặt kính + mặt trời), chất đốt, oxygen .v.v.Về loại tự tánh này, ta có thể nói ‘ trước đó chưa từng có, sau đó mới sinh ra’ ‘Tự tánh’ chân thực không phải lệ thuộc các duyên, tự hữu vĩnh viễn, không tùy thuộc biến dịch. Khi tự tánh được định nghĩa theo cách thức như vậy, không một thực thể riêng biệt (…) nào có thể tìm thấy.
Về các ‘tự tướng’ xác định ba mươi pháp cơ bản. Tướng của bốn uẩn (…) thuộc tâm tương ứng sự ‘trải nghiệm, lãnh hội, cùng tạo tác, ý thức’
6 (…) đối với (…)
7 (…) (tự tánh phi đối đãi)
* Pras.,tr. 263 (…) tương đương với (…). Sien and sich. Nó là (…) (tự, hữu, ngã, ngã sở…) một thuật ngữ hàm nghĩa quyền sở hữu đúng đắn (như sở hữu nô lệ của ai đó) khi phân biệt với cái thuộc sở hữu của người khác, hay cái được cho mượn, vật
Tự tánh riêng biệt của nó ‘Không có tự tánh của pháp [hiện hành] tích hợp, vì khởi do duyên khởi,’8 ‘Tự tánh là bản tánh không điên đảo’9, nhưng ‘(các) pháp không có yếu tánh mà chỉ có duy một yếu tánh của hết thảy pháp’ 10 và Pháp (Dharma) trong thực tế là nhất thể vô phân biệt của hết thảy pháp (dharmas).’11
Định nghĩa về ‘tự tánh’ là khởi điểm của hệ thống Trung quán. Nó không được đề xuất như một khẳng định có tính tự biện mà là kết quả của tư duy thiền quán lâu dài về ‘lý duyên khởi.’ Diễn dịch lô-gic có thể khiến ta nghĩ rằng các pháp hoàn toàn không có tự tánh, nhưng kinh nghiệm thiền quán đưa đến khẳng định chung quyết. Khi các loại hữu vi khác nhau được quan sát chi tiết và được áp dụng cho bất cứ sự thể có sẳn nào, nó sẽ thấy đồng nhất với tổng số các điều kiện (duyên) của nó – hoặc tốt hoặc xấu, quá khứ hay hiện tại, gần hay xa, hoặc thô hoặc tế, và hoàn toàn tùy thuộc sự cùng tác động của các sự thể khác có vai trò như các chỗ dựa hay nơi y cứ như tồn tại của nó. Tự tánh của vật như vậy bị hòa tan vào các duyên cho nó xuất hiện. Toàn bộ nội dung cụ thể thuộc vào sự tác động lẫn nhau của vô số duyên. Bất cứ tự tánh, ngược lại, là cái gì riêng của nó, sẽ được thấy một thứ trừu tượng, một điềm rỗng không được khoát lên một từ ngữ. Không tự tạo tác cũng như tự
8 (…) P.tr.197; cf.252. (…) trình bày tư tưởng tương tự khi nói: sarva-dharma-(…) Pras. tr. 515
9 Trích I 3 cht.37.
10 A viii 192.
11 (…) P.tr.171.
duy trì, một vật tự nó hoàn toàn sẽ không là gì cả. Đây cũng gần như là kiến giải về tánh Không của mọi pháp. Bất cứ gì có vẻ làm nhiễu loạn tánh Không này và dòng chảy tự do của trí tuệ đang chiêm nghiệm nó, tất cả cái đó tất nhiên đang hiện tiền nhưng chỉ có hiện tiền một cách có điều kiện, không do tự nó, mà chỉ như một sự hiện diện bất toàn tuyệt đối bất thực và không đáng để tư duy nghiêm túc. Hiểu như vậy về cái hữu vi, nếu được duy trì đủ lâu dài, sẽ tự động dẫn tới sự liễu tri về Vô vi.
Tuy nhiên (…) và Tông phái của ông không chỉ dựa vào tư duy thiền quán. Còn nhằm lôi cuốn trí thức của những người đối lập có thể không sẵn sàng chia sẻ quan điểm của họ về cái duy nhất, họ đã phát triển phương pháp luận (…) (cụ duyên hay ứng thành) một ‘luận chứng phá đổ mọi lựa chọn khả dĩ khác’ và nhằm mục tiêu redutio ad absurdum (giảm trừ bội lý) hết thảy mọi tín lý. ‘Bằng cách tránh nêu ra hàm ngụ bất cứ quan điểm nào, (…) đã cho thấy tính cách tự mâu thuẫn của mọi quan điểm’ Ông ‘chứng minh luận cứ đối phương là sai’ mà không chứng minh luận cứ nào của riêng ông. ‘Cái redutio ad absurdum có mục đích duy nhất là nhắm làm lợi cho đối phương nắm giữ luận đề, và nó giải quyết bằng chính lý luận của đối phương, trên các nguyên tắc và phương thức mà đối phương khả dĩ hoàn toàn chấp nhận’ Phương châm nổi tiếng trong tác phẩm cốt lõi của Long Thọ là bài kệ:
Những gì hiện hữu, bất cứ cái gì và trong bất cứ cách nào không hề khởi lên từ tự thể, cũng không từ tha thể, không từ cả hai, cũng không từ vô nhân.
Mỗi trong bốn luận điểm này giả thiết là được chấp nhận và để sau đó bị phủ bác vì tự mâu thuẫn, và kết quả là lý ‘Vô.
sanh’ chiến thắng.
3. Những động cơ đằng sau biện chứng pháp Trung quán
Phải công nhận rằng loại triết lý này đối với tục thức không mấy dễ chịu, và chắc chắn để lại cho người bình thường sự hoang mang kinh ngạc. Nhưng dẫu sao, là một phương pháp tư duy, tự bản thân nó hoàn toàn nhất quán. Khó khăn là ở chổ nó không tìm ra nguồn cảm hứng từ những sở thích và quan tâm của khách bình phàm, mà từ những khát vọng tâm linh của những người mà, ngược lại, có thể gọi là ‘người của rừng núi’. Mặc dù diễn giảng của ông được trình bày bằng ngôn ngữ tri thức theo truyền thống, (…), vẫn được coi như ‘vĩ đại thành tựu bí pháp’12 ông được tin là đã đạt đến sơ địa và sau khi mất tái sinh vào cõi Tịnh độ (…) (thế giới Cực lạc). Sự quan tâm đến các giá trị tôn giáo và một đời sống thánh thiện đã định hình một cách rỏ nét các chủ thuyết dẫn đạo của (…) vốn phù hợp với (…) đã miêu tả thế giới như nó trình hiện trên bình diện tâm linh cao nhất về tính không dụng công và hoàn toàn vô ngã. Đó chính là lý do biện hộ cho nó, và là cội nguồn sức mạnh cũng như hạn chế của nó.
Nếu sự khướt từ vong ngã là tinh hoa của đời sống tôn giáo thì các giáo nghĩa này đã đạt đỉnh cao nhất có thể của tính xuất thế gian. Nếu không chấp nhận trước là một đức tính thì sự phủ nhận tính đa nguyên của vạn pháp là đối phần trí tuệ từ khát vọng ‘từ bỏ tất cả mọi điểm tựa để bám víu’.13 Nếu những bất an căn bản của chúng ta vẫn cứ tồn tại vì
12Theo trường phái (…) Trung Quốc vào thời Cưu-ma-la-thập, Robinson 87.
13 A viii 192
chúng ta luôn dựa vào một cái gì đó, và chỉ bị nhổ tận gốc khi chúng ta chấm dứt tìm kiếm một chổ dựa vững chắc, còn gì hiệu quả cho việc tước bỏ khỏi chúng ta bất cứ chổ dựa ổn định nào hơn sự không ngừng tư duy về bản chất tự mâu thuẫn của hết thảy kinh nghiệm của chúng ta? Và nếu một thái độ hòa bình với tha thân là thướt đo của nhiệt tình tôn giáo, nó hẳn được tăng tiến mạnh mẽ bởi một giáo thuyết dạy chúng ta không nên cố chấp bất cứ gì, không quả quyết khẳng định bất cứ gì. Nếu chúng ta thực sự tin điều này đúng đắn, hình thức thể tính luận này chắc chắn sẽ dẫn đến tinh thần an nhiên tịch tĩnh. Không có gì tịch tĩnh hơn cái Duy Nhất, vì nó thoát ly mọi thứ có khả năng gây não loạn. ‘Pháp giới có thể bị động loạn (vikopita) nếu còn bất cứ pháp nào khác ngoài nó. Nhưng không có pháp khác nó có thể lĩnh hội bên ngoài nó. Tuy nhiên nếu có thể lĩnh hội pháp như vậy tất cả có thể có sự động loạn của Pháp giới.’14 Giáo nghĩa về tính bình đẳng của vạn vật không thể không thăng hoa tâm bình đẳng. ‘Bồ tát, tu tập trí tuệ Ba-la-mật, thực hành tâm bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh. Kết quả là ngài đắc huệ kiến về tính bình đẳng của vạn pháp, và học cách an lập chúng sanh trong huệ kiến này’.15 Người có tâm hoàn toàn bình đẳng nhất thiết không phân biệt Niết bàn và sinh tử. Thân cận Niết bàn ngay trong cuộc sống này, người được cứu độ không tự cách biệt thế gian mà trở thành cứu độ của nó. Và cuối cùng, hệ thống (…) còn được hứng khởi nhờ ý tưởng về tự do tinh thần16 mà nó tìm cách bảo đảm bằng cách chỉ ra tính bất thực của vạn vật vốn không phải là
14 P.f.545a.
15 P.tr.90.
16 Murti 258-60.
Chân Tâm tuyệt đối, và bằng việc không ngớt tuyên bố ‘tánh Không’ của bất cứ cái gì đang tồn tại và có thể tồn tại.
4. Tánh Không và Hư vô chủ nghĩa
Học thuyết về tánh Không khiến cho không ít người học thối chí. Như một mệnh đề thuần lý thuyết, nó ít có ý nghĩa và dường như chung quy chỉ là sự khẳng định của chủ nghĩa hư vô. Tuy thế giáo pháp về ‘tánh Không’ không đề xuất quan điểm rằng chỉ có Khôn’(trống không) là thực hữu. Tuyên bố ‘hết thảy mọi vật đều rỗng không’ là hoàn toàn vô nghĩa. Thậm chí nó còn sai lầm vì những nguyên tắc của luận lý đặc thù này đòi hởi phải phủ định cái tánh Không như đã khẳng định nó. Loại thứ tư trong 18 loại Không mà kinh Đại bát- nhã đề cập là ‘Không của không’, được định nghĩa là ‘tánh Không của hết thảy pháp là sự rỗng không của Không đó’.17 Nếu ta không thể tìm được chân lý trong cái ‘hiện hữu’ hay ‘không hiện hữu’ mà ở đâu đó trong hai điều này, vậy thì khẳng định hay phủ định có ích gì? Làm sao ta có thể hoàn toàn nhất định vào bất cứ điều gì hay khẳng định biết một cái gì cách rõ ràng cụ thể? Sự phá hoại mọi quan điểm cũng bao gồm cả quan điểm khẳng định tánh Không của vạn hữu.
Như thức ăn có ướp vị muối (…)hay tánh Không cũng vậy, sẽ tỏa thấm vào đời sống tôn giáo và cho nó hương vị. Tự bản chất muối hay tánh Không đều không thơm ngon hay bổ dưỡng gì một cách đặc biệt. Khi những đầu óc ngây thơ vô trí coi ‘tánh Không’ như một quan điểm triết lý, nó gây ra biết bao hoang mang và trở thành mãnh đất khô cằn cho hoa trái tâm linh. Và rồi tất cả điều đó chỉ để tạo ra những khẳng định vô bổ đại loại như ‘tánh Không không
17 P. 196
phải là cái rỗng không’. Tuy nhiên ngay khi dự hướng tinh thần đằng sau lý thuyết này được xem xét thấu đào thì mọi thứ trở nên hoàn toàn sáng tỏ. Mục tiêu là khám phá cái Vô hạn bằng cách loại bỏ những thứ đã che khuất nó. Cái hữu hạn phiến diện, bản chất thiên vị một chiều của những đề xuất khẳng định bị loại trừ không chỉ để sau đó được thay lại bằng một đề xuất khác (dù là phủ định về hình thức ngôn ngữ nhưng thực chất cũng là khẳng định) và với một nhãn quan khướt từ và siêu việt mọi khẳng định vốn chỉ là hình thái tiềm ẩn của sự tự khẳng định. Không được nêu lên không phải là vì bản thân nó mà như một phương pháp giúp thâm nhập chân thực tại. Nó mở ra con đường tiếp cận trực tiếp chân tánh của vạn hữu(...pháp tánh) bằng cách tháo bỏ mọi bám chấp vào ngôn từ là những thứ luôn giảm thiểu hay trừu tượng hóa thực tại thay vì phơi bày nó. Tánh Không không phải là một học thuyết. Công dụng truyền thống của nó là để thể hiện sự phủ nhận của trí tuệ về thế gian này. Tất cả mục tiêu của nó là sự giải thoát toàn diện khỏi thế giới quanh ta dưới mọi khía cạnh của nó. Là một khái niệm hết sức thực tiễn nó cho rằng chỉ có thái độ phi thực tiễn mới có thể đảm bảo sự an lạc lâu dài. Do vậy nó tiêu biểu cho khát vọng, không phải là quan điểm. Công dụng duy nhất của nó là giúp chúng ta rủ bỏ thế giới này với tất cả vô minh đã che khuất chúng ta bấy lâu. Như một phương thuốc nó chỉ có ích khi chúng ta đau ốm nhưng khi chúng ta hoàn toàn khỏe mạnh thì nó vô dụng
Nghiên cứu về tánh Không là công trình chính yếu của trí tuệ uyên thâm Phật giáo. Chỉ bằng tư duy thiền quán một cách hệ thống mới cá thể phơi bày chiều sâu của nó.
Tánh Không cơ bản là một đối tượng của sự triền miên chiêm nghiệm, còn sự bàn cải suông về hiện hữu hay không hiện hữu của nó,cái ‘không là gì’, rất đáng nên coi thường. Sẽ là sai lầm khi xem các tư tưởng của (…) như thể chúng là kết quả của lý luận triết học, trong khi trên thực tế chúng xuất phát từ những phương pháp thiền định lâu đời nhờ đó trực giác về cái Tuyệt đối được chứng nghiệm cách thực sự.
Điều cơ bản đối với thiền quán này là chúng tồn tại trên nhiều cấp độ khác nhau, tùy vào (a) trình độ thuần thục mà năng lực trí tuệ đã chứng đạt và (b) khía cạnh Dhrama được quán chiếu. Từ ‘tánh Không’chỉ có nghĩa trong bối cảnh đó nó vô nghĩa. Các ý nghĩa khác nhau của tánh Không trên thực tế tự tỏ lộ qua các giai đoạn kế tiếp nhau trong quá trình siêu xuất thế gian, thông qua năng lực trí tuệ. Một phát họa vắn tắt các giai đoạn này không thể giúp ta có khả năng nhận chân cốt lõi không bàn cải của học thuyết tánh Không’, nó còn cho phép ta tóm lại những gì đã tiếp thu từ đầu sách này, đặt từng khía cạnh của học thuyết vào đúng phối cảnh của nó. Một nghiên cứu sâu về truyền thống cho thấy hiệu quả của phân biệt 32 loại ‘tánh Không’ tương ứng năm bậc của huệ mà Tâm kinh Bát- nhã đã ám chỉ.* Ba cấp bậc đầu tương đồng với các phương thức được
* (Gate) đã đi – từ các dữ kiện tục thức đến các pháp (dharmas) và tánh Không của chúng.‘Gate’ (đã đi) - từ sự mê đắm trong pháp hữu vi đến sự xả bỏ chúng, vì tánh Không của chúng. ‘…’ (đã đi qua bờ bên kia) - đến cái Vô vi, đến tánh Không của nó.‘…’ (cùng đi qua bờ bên kia) – cùng vượt ngoài mọi dị biệt giữa thế gian và Niết bàn, đến chỗ bất nhị siêu việt nơi khẳng định và phủ định là một trong tánh Không. ‘Bodhi (…)’ (Vui thay tuệ giác ngộ!) giai vị cuối cùng của tánh Không siêu việt kinh
giải thích trong các chương 14-23 của Visuddhimagga; bậc thứ tư là đóng góp đặc trưng của Đại thừa; thứ năm là điều quen thuộc hầu hết Phật giáo đồ. Độc giả được khuyên đầu tiên nên nhìn vào bảng Tổng quan trước khi đi vào các mô tả sẽ định nghĩa từng cấp bậc bởi khía cạnh Dharma được nói đến có ý nghĩa chính xác của ‘Tánh không’, và loại tuệ cần phải có.
-
Tánh Không về lý Pháp. Trước hết cần nói đến tánh không của các Dharma, nghĩa là phải hiểu một Dharma là gì, so với một vật hay một người, phải biết các giáo nghĩa của Abhidharma trong vô vàn chi tiết của nó, và đạt được năng lực nhất định để duyệt lại các kinh nghiệm hằng ngày được gọi là thuật ngữ của các dharma. Những người bỏ qua bước khởi đầu này sẽ không bao giờ tiến bộ trong việc truy tìm ý nghĩa ‘Tánh Không’, vì họ không phát triển ngay cả nền tảng cơ sở cho ‘trí tuệ’ vốn là đối phần chủ quan của ‘tánh Không’18 Quen thuộc với truyền thống về các dharma là bước hướng về tánh Không, vì theo định nghĩa các pháp này rỗng không tự tánh. (xem trang bên)
nghiệm nơi những giấc ngủ dài cuối cùng đã chấm dứt
18 VM 438.
hình như sách
Khía cạnh pháp ( Dharma) đặc biệt chú ý: Các đặc trưng xác định các pháp (dharma) là các pháp, và từng pháp đúng như nó là 19‘Không’ nghĩa là nhìn thấy một cách sáng suốt các pháp trống rỗng không có tất cả những đặc trưng mà nhìn theo ngoại hiện của các vật (pháp) và người (nhân) theo tục thức xuất phát từ ảo tưởng cho rằng tự ngã riêng biệt là có thật. Trí tuệ được phát triển đến mức cần thiết để loại bỏ các áo tưởng đó vốn ngăn chặn các pháp trình hiện đúng như các pháp.
-
Các pháp, cũng như các uẩn, xứ, và giới, được chiếu kiến trong tự tánh của chúng. 1.1.a Vô thường. Các pháp tồn tại không quá một sát-na, ta và vật đều không thường trụ, 1.1b.Khổ. Hết thảy pháp gồm trong năm thủ uẩn đều
19 (……., paccatta-…………………..); cf. VM 368.
phải biến dịch và khổ, và hạnh phúc nào phát sinh từ đó đều là giả tạo 1.1c. vô ngã. Trên thế gian bao gồm các sự kiện pháp này, không có thực tế nào tương ứng với các từ như ‘bản ngã’, ‘tôi’, hay ‘của tôi’ hoặc các khái niệm phát sinh từ đó như ‘linh hồn’, ‘bản thể’, ‘thuộc tính’, ‘bản chất nội tại’, ‘thuộc về’, ‘sở hữu’, ‘thể hiện’, ‘cá nhân’v.v.. Ở giai đoạn này sự xác tín một cách tỉnh thức rằng các pháp trên thực tế không có một tự ngã, sự xác tín ấy hoàn toàn không bóp nghẹt các hoạt động truy tìm chính ta.
1.2. Cái duyên. Một pháp không có tính độc lập hay tự lập. Nó luôn kết buộc với cái duyên, nghĩa là (a) nó tùy thuộc vô số sự kiện khác chúng quanh nó, làm duyên cho nó, bằng cách hỗ trợ nâng đở, tạo ra hay lấy đi, và (b) nó gắn liền với đau khổ và vô minh qua mười hai duyên khởi. 1.2a. Vô thường và các duyên.Sự khởi và diệt của các pháp tùy thuộc các duyên, không do tự nó.20 1.2b. Khổ và các duyên.Các pháp ‘bất hoạt’(…) vận hành một cách thụ động; khi chúng kết hợp, và ‘trong quá trình diễn tiến các sự kiện’ sẽ tạo ra các quả, chúng không bận tâm (…) đến việc cần phải kết hợp, đến những vận dụng và bận tâm liên lĩ của những tự ngã tưởng tượng của chúng ta, (chúng cũng không bận tâm) đến ưu tư của chúng ta về các kết quả.21 1.2c. Vô ngã và các duyên. Tự thân nó yếu đuối, mỗi pháp không có năng lực nội tại và dựa vào những cái khác để sinh khởi và hỗ trợ nó.
1.3. Thực tánh tương đối. I. Giải thích kinh nghiệm như một chuỗi các pháp tương tác nhau với những cái đang
20Udayabayam Paccayato BM 159-60. (…………)
21 BM 151-2. Si 225. VM 484,585,594-5.
hiện tiền thì đúng hơn quan niệm thông thường hay sắp đặt các dữ liệu kinh nghiệm thành các sự vật thuộc tính của chúng, hay thành các cá nhân với những hoạt động của họ. II. Những người thực hành quán chiếu về các pháp sẽ tự động nhìn thấy các vật thể của thế giới tục thức xung quang chúng ngày càng ít vững chắc và đáng tin cậy hơn, càng thêm huyễn, giả dối, xa vời và như chiêm bao, hơn rất nhiều so với mức ta tưởng về chúng
1.4. Giá trị tương đối. Các pháp đáng quan tâm hơn các sự vật thông tục.
2. Tánh Không tùy duyên.Kế đến cần phân biệt các pháp hữu vi và vô vi và những đặc trưng nào của pháp hữu vi khiến chú ý phân biệt chúng với pháp vô vi. Bị ảnh hưởng bởi các ‘kiến chấp điên đảo’, thông thường chúng ta hay gán cho những pháp hữu vi những đặc tính mà thực tế chỉ riêng Vô vi mới có. Ở giai đoạn này ta còn đạt tới quan niệm rõ ràng hơn về bản chất tinh thần con người, vốn có thể thỏa mãn với sự với sự thường hằng, chân lạc và tự tại. Vô vi hơn thế, còn cho ta một tiêu chuẩn mà so với nó cái hữu vi càng lúc càng được thấy là kiếm khuyết, và kết quả là sự mong muốn trở lại cái Vô vi càng thêm mãnh liệt. Những người luôn trầm tư trong các thiền quán này là thời gian dài chắc chắn sẽ nhận thấy hết thảy pháp hữu vi đều ‘rỗng không’ theo nghĩa chúng không có một tự ngã thực sự, không bất cứ gì đáng để gọi là ‘tự ngã’.
Khía cạnh Pháp (Dhrama) đặc biệt chú ý: các dấu hiệu chung (tổng tướng)22 cho hết thảy pháp hữu vi, trái ngược
22 (…). Ứng dụng chú,. VM 609-10, 618,639-40, 657-8.
với pháp vô vi.23‘Không’ nghĩa là các pháp hữu vi không có các đặc trưng mà, trong khi trong thực tế chỉ pháp vô vi mới có, nhưng vì các khái niệm, tư tưởng, quan điểm đảo lộn, chúng ta đã gán một cách sai lầm cho chúng. Trí tuệ được phát triển đến mức cần thiết để loại bỏ các ảo tưởng này vốn ngăn chặn Niết bàn tự hiển lộ trong chân tánh của nó.24
2.1. Ba tướng. Ba tướng được áp dụng một cách có hệ thống và được xem là cốt lõi của các pháp hữu vi, quan trọng hơn bất cứ đặc tính nào khác chúng có thể có, đối lập với pháp trái ngược với chúng.25 2.1a.Vô thường: các pháp hữu vi không thể mang đến sự thường hằng mà ta mong muốn. 2.1b. Khổ: chúng không mang đến sựu an lạc mà ta hy vọng.26 2.1c. Vô ngã: chúng không có tự ngã như đã được như đã được quy gán một cách sai lầm. Nếu được cân nhắc cách hoàn toàn tự chủ, không có thực tại hữu vi nào để xứng đáng để gọi là ‘ngã’ hay ‘thuộc về tự ngã’
2.2. Phi vô vi. Các pháp hữu vi, so với Niết bàn, nay được nhìn với đặc trưng quyết định của chúng. Kiến giải dựa trên sự quan sát các duyên (như phần 1.2), sự hiểu biết về ba tướng, và sự cầu mong một Niết bàn chỉ có trong quan niệm. Không thỏa mãn nói về các thực tại đơn thuần, nó chăm chú vào các khuyết điểm của chúng và đào sâu để loại bỏ sự chấp trước vào các sự kiện hữu vi.27 2.2a. Không
23 (……)-dharma.
24 Bởi bảy (…….) (?).
25Nicca-patikkhepato, v.v VM 618.
26 (……..)
27Sankhata-dosa, (…….).
vững chắc: các pháp hữu vi chắc chắn phải tàn hoại.28 2.2b. Không tịch tĩnh: chúng không tránh khỏi là hiểm họa và đáng sợ. 2.2c.Không đáng tin cậy: chắc chắn là chúng ta không nắm bắt được chúng, vì chúng ta không có gì mà chúng ta có thể nắm giữ được, không thể cho ta điểm khả y để chấp nhặt, không có điểm tựa hay sở y, không có nơi trú ấn hay chổ an toàn.
2.3 Thực tánh tương đối: các pháp hữu vi đều phi thực hữu, không thực chất. Trình hiện của chúng, duyên do vô minh, nên bất thực (vitatha, hư vọng). Xét theo chân đế, chúng là hư huyễn.29
2.4. Giá trị tương đối: các pháp hữu vi không có giá trị (riktaka, tucchaka); cho nên đáng xóa bỏ, và cuối cùng được nhìn với tâm xả ly bình thản.
3. Tánh không vô vi.Khi hết thảy các sự kiện hữu vi được cho là không có giá trị, là cái đáng từ bỏ, cuối cùng Niết bàn hay cái Vô vi có thể thành mục tiêu cần cầu.30
Khía cạnh Dharma đặc biệt chú ý. Niết bàn đối nghịch với thế gian này. ‘Tánh không’ có nghĩa là pháp vô vi tự tại thế gian này.31Trí tuệ bước vào giai đoạn mới khi cái nhìn32 (…) về Thánh đạo và Niết bàn cải đối toàn bộ đời sống của hành giả. Thế gian trí đến đây trở thành ‘xuất thế trí’; phàm phu trước đây trở thành ‘thánh giả’
28 (….)
29 Dhp.Asanta. VM 496 (…), SN 9-13, vi-tatha. La IV xiii; (…). VM 479.
30 Asl. 392.
31 Pts. 179 số 4 và 24.
32 cf. Asl. 54, 409.
(…).
3.1. Ba giải thoát môn. 3.1a.Vô tướng.I. Vì thoát ngoài mọi tướng trạng của các pháp hữu vi (thế gian pháp). II. Vì là cái không thể nhận thức theo cách thông thường. 3.1b.Vônguyện. I. Vì thoát mọi phản ứng (thế gian) đối trước các pháp hữu vi. II. Vì là cái không thể cầu mong. 3.1c. Không. I.Tự tại không còn bị hòa hợp với bất cứ cái gì hữu vi thân cận hay bên ngoài chân ngã của chúng ta. II. Vì hoàn toàn không còn gì bận tâm nữa.
3.2. Không ràng buộc bởi duyên. 3.2a.Bất tử: Tự tại đối với sự chết hay bất cứ hình thức vô thường nào. 3.2b.Tịch tĩnh: tự tại thoát ngoài mọi não loạn bức bách tân an tịnh hay mọi hình thức đau khổ. 3.2c. An toàn: thoát ngoài mọi đe dọa đến sự an toàn bởi một phi –ngã ngoại tại hay mọi hình thức tự tha hóa.
3.3. Chân đế: thoát khỏi mọi lừa dối của thế giới hư vọng, mọi tính chất và ý niệm phát sinh từ các giả tướng, tức là thực tế chân thật và là chân đế.33
3.4. Giá trị: thoát ngoài sự đánh giá, hay là giá trị tối hậu.34
4. Tánh Không siêu việt. Sau khi kiên trì trải qua ba giai đoạn tiến triển thiền quán này, ta có thể từ ‘trí năng’ tiến đến ‘trí tuệ viên mãn’. Giai đoạn hai và ba đặt nền tảng trên phân biệt và tương phản giữa hữu vi và vô vi. Đến đây cả sự phân biệt đó cần được xóa bỏ. Chủ đề của giai đoạn
33Saccam, satyam, (…). VM 497 (…).Cũng như VM 496.
34 (…).
bốn sự đồng nhất của thế gian và Niết bàn, mà cứu cánh là siêu việt cả hai đồng tính đồng nhất và dị biệt của chúng. Tánh Không bây giờ được xem là sự đồng nhất của có và không và cùng với điều này, một lãnh vực mênh mông các nghịch lý đang mở ra trước mắt chúng ta.
Khía cạnh Dharma đặc biệt chú ý: Niết bàn vừa là một vừa đối nghịch với thế gian này. ‘Tánh không’ có nghĩa là vượt qua mọi phân biệt bằng một pháp tánh siêu việt cả hai sự đồng nhất và dị biệt giữa các pháp hữu vi và vô vi. Trí là ‘trí tuệ viên mãn’ đạt đến tuyệt đỉnh của vị Phật–sẽ thành khi ngài bước lên các giai vị trong sự nghiệp thành tựu Phật đạo.
4.1.Siêu việt các tướng. Vượt ngoài mọi tướng trạng-cá biệt tướng lẫn tổng tướng,35 vì tính đồng nhất vô vi của nó. 4.1a. Vượt ngoài sự khác biệt giữa thường và vô thường. 4.1b. giữa an lạc và khổ, 4.1c. giữa cái ta và người.36
4.2. Bất nhị vô vi: Vượt ngoài dị biệt và phân biệt đối đãi. 4.2a. Bất sinh: vì không bị tạo tác nó vượt ngoài mọi khả tính biến thiên, nhưng dù là có sinh khởi như một Dharma không khác Không nguyên thủy. 4.2b. Vô tác: vì bất hành nó vượt ngoài khả tính đau khổ, nhưng an Niết bàn tịch tĩnh không khác với loạn động, bất tịnh và động hành.37 4.2c. Không tự tánh: Vì không có
35 (…) LS số 1; (…) EZB iii 134.
36 Har Dayal 16-18, 79-81. (…) đối với (…).
37 (…) LS số 3.
tự tánh nó vượt ngoài mọi khả tính thành và hoại, được và mất, bằng tự khẳng định, nhưng thực tại viên mãn không phân biệt với các tự ngã bất toàn và cá biệt.38
4.3. Chân như: Là sự đồng nhất giữa chủ thể khách thể nó vượt ra ngoài mọi khái niệm sai lầm, ngoài mọi phạm trù tư tưởng bao gồm cả ‘hiện hữu’ và ‘không hiện hữu’. Những người còn phân biệt giữa chủ và khách thể là còn lạc vào hư vọng bất thực, dù họ không bao giờ thực sự xa rời Nhất như.39
4.4. Vô sở đắc: Vượt ngoài mọi khả tính chứng đắc- bản thân, ngữ hay ý-tuy nó cứu độ hết thảy.
5. Tánh Không siêu việt. Khi các nghịch biệt của giai đoạn bốn được thành tựu nhờ sự từ bỏ mọi bám chấp vào các hình thái lý luận của tư duy, đến phiên chúng cũng phải được bỏ lại phía sau. Trên tầng tối cao là tính thuyết phục của sự im lặng hùng biện. Ngôn từ bất khả, và thực tại tâm linh truyền đạt trực tiếp với chính nó.
38 (…)
39 (…)