Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Phật Giáo Ấn Độ

Tư Tưởng Phật Giáo Ấn Độ

Tác giả: Hạnh Viên. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 451.

Chương 21: Chương V - Mật Tông (Trang 444 - 451)

 
CHƯƠNG 5
MẬT TÔNG


Đến đây là kết đoạn câu chuyện của chúng ta. Trong vòng diễn biến của một thiên niên kỷ, biết bao tiềm năng vốn có trong Chánh pháp của Như lai đã dần dần trở thành hiện thực. Vào khoảng 500 hoặc 600 sau tây lịch đóa sen Chánh pháp ấy đã khai nở mỹ mãn. Khi nhìn lại gần 500 trang tường thuật của cuốn sách này, độc giả sẽ nhận thấy trong suốt tác phẩm chúng ta đã bàn đến một và đồng một giáo thuyết, và các khác biệt chẳng qua là các khía cạnh của một viên kim cương lấp lánh khác nhau khi xoay theo các hướng khác nhau. Khoảng 1000 sau kỷ nguyên Phật lịch không có khía cạnh mới nào được khám phá, và Mật giáo (Tantra) khía cạnh tiếp theo của Phật giáo, không phải là sự tiếp nối trực tiếp các giáo thuyết triết học chúng ta đã trình bày chi tiết ở đây, có căn nguyên ở một nơi khác.
Từ khởi thủy chúng ta có hai hình thái Phật giáo. Một Phật giáo của các tu sĩ chiêm nghiệm thiền quán về bốn Thánh đế, ba pháp ấn, các đảo kiến cùng những đề mục tương tự, mong mỏi thành đạt sự hợp nhất huyền bí để cuối cùng là sự giải thoát thông qua các hành trì thiền định. Và một Phật giáo mà các vua quan thế tục mà cứu cánh là sự tái sinh tốt đẹp hơn, dựa trên sự tuân thủ các luật tắc đạo đức, trên sự rộng lượng và trên ‘niềm tin’ được thể hiện bằng nghi thức tập trung quanh xá lợi của Như lai và
sự thờ cúng các bảo tháp (…)1. Theo thời gian các tục gia cư sĩ ngày càng trở nên nổi trội, và mặc dù các thuật ngữ cơ bản của truyền thống tự viên vẫn thường xuyên được dùng để tô điểm cho các phát biểu của Tantra, bản thân tư tưởng Tantra2 truyền thừa trực tiếp từ một Phật giáo thể tục đã song hành cùng Phật giáo tự viện trong cùng nhiều thế kỷ.
Tôi tiếc phải nói rằng, có ít nhất bốn lý do nó nằm ngoài tiêu điểm của sách này:
Thứ nhất, tư tưởng Phật học mà chúng ta mô tả ở đây là sự giải thích duy lý các chứng nghiệm đạt được trong quá trình thiền quán vốn tương đối duy lý, và có thể được miêu tả khá thích đáng trong gần 200 trang sách Buddhist Meditation của chúng tôi. Ở đây, với Tantra, một khuynh hướng thiền định hoàn toàn mới mẻ ở vị trí đứng đầu, mà lại chưa có ai trình bày nó bằng những thuật ngữ dễ lãnh hội. Nội dung duy lý của nó là không đáng kể, và hầu như nó hoàn toàn liên quan với các khái niệm vốn gắn liền truyền thống thần bí của con người. Cũng có thể, dù không chắc, một ngày nào đó sẽ có người biên tập một cuốn sách chỉ nam về các thiền quán này cho chúng ta biết chính xác nó như thế nào. Chỉ khi ấy ta mới có được một khởi điểm cho việc suy luận ra các cấu trúc duy lý được áp đặt.





1 HBI 11 sq., 686sq.
2 Các tác phẩm đáng tin cậy về tư tưởng Tantra: H.v. Glasenapp, BuddhistischeMysterien 1940;G. Tucci Tibetan Painter Scroll, 3 vols., S.B. Dasgupta an Introduction toTained  Buddhism, 1950 và Obscure Religious Cults as Background of  BengaliLiterature, 1946; D.L. Snellgrove, Buddhist, Himalayas, 1957.
trên các hành trì này.
Thứ hai, các tư liệu gốc để dựa vào đó nghiên cứu  về tư tưởng Tantra đều được viết bằng thứ mật mã mà ngày nay chưa ai có thể giải đáp. Ngôn ngữ của chúng ta không chỉ bí hiểm và được thảo ra để che dấu nhiều hơn là bộc lộ ý nghĩa của chúng; chúng ta còn được xây dựng sao cho  luôn là dòng chữ vô nghĩa nếu không có một guru (đạo sư) thánh thiện, người mà những khẩu quyết của ông được coi là tuyệt đối cần thiết để giải thích chúng. Là thành viên của giáo phái Tantra nghĩa là phải làm và là cái gì đó. Bất cứ tư tưởng có thể có nào đều hoàn toàn là thứ yếu và có thể thay đổi được.
Thứ ba, các thuyết giáo này cơ bản là huyền bí, hay mật truyền (guhya). Nó có nghĩa đúng là như vậy. Kiến thức bí truyền không thể, và đây là rào cản hoàn toàn bất khả, trong bất cứ tình huống nào, được truyền cho một nhóm bài bữa nào đó. Một khối lượng văn học bất tận được gởi đến khối quần chúng cả tin, những người huy vọng có thể mua những bí mật này với vài đồng shilling trong một tiệm sách. Một anh thợ ở bến cảng Plymouth tự cho mình là một học giả Tây tạng đã viết cuốn sách bán chạy nhất. Và cái mùi gian lận và lừa dối làm vấy bẩn các tác phẩm của mọi người nào muốn nói từ bên trong. Trong môi trường này rõ ràng những ai biết thì không nói, và những ai nói thì không biết. Có hai, và chỉ hai khả năng: hoặc là tác giả của một cuốn sách loại này chưa từng được nhập môn một Tantra; như vậy những điều ông nói không phải là tri kiến trao truyền trực tiếp. Hoặc ông là người đã nhập môn; vậy nếu ông định tiết lộ cho tất cả mọi người để kiếm chút lợi nhuận hay vì danh tiếng, là ông phá vỡ sự tín nhiệm được đặt nơi ông và về đạo đức là sự xấu xa, không đáng
được nghe theo.
Các ‘tín ngưỡng thần bí’ của thời xa xưa đã từng là một đề tài nghiên cứu khoa học không mấy triển vọng, và như thể đó là lời cảnh báo cho những người thăm dò bí ẩn của Tantra. Chỉ cần xem xét một ấn bản là đủ, quyển ‘Những nghi thức bí truyền’, trong đó mười ba chuyên gia hàng đầu trong năm 1955 đã giải thích trong 476 trang tất cả những gì biết được vào lúc đó. Các tín ngưỡng này rất nổi tiếng hoạt động trên giả định rằng chân lý tâm linh phải được dành riêng cho những người nhập môn và chín chắn để tiếp nhận nó, và ngược lại, phải được che dấu trước những người thế tục. Điều này tuy thế không ngăn được người thế tục cố gắng tìm cách giải đáp những điều không bao giờ có ý nghĩa đối với họ, và cuốn sách nói trên đầy dẫy các nghiên cứu học từ nhiều mặt từ những nghi thức Hy lạp bí truyền của Eleusis, Orpheus, .v.v..Những ‘nghi thức bí truyền’cổ Ai cập hóa chưa từng hiện hữu, những nghi thức bí truyền của Mithras và nhóm Ngộ đạo (Gnostics), v.v..Thật đáng mừng khi nhận thấy sự đề phòng mà các thầy tu truyền bí pháp cổ đại dùng để chống lại sự thế tục hóa các vật thiêng liêng đã chứng tỏ khá hữu hiệu, và những người hăm hở điều tra của thời hiện đại không hiểu ra sao cả. Các tác giả luôn than phiền là mọi văn tịch đều ‘quá vắn tắt’, rằng ‘có nhiều lỗ hỗng đáng tiếc cần phải lấp đầy’, rằng ‘chúng ta có nhiều thông tin nhất về những điều chúng ta ít quan tâm nhất’, và rằng ‘chúng ta sẽ không bao giờ biết’ điều mà người nhập môn đã biết’. Trong đam mê tìm kiếm sự thật họ cũng cáo buộc các đồng nghiệp của họ về ‘những giả định hoàn toàn sai lầm’, ‘sự vô nghĩa về mặt khoa học’, ‘những phát minh không dựa trên chứng cứ nào’, .v.v..Đó không phải là một thái độ có ích cho sự tái sinh tâm linh. Bàn cãi công khai về
sự bí truyền bằng những từ ngữ có thể hiểu một cách đại khái là một cái gì vừa khiếm nhã vừa lố bịch. Hiệu quả của những điều tra nghiên cứu này giống như một màn thoát y vũ kéo dài, tuy nhiên với sự khác biệt cơ bản, là thành phẩm cuối cùng không phải là cơ thể một phụ nữ với tất cả vẻ đẹp lộng lẫy của nó, mà là vài mảnh tả tơi còn sót lại của một con búp bê cũ kỹ nào đó. Cũng như một số người không biết sống để làm gì bèn leo núi chỉ vì lý do duy nhất là ‘họ ở trên đó’, để cho mọi người phải điều tra mọi chuyện chỉ vì chuyện đó đã diễn ra. Hiện tại nhiều người chưa được rèn luyện để hiểu rõ sự khác nhau giữa trí thức cho phép và tri thức bị cấm, hay ngay cả thông tin hữu ích và thông tin vô tích sự. Nhưng ít nhất họ phải ý thức rằng một số vấn đề có thể giải thích, một số khác thì không thể. Tính hiếu kỳ vô độ của con kiến thông thái bò tràn lan trên chánh điện hoang vắng không làm gì ngoài việc tha đi một vài hạt sỏi. ‘Trẻ còn thì chỉ thích sữa’.
Cuối cùng, tư tưởng tăng lữ trong thiên niên kỷ đầu tiên có thể dễ dàng tách khỏi thần thoại học của Ấn độ giáo, mà nó thâm nhập chỉ như là sự tô điểm. Đó là sản phẩm của các tu sĩ không những đã quay lưng với thế tục và môi trường xã hội của họ,*mà, không cần loại bỏ các ý tưởng thần thoại  và các thực hành thần bí trong môi trường đó, còn xem chúng có nhiều dị đoan mê tín vốn không ảnh hưởng mấy đến mục tiêu giải thoát. Với Tantra các tưởng




* Lamotte HBI 686.Ils sont le fait de docterurs travaillant en cellule loin des bruits de la foule incapable de saisir la portée des travaux exécutés et discutés entre clercs.[Đó là việc của những bậc thạc học thực hành trong phòng riêng, xa cách đám đông ồn náo không thể hiểu được tầm quan trọng của những việc thuộc hành trì và thảo luận trong giới tăng lữ.]
tượng mang tính bộ lạc của giống người Hindu tự khẳng định lại chúng, và thiếu một kiến thức sâu sắc về Vedas và Brahman thì hoàn toàn không thể hiểu được ý nghĩa của ngiều hình tượng thần thoại vẫn hiện ra đó đây ở khắp nơi.
Vì những lý do này, cố gắng miêu tả tư tưởng Mật tông không những phải tiêu hao nhiều giấy mực nó còn gần như là giữ lại vẻ khôi hài các sự kiện hiện hành. Trong khi khẳng định các giáo thuyết huyền bí của Tantra vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta. Tuy nhiên để kết luận tôi cần nhận định vắn tắt về lợi ích tâm lý của một số giới luật Tantra. Ở mức độ nào đó chúng giải quyết các phản hồi của các hành trì truyền thống Phật giáo tác động trên tâm vô thức mà chúng kích thích, và trên các sức mạnh thầm kín mà chúng kích hoạt. Về lâu dài, thể trạng tinh thần của chúng ta tất nhiên sẽ hưởng nhiều lợi lạc từ phương cách sống và thiền quán của Phật giáo. Về ngắn hạn thì điều trái ngược hay xảy ra. Các bức xúc của một lối sống không tự nhiên một cách cố ý, vốn đưa ra để ngăn cản mọi bản năng và xu hướng tự nhiên, rất có thể dẫn đến chiều hướng loạn thần kinh đã ngấm ngầm có sẵn. Tiến bộ tâm linh cần có những thời gian dài cô độc. Sự cách ly xã hội sinh ra lo lắng, sự sợ hãi vô cớ tất cả càng mãnh liệt hơn, xót xa hơn vì không thể tìm ra bất cứ gì xác thực để mà sợ. Sự ức chế thường xuyên áp đặt lên các dục vọng và khuynh hướng vị kỷ tất sẽ gây ra một cảm giác thất vọng với mọi não loạn tinh thần kèm theo nó, đặc biệt vì sự phẫn nộ gây ra không được phép ‘thăng hoa’ thành sự cuồng tín tôn giáo hay cuồng nhiệt áp lực người khác, sự trầm cảm gây ra cũng không giải trừ bởi thuốc an thần hay rượu. Hơn thế nữa, sự tự kiềm chế sẽ dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng giữa tâm trí có ý thức và vô thức, vì ý thức bao giờ cũng cố đè nén nhứng thôi thúc bản năng luôn tăng
trưởng trong Vô thức. Cuối cùng một số sức mạnh không mong đợi, cả huyền bí lẫn tinh thần được thức tỉnh một cách chậm chập hoặc  bất ngờ không có trợ giúp của sự hướng dẫn tâm linh thực sự có thẩm quyền, thường là chúngta sẽ không biết cách vận dụng các năng lực này.
 Đối với những nhà tu thiền xa xưa các nhiễu loạn tinh thần này được biết rõ dưới tên gọi accidia, sự trì trệ và tính chua chát của một tâm trí quá buồn chán mà thiền sư Bạch Ân gọi là ‘các chứng bệnh thiền’.3 Tính tự mãn của những người chưa trấn áp chính mình bị kích động, được dung túng một cách kín đáo, bởi các xáo trộn tinh thần, tâm trí và thể xác của những người đang cố gắng làm một cái gì đó. Các rối loạn này, như ‘Đêm tối tăm của tinh thần’, không phải là dấu hiệu thất bại như giới phàm phu chưa được huấn luyện vẫn lầm tưởng, mà là dấu hiệu của sự tiến bộ – như tiếng lụp cụp của xương khớp bị chứng thấp khớp báo trước sự chuyển động sau cùng của chúng. Dẫu sao chúng ta cũng có thể tránh được phần lớn đau khổ và phí phạm thời gian nếu biết cách xua tan các xáo trộn này. Trong thời chánh pháp, nhiều người đã vượt qua các khó khăn này một cách dễ dàng và đối phó với chúng chỉ bằng những phương pháp theo kinh nghiệm mà ngày nay ta không còn biết hoặc không thể tìm hiểu được. Một ngàn năm sau khi đức Phật nhập Niết bàn, khi những điều kiện xã hội ngày càng bất lợi hơn cuộc sống  tâm linh, chúng bắt đầu bộc lộ những vấn đề thực sự, và Tantra đã tiến triển đến một chừng mực nhất định để đương đầu với chúng bằng những phương pháp riêng biệt giúp hành giả lấy lại sự bình





3 H. Dumoulin Zen 1959, các tr. 259-62. Ngài đã miêu tả nó trong tác phẩm Yasen Kanna, bản dịch của R..D.M. Shaw và W. Schiffer.
an rạng ngời vốn có của tâm trí.4





4 Rất nhiều kiến thức tâm lý ẩn dấu đằng sau ngôn ngữ bí hiểm của những tác phẩm Mật tông. Phức cảm Oedipus có nói đến trong cuốn Tử thư Tây tạng, tr.179. một số ý kiến đề xuất sâu xa hơn trong cuốn Hate, Love and PerfectWisdom in the Mahabodhi, 1954 của tôi. Có cả trong The Theory and Practiceof Mandala, 1961, của G. Tucci.
/21
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »