CHƯƠNG 4
NHÂN MINH LUẬN
-
Lôgic biện chứng của Đại thừa thời kỳ đầu
‘Biện chứng pháp’ là hình thái luận lý, tuy không phủ nhận giá trị của nguyên lý mâu thuẫn,* vẫn xác nhận mọi chân lý phải được thể hiện bằng hình thức các phát biểu tự mâu thuẫn. Dù nó là tiêu chuẩn được chấp nhận của mọi phát biểu đúng thực về cái đang hiện hữu, nguyên lý mâu thuẫn thực ra không bao giờ có thể quan sát được trong những vấn đề liên quan đến chân tánh chính nó (như là khác với thế giới chúng ta tự tạo ra quanh mình như một loại môi trường đề đáp ứng nhu cầu sinh học và xã hội của chúng ta). Sự có mặt các mâu thuẫn biểu hiện một thiếu sót cơ bản trong bất cứ gì có thể hàm chứa chúng. Chúng ta thấy một cái gì vừa hoàn toàn bất thực và sai lầm (như vận động bị chi phối bởi các nghịch lý của Zeno Elea), vừa chỉ đúng một phần (trong biện chứng pháp của Hegel), vừa trong tiến trình tự hủy (như trong chủ thuyết Mác khi được áp dụng cho các ‘mâu thuẫn’ của chủ nghĩa tư bản). Trong Đại thừa, ở đâu mọi thứ tách ngoài cái Tuyệt đối là sai lầm và không thể tự duy trì, mọi sự kiện không-tuyệt đối sẽ chứa
* (…) là hai lần viện dẫn một cách rõ ràng nguyên lý mâu thuẫn (MMK 7.30 và 8.7) và luận khử tam - excluded middle (MMK 2.8 và 2.15). mặt khác ông xử lý nguyên lý đồng nhất ‘không phải là để phủ nhận rằng tính đồng nhất với loại trừ dị biệt, hay ngược lại, có thể được quy gán cho bất cứ gì tồn tại’(Robinson 76).
đầy mâu thuẫn vốn là những dấu hiệu của tính bất thực rốt ráo của chúng. Bản thân cái Tuyệt đối, một lần nữa, cũng phải định nghĩa bằng các thuật ngữ mâu thuẫn, vì chỉ có ‘siêu lý luận’* mới có thể đánh giá chúng đúng thực.
Khi nói về Tuyệt đối các nhà Đại thừa không nói như những người trong trạng thái hưng phấn say mê quên hết cả lý lẽ. Thuyết ‘trực giác phi lý trí’ của họ nói về những nghịch lý sáng suốt vốn luôn chú trọng đến logic và phản bác nó một cách thận trọng. Vì nó không quan tâm đến sự tự mâu thuẫn.**
* D.T. Suzuki cũng nói, người ta có thể hỏi, tại sao những cái này mâu thuẫn? Câu trả lời là. Chúng như vậy vì là (…). Chúng như vậy chỉ vì chúng như vậy, không vì lý do nào khác. Vì thế không lý luận, không phân tích, và không mâu thuẫn. Vạn vật bao gồm mọi hình thức mâu thuẫn có thể có, luôn luôn là (…) ‘A’ không thể tự nó là ‘A’. trừ phi nó đối lập với cái không phải là ‘A’; cần có cái ‘không phải A’để làm ‘A’, ‘A’ có nghĩa là không phải ‘A’ ở trong ‘A’. Khi ‘A’ muốn tự là nó, nó đã ở ngoài chính nó, có nghĩa là ‘không phải A’. Nếu ‘A’ không hàm chứa bản thân nó cái không phải là nó, ‘không phải A’ sẽ không lộ ra khỏi ‘A’ để làm cho ‘A’thành cái nó là. ‘A’là ‘A’ vì mâu thuẫn này, vì mâu thuẫn này chỉ xuất lộ khi chúng ta lý luận. Khi chúng ta an trú trong (…) thì không có gì mâu thuẫn. Thiền không dẫn đến mâu thuẫn, nó là nhà lý luận tài ba khi chạm trán với chúng, quên rằng chúng là cái do nó tạo ra”,Existentialism Pragmatism and Zen 268-9.
** R. Otto (Mysticism East and West, 45) nói về cái logic khác thường của chủ nghĩa thần bí, phớt lờ hai quy luật cơ bản của lôgic tự nhiên là luật cấm mâu thuẫn và luật khử tam. Cũng như hình học phi-Euclide bỏ qua một bên tiêu đề về các đường thẳng song song lôgic thần bí không thèm lý đến hai tiêu đề này; và từ đó mà cái ‘tương phản ngẫu nhiên’ (coicidentia oppositorrum), cái ‘tính đồng nhất của các tương phản’ và các ‘khái niệm biện chứng’ cũng phát sinh. Nguyên cứu đầy đủ và nhiều cứ liệu nhất về các hệ thống biện chứng vẫn là cuốn Der Salz vom Widerpruch, 1932, của chúng tôi.
Chính vì điểm này mà Tây Phương với ‘sự pha trộn giữa tính ngay thơ trẻ con và tính cao ngạo của người lớn’1 gặp khó khăn nhiều nhất trong việc đánh giá các đồng sự Đông phương của họ. Khi đối diện trước một phê phán duy lý của các quy luật tư duy, hầu hết các triết gia đếu cảm thấy khó chịu vì sự có mặt của chúng cho đến khi nào nó chứng tỏ được các ý tưởng này có thể diễn giải sao cho các quy luật lôgic cổ điển – ít nhất là nguyên lý cấm mâu thuẫn – hoàn toàn không bị vi phạm’.*2 Trong ‘triết học phật giáo tình cảnh có khác. Các tư tưởng của họ đã tỏ ra hoàn toàn có thể tôn trọng các quy luật này trong trường hợp tôn trọng như thế là cần cho sự rõ ràng sáng sủa và nhất quán. Trong thực tế Phật giáo là một tôn trọng lớn trên thế giới được tạo dựng trên nền tảng các phân tích lôgic có tính hệ thống chặt chẽ về các vấn đề của nhân sinh’.3 Nhưng ngay khi tính thực tiễn được đưa vào, tính logic chính thống lập tức bị thay thế bởi các biện chứng pháp.
Mỗi phát biểu riêng lẻ như vậy rốt ráo đều sai lầm, vì nó vi phạm Dharma bởi hàm ý nhị nguyên và phân biệt. Hậu quả là cấu trúc lý luận các phát biểu đó là một thứ biện chứng pháp. Phân biệt (Vikalpa) là cốt lõi của vô minh là cái tạo ra toàn thể thế gian đau khổ này. Thế giới duy nghiệm, với tất cả khổ não bao quanh nó, là một tâm phân
1 E.A. Burtt, PhEW v, 1955, các tr. 196-7.
* Để hỗ trợ tuyên bố của ông, Burtt đã trích nhận xét của C.I.Lewis: “Bất cứ gì có thể gọi cách thích đáng là một ‘thế giới’ phải là cái mà mặt này hay mặt kia của cặp vấn đề mâu thuẫn phải áp dụng được hay đúng thực, và sao cho tất cả mọi vấn đề chứa đựng nó như vậy là phải tương thích nhau”.
2 Burtt, tr. 201.
3Burtt, tr. 202.
biệt (cấu trúc tâm) phát sinh từ phân biệt vọng tưởng. Như lai là người đã ‘đoạn trừ mọi biến kế phân biệt’.4 Do đó, theo bước chân Như lai là Bồ tát ‘đi theo con đường bất nhị’.5 Nhưng nếu giả định bất cứ gì tách ngoài Pháp bất nhị ‘làm đảo lộn’ Pháp giới,6 làm sao có thể thực hiện bất cứ phát biểu đúng đắn nào?
Khẳng định và phủ định, hữu và vô; không nên tách rời hai cái này như thể chúng khác nhau. To be cũng không đồng thời Not to be. Nếu hiện hữu và không hiện hữu được xem như nhau, nếu có và không là đồng nhất, thì sự não loạn của tâm được cho là sẽ biến mất. Bước tiến này xóa bỏ nguyên lý mâu thuẫn theo nghĩa nó bị triệt tiêu trong tánh Không. Bởi vì nó tới chân thực tại thì sự khẳng nhận và phủ nhận về luận lý không còn giá trị tối hậu. Rõ ràng khi nói ‘A rỗng không có tự tánh của A’ chung qui là đồng nhất một dharma với sự phủ định của chính nó. Bằng phong cách trực tiếp và tô đậm, hệ kinh (….)cho thấy một cách rõ ràng tính đồng nhất của các cặp mâu thuẫn đối lập và không cố tìm cách giảm thiểu các nghịch lý của chúng. Yếu tánh [của vật] là không yếu tánh,7 hành cũng tức là vô tu tâm tuyệt đối là cái ‘không biến dị hay phân biệt’ là cái cần hưng khởi; tâm ấy cũng đồng với vô tâm. Nhưng cái tâm vốn là vô tâm đó không phải là cái gì, vì ta không thể.
4 A xix 358, (………………).
5 Pf 486.
6 Ad f. 252a. P508, 537b.
7A viii 192.
8 SLII 279 b.
9Siii 495-502. SS số 96.
Tìm thấy trong đó cái ‘có’ hay ‘không”’. ‘Tự ngã’, bản sao của cái bất thực và sai lầm, hư giả và đáng từ bỏ, được đồng nhất với trí tuệ bát – nhã và với (…..).10Giá trị đáng kể của kinh Kim cang là do nơi suốt tác phẩm đã tạo ra điểm nhật định rằng mỗi một quan điểm chủ yếu của Phật giáo đều ngang với phản nghĩa của nó và sử dụng một công thức đặc biệt để diễn tả tư tưởng này như sau: “phước đức, phước đức, tức phi phước đức, Như lai nói là phước đức. Đó là ý nghĩa mà Như lai nói là ‘phước đức’.”11 Hay, như Tăng Triệu nói,12 “Sở đắc là giả danh của ‘vô sở đắc’; ‘vô sở đắc’ là tên gọi nguyên ủy của ‘sở đắc’ vậy”.
Như trong trường hợp các hệ thống biện chứng khác, tất nhiên chính sự dẫn nhập Tuyệt đối đã tàn phá các quy luật lôgic thông thường. Tuyệt đối có tác động đến sự lý luận theo lôgic như lớp kim loại ngầm dưới mặt đất có tác động đến mũi kim nam châm của một la bàn.Trong tính cách phi lôgic vẻ ngoài của nó, Đại thừa nhằm mục đích sáng kiến các nguyên lý của một lôgic về các Tuyệt đối lôgic quen thuộc bấy lâu của chúng ta là để thích nghi với một thế giới tương đối. Nó không còn ý nghĩa trong tương quan giữa cái tương đối và cái Tuyệt đối, giữa hữu vi và vô vi, giữa thế giới biến diệt và Nirvana. Bất cứ liên quan nào có dính líu đến tuyệt đối ipso facto [tự bản thân nó] trở thành một ‘quan hệ tuyệt đối’, một mâu thuẫn về từ ngữ, một thứ không dễ lãnh hội, về tính cách hoàn toàn khác với cái thông thường được gọi là ‘quan hệ’. Ta có lý do để ngạc nhiên trong lĩnh vực các ‘quan hệ tuyệt đối’ này… (……….)
10 Sa 221= SS số 89. Ví dụ chi tiết, xem số SS 95-100.
11Danh sách đầy đủ các hình thức lý luận này, xem V 11-12.
12 Robinson, tr. 231; D 105.
cho rằng Nirvana là một với thế gian sinh diệt này rằng ‘chính phiền não là Niết bàn’. Vô vi đồng nhất với hữu vi, cái thường hằng bất biến đồng nhất đồng nhất với cái thường biến đổi, thanh tịnh đồng nghĩa với ô nhiễm, toàn hảo đồng nghĩa với bất toàn. Nhưng, và nên ghi nhớ điều này, tính đồng nhất được định thức như vậy là một đồng nhất tính tuyệt đối và không loại trừ tính dị biệt nguyên ủy. Trong một lôgic xem cái có và không như nhau nó chỉ hợp lôgic khi tính đồng nhất giữa hế giới và sự rỗng không dẫn đến chỗ cả hai hoàn toàn dị biệt, và ngược lại. Tai sao nên xem tính dị biệt tuyệt đối tương đồng với tính đồng nhất tuyệt đối; điều này khá dể hiểu theo nghĩa sau: Nirvana và Tôi là tuyệt đối khác nhau. Tôi không thể đến đó, và nó không thể đến tôi. Tôi không bao giờ có thể tìm thấy nó, vì tôi không còn đó nữa khi nó được tìm thấy. Nó không thể tìm thấy tôi vì tôi không có đó để được tìm thấy. Nhưng Nirvana, cái thường hằng, luôn luôn có đó. ‘Chân như ở đâu cũng như nhau, vì hết thảy pháp đều đi đến Nirvana.’13 Vậy cái gì trong tôi đã ngăn cách tôi với nó? Hoàn toàn không có gì thực vì ngã chỉ là thứ bịa đặt. Như vậy ngay hiện tại thực sự không có chút khác biệt nào giữa tôi và Nirvana. Cả hai đồng như nhau.
Bát nhã-tâm kinh chuyển tải cùng thông điệp này bằng việc trước tiên đồng nhất tánh Không với cái hiện hữu, tức năm uẩn, kế đến bằng tuyên bố là nó không phải là sự rỗng không của những cái nó loại trừ mà rỗng không cái nó bao gồm, đồng nhất với nó, tràn đầy nó, để ngay sau đó khẳng định tánh Không là không có các uẩn đó. Điều này không lạ chút nào nếu ta nếu ta nhớ rằng tánh Không là một nhất thể tự mâu thuẫn của có và không và nhớ rằng ở đâu nó là chủ.
13 A xxix 476.
thể của một mệnh đề thì ở đó có cái ‘đang là’ cũng đồng thời là ‘không phải là’ đồng thời cũng ‘đang là’.14
2. Các nhà luận lý hậu kỳ
Vì cả hai, tầm quan trọng lịch sử và sự quan tâm hiện tại về luận lý, chúng ta cần nói qua các nguyên lý của luận lý học Phật giáo15 khi được phát triển bởi trường phái của (….) (Trần-na (như sách), (……) (Pháp Xứng (như sách), và Dharmottara (Pháp Thắng (như sách)qua nhiều tác phẩm kể từ năm 450 stl (Pl. 930) trở đi16. Các nhàluận lý học Phật giáo quan tâm bốn chủ đề khá khác biệt, dù liên quan nhau: [1] trong phạm vị lôgic theo nghĩa đích thực của nó họ cố gắng đề ra các quy luật tranh, và phân biệt các quy luật đúng và không đúng;17 [2] họ cũng xem xét các vấn đề; nhận thức luận’, chủ yếu là nguồn gốc của lượng trí hay ‘các phương pháp chứng minh’, và ý nghĩa của từ ngữ; [3] để xiển minh các chủ đề Phật giáo đặc biệt là những cái liên quan đến bản thể học, họ thiết lập các luận cứ chỉ dựa
14 BWB 84-5, 89-90.
15(…..) [nhân minh luận], thuyết học về các lý luận lôgic; tarka. Các đồng nghĩa, BL i 2.
16 Bibl. Cho đến năm 1950 C. Regamey, Buddhistische Philosophie , 1950, các tr 65-9 từ đó nhiều tác phẩm đã được xuất bản. Đăc biệt quan trọng là ấn bản của R.Gnoli chương đầu, với phần tự chú giải, là tác phẩm (……) của (…..). SOR xxiiii, 1960, cũng có trong E.Frauwallner, nói về (….) WZKSO iii, 1959, 83-164. Landmarks in the History of Indian Logic WZKSO v, 1961, 125-48.
17 Về vấn đề này, và toàn bộ thuyết tam đoạn luận (……) cũng như sự phân loại các ngụy thuyết, tôi phải tham khảo các phân tích tuyệt vời của Stcherbatsky.
duy trên lý luận; và [4] bằng lý luận họ bác bẻ quan niệm của đối phương, chẳng hạn niềm tin vào sự hiện hữu của Thượng đế của các thực thể thường tồn, của một dòng tương tục ngoài tâmv..v., cũng như các phản bác của họ đối với quan điểm Phật giáo.
Lý luận học của Phật giáo, chỉ được bộ phận trong Du-già hành tông nghiên cứu, không được tán thành ở những nơi khác, và khơi gợi lên sự nghi ngại của mọi người đã chỉ trích nó là khoa học quá dung tục.*Khác với tinh thần Phật giáo, nó chỉ có thể chấp nhận như là biểu thị của ‘phương tiện thiện xảo’. Lý luận học được nghiên cứu ‘nhằm đánh bại đối phương bằng tranh luận’18 và qua đó gia tăng các nguồn lợi tức của Giáo đoàn.19Các phương pháp của nó hàm ý triệt để rời bỏ tinh thần (…) và tinh thần bao dung vốn là đặc trưng của Phật giáo trong thời hưng thịnh. Buston20 đã trích hai đoạn kinh21 cho ta sự lượng định chính xác mối liên hệ của thứ ‘lôgic’ này với tư tưởng Phật giáo truyền thống. Được bố trí cho những cuộc tranh luận triền miên các nhà luận lý bỏ qua sự chứng nghiệm hay trực giác, về chân lý tuyệt đối như đã được các bậc thánh đơn độc chứng nhận, và bằng lòng với phẩm vật
*Các nghi ngại này càng gia tăng hơn khi quan sát tính cách của những người như (…) (BL I 36, Gnoli, tr. xxxvi) người ta không khỏi nhận thấy ngành nghiên cứu này sản sinh các nhân vật kiêu hãnh và luôn có khuynh hướng thúc đẩy mình tiến lên
18 Buston, tr.44.
19 Xem B 164-5; BL i 34.
20 Các tr. 45-6.
21(….) và MSL i 12. (….) đã bác bỏ mọi cải cách lý luận của (….) và thích lối lý luận thực tế trường phái bà-la-môn (……) hơn, BL i 45.
cúng dường của quần chúng bình dân.Bộ (…)-samuccaya (Tập lượng luận) của (…) thừa nhận ‘Dhama không phải là đối tượng của lý luận theo lôgic’, và nói thêm ‘người nào tìm đến chân lý tuyệt đối bằng lý luận theo lôgic là xa rời giáo thuyết của Phật, và ‘sẽ thất bại’. Vã lại lý luận thì ‘bất định’(aniyata), thuần túy duy nghiệm và hạn cuộc trong chân lý quy ước (....), chỉ lợi ích đối với hạn phàm ngu (……), và ‘buồn chán’ hay ‘tẻ nhạt’(..).Không những văn phong các luận giải luận lý học là buồn tẻ, khô khan và mang tính bác học, các phản luận cũng rất thường khi 22 chủ yếu không là gì ngoài khẳng định nghèo nàn rằng vế thứ hai (hetu) của tam đoạn luận đã được dùng một cách sai lạc, vì vậy cố đem lại vẻ ngoài thuyết phục không phải lúc nào cũng được cảm nhận bởi các đối thủ mà những luận cứ này nhắm đến. Các luận giải về Abhidharma cũng tẻ nhạt khô khan, và mang tính bác học, nhưng ít ra chúng cũng thăng tiến sự chứng nghiệm chân lý bằng những con người luôn tĩnh lặng tham thiền. Ở đây, toàn bộ nỗ lực được huy động vào cuộc tranh cải ồn ào với người khác, một hoạt động thường bị lên án là đặc biệt nguy hại trong các kinh văn xưa.
Về bốn nguồn tri thức khả hữu hay các phương tiện minh chứng các nhà luận lý học chỉ thừa nhận hai thứ, là tri giác (hiện lượng), và suy lý (tỷ lượng). Họ không cần viện đến kinh văn và dường như bác bỏ trực giác của các vị thánh vì bối cảnh hoạt động của họ. Bởi lẽ, khi Dharma được đem ra tranh luận với người ngoại quốc, nó phải được tách ra khỏi bối cảnh tinh thần của nó cũng như các hành trì thiền quán vốn đem lại cho nó sức sống và ý nghĩa, và phải được hạ
22 Chẳng hạn, bộ (………) của (…), A. Thakur biên tập, Patna 1957.
thấp xuống thành một chuỗi các vấn đề thuần túy hình thành bởi các giả định được người ngoài 23 chia sẻ, những người mà với họ các thánh điển và trực giác của các thánh giả không có giá trị hiển nhiên. Mong muốn là tất cả đối với mọi người,các nhà Đại thừa tự nhiên phải thay đổi cách giả thích về Dharma của họ để thích nghi với khán thính giả mà họ nghĩ đến. Ta có thể phân biệt rõ ràng ba mức độ giải thích sau:
[1] Cách thứ nhất được nhắn gởi đến các tín đồ Đại thừa trong hệ kinh (…….). Nó hoàn toàn dựa trên trực giác tâm linh, các luận chứng và trích dẫn kinh văn rất hiếm, còn có các dữ liệu giác quan khi không thấy xuất hiện. Ở đây học thuyết hoàn toàn không bị méo mó, không bị câu thúc, và mọi người hoàn toàn thoải mái. Tuy nhiên, nếu [2] chủ yếu nhắm đến các nhà Tiểu thừa, như theo Seng-jui (Tăng Duệ)24 trong (…) của (…) sẽ cần viện dẫn nhiều văn tịch chung cho cả hai khuynh hướng, nếu không thì luận giải sẽ phụ thuộc quá nhiều vào lý lẽ lập luận. So sánh giữa bộ ‘Bát- nhã bách thiên tụng’ và ‘Trung luận’ cho thấy (…..) về cơ bản đồng quan điểm với Kinh trong mọi chủ đề đặc điểm chung.25Nhưng ‘họ
23 “Trong ý hướng của những người ủng hộnó hệ thống rỏ ràng không chút liên hệ đặc biệt nào với Phật giáo như một tôn giáo, nghĩa là như một con đường hướng đến giải thoát. Nó khẳng định là lôgic thông thường tự nhiên của tri thức nhân loại”, BL i 2. “Những người vĩ đại nhất của thời kỳ này dường như là những nhà tư tưởng tự do”, BL i 13-14.
24 Robinson 42,191,193, D 68. “Khi tòalâu đài nhiều rường cột bằng gỗ (của Đại thừa) dựng lên, nó khiến cho túp lều tranh xiêu vẹo (Tiểu thừa) trở thành tang thương.”
25 Robinson 97; D 1-4.
khác nhau cách triệt để ở phong cách dù bên nào cũng rất có phương pháp riêng của họ’. Ngôn ngữ sử dụng của họ cũng cho thấy sự khác biệt đáng chú ý.26 Ví dụ như bản Kinh không bao giờ dùng từ ‘húy luận’ vốn chiếm phần rất lớn trong bộ Trung luận, và bao gồm các từ yujyate (ứng lý, hợp lý), upapadyate (sanh, lập, thỏa đáng) hay sidhyate (thành, được chứng minh). Mặc khác nhắm vào đối tượng Sthavira, trong Trung luận(…) đã không dùng các từ như ‘bồ đề tâm’, ‘bi’, ‘phương tiện’, ‘chân như’, ‘Pháp giới’, ‘Pháp thân’v.v.., vốn có những quảng nghĩa đặc trưng của Đại thừa, và ngay cả Bồ tát chỉ xuất hiện một lần duy nhất27 nhưng chúng có ý nghĩa mà Tiểu thừa có thể chấp nhận được. Vì vậy mà có thể xem không phải là tự nhiên mà sự luận thuật Trung luận phải bỏ qua nhiều chủ đề đặc biệt thiết thân đối với các tâm hồn Đại thừa. [3] Cuối cùng ta có thể nói với những người ngoài cuộc hay ngoại đạo (…….) vốn thuộc về truyền thống triết học Ấn độ và sử dụng các khái niệm truyền thống này. Ví dụ rõ ràng nhất là bộ Tattvasamgraha (Nhiếpchân thật luận (như sách) của (…) với chú giải của (…) mà hiện đã có bản dịch đầy đủ.28Đặc điểm chung như vậy là chỉ có tri giác (hiện lượng) và suy luận (tỉ lượng) cũng như các giả định đương nhiên được cho là của các nhà Du- già nhưng rất hiếm khi được làm sáng tỏ. Tuy nhiên ở đó luôn có sự tiếp xúc với người ngoài, trong suốt thiên niên kỷ đầu sau khi Phật Niết bàn, các Phật giáo đồ ít khi bài bác và nhạo báng họ, xác định lập
26 Robinson 94-7.
27 24;32.
28 G.Jha 1937 và 1939 (GOS) nguyên bản Skanrit (GOS 1926) dày đến 936 trang.
trường riêng của họ về những người đó, hấp thụ một số giáo lý nhất định của họ mà không biết nguồn gốc của chúng, hay ngay cả thực hiện các cố gắng rời rạc tranh luận với họ, và cả bộ (…) (Luận sự) lẫn (…) đều chứng tỏ có quan tâm nhất định đến các quy luật của lý luận hình thức. Sự quy đầu Chánh pháp của những người ngoại giáo, tuy thế, luôn được cho là bởi sự lãnh hội các thành quả tâm linh đạt được từ nó, chứ không phải do những cuộc tranh luận theo lôgic là nơi các vị bhikshu tự hào vênh váo cho những con công đang khoe bộ cánh sặc sỡ. Lúc bấy giờ khi nền tảng xã hội của Phật giáo đang hồi tan rã, các nổ lực được tiến hành để thúc ép người ngoại cuộc bằng lý lẽ, và tất nhiên đối với hầu hết Phật giáo đồ có lẽ là điều khó chịu nhất của họ. Tầm quan trọng, giá trị và lợi ích của luận lý Phật giáo được giới hạn trong mục tiêu xã hội của nó, do đó công trình của những nhà luận lý chỉ có thể trình bày thánh giáo trong một hình thức rõ ràng bị nhiều cắt xén.
Nếu nó được hiểu theo giá trị bề ngoài, luận điểm cho rằng chỉ có tri giác giác quan và suy lý là các nguồn tri thức chân chính hẳn sẽ kiến các nhà luận lý hậu kỳ được lòng các thế hệ triết gia hiện tại của chúng ta, và chứng thực nó hoàn toàn phá hoại mọi giáo thuyết tâm linh. Trong thực tế sự thẳng thắn của (…) và Dharmottara chỉ là điều nhìn thấy bên ngoài, còn trực giác của thánh giả và sự khai thị của chư Phật vẫn bí mật lưu chuyển bên trong.
Trong bối cảnh này, vậy trước hết ‘tri giác giác quan’ (hiện lượng (như sách); skt.(…….)) là gì? Định nghĩa cơ bản của nó chắc chắn sẽ làm nó không giống với tri giác thông
thường theo tục thức như mọi thứ khác. Nó là29 trực tiếp khác với mọi tri thức gián tiếp gồm các cấu trúc tư duy, khái niệm, phán đoán và suy luận. Nó là khả năng tri giác thuần túy, thuộc sát-na đầu tiên của tiến trình nhận thức, nêu bật sự có mặt của một đối tượng cụ thể, đặc thù, độc nhất, và chưa xác định. Nó là cảm giác thuần túy mà trí nhớ và trí tưởng tượng sáng tạo sau đó sẽ tạo thành một tri giác. Nó là điều kiện không thể thiếu của mọi tri thức chân thực và cụ thể, nhưng tự thân nó không thể nắm bắt được.
Hơn nữa, chi tiết hơn còn ba loại ‘tri thức trực tiếp’ khác nhau, là [2] ‘tri thức thuộc tâm’((….) ý hiện lượng?)30 theo ngay sau ‘cảm giác thuần túy’như một phản ứng không suy nghĩ của tâm trí (khác với giác quan) trước cùng một đối tượng, đại khái rất tương đương với giai đoạn giác thức thứ ba [3] ‘Nội quan’(Sva-(……..), tự chứng, tự thức, tự-giác tri) là hành vi tự-ý thức mà theo phái luận lý nó kèm theo sau mọi ý thức, vì người ta tin là mỗi sự ý thức về một đối tượng bên ngoài cùng lúc đã bao hàm sự ý thức về ý thức đó.31 Tiếp theo là [4] ‘trực giác của nhà Du-già’ (yogi-(……..), quán hiện lượng).32 Trong thực tế trực giác của thánh giả được công nhận là một nguồn tri thức riêng biệt, chỉ vì nó được tiếp nhận qua tri giác trực tiếp. ‘Trực giác thần bí là năng lực của vị Thánh (…) nhờ đó Ngài có thể ngay lập tức thay đổi hoàn toàn mọi tập quán tư tưởng và tư duy thường lệ, trong một hình ảnh sống động, điều kiện của vũ trụ vạn vật đó được thiết lập bởi những cấu trúc siêu xuất của các triết
29BL i 146-61; ii 14-25,33.
30 Xem chi tiết trong BLi 161-2, ii 26-8, 311-39.
31 Xem BLi 163-9, ii 28-30.
32 Xem BLi 162, ii 30-3.
gia’. Trực giác này thuộc về tinh thần hoàn toàn không thuộc về cảm giác. Nhưng vì là tri thức trực tiếp, nó không do suy diễn phân biệt, không hư giả, không mâu thuẫn với kinh nghiệm về đối tượng siêu nghiệm, và sống động hơn nhiều sự sống động mà các cấu trúc tư tưởng trừu tượng có thể có. ‘Đối tượng được lãnh hội rõ ràng như người ta nhìn thấy một hạt cải trong bàn tay’. Theo cách này mà bốn Thánh đế, tánh Không và sự đồng nhất giữa Luân hồi với Niết bàn trở thành đối tượng của tri thức trực tiếp. ‘Trực giác Du-già’ này đạt được khi một người được thay đổi hoàn toàn thành một (…) và do đó, nó là một năng lực ‘siêu việt’. Nó là ‘cái nhìn không điên đảo về số lượng vô hạn các tồn tại’,33 và đạt đến chỗ toàn hảo nơi nhà du-già tối thượng, tức đức Phật mà trực giác của Ngài về cái Tuyệt đối vô phân biệt cũng chính là cái nhất thiết chủng trí.
Thứ hai, ‘suy lý’ cũng có thể tạo thành một người thông suốt mọi vấn đề, tức đức Phật và khi điều này đã thành tựu, mọi lời dạy của Ngài tự động thành căn cứ xác thực. Chương hai bộ (….) của (….) luận bộ thư căn bản của những nhà luận lý học Phật giáo, quan niệm đức Phật là ‘hiện thân của chánh lượng trí (….)’, cho thấy Ngài là một chúng sanh tuyệt đối và thông suốt hết thảy34. Tương tự, bộ Tattvasamgraha của (…) cũng dành chương cuối cùng để chứng minh nhất thiết chủng trí của chư Phật. Trường phái (…)35 cũng như truyền thống Tây tạng sau
33Aprameya–(……..). trích. BL ii 32. Tôi cho rằng Stchebarsky đã hiểu nhầm câu này.
34 BL i 38,43.
35 BL i 43-5.
này16 xem mọi phê bình, lý luận và nhận thức luận trong hệ thống của (…) chỉ nhằm mục đích chuẩn bị nền tảng đúng đắn cho các thuyết siêu hình và tâm linh của Phật giáo. Đây tất nhiên là bối cảnh thực sự của các tác phẩm này, và để miêu tả các tác giả như là những người chủ thuyết duy nghiệm, duy lý và bất khả tri theo nghĩa mà thế kỷ hai mươi hiểu các từ này tất sẽ dẫn đến sự bóp méo thường xuyên của chúng.
Sự phân biệt tinh tế giữa tri thức trực tiếp dẫn đến một lý thuyết thú vị liên quan đến nội dung các thuật ngữ. Tri giác trực tiếp sẽ hướng đến một cá thể đơn biệt. Mọi tri thức theo khái niệm và hệ thống sẽ liên quan đến cái phổ quát. Nhưng từ ngữ, trong lý thuyết này37 không chỉ cho một yếu tính, tính phổ quát hay bất cứ gì xác thực, mà chỉ là sự giải trừ (apoha, apohya) mọi cái khác, sự phủ định mọi cái khác nó. ‘Mỗi từ ngữ hay mỗi quan niệm đều tương quan với đối phần của nó và đó là định nghĩa duy nhất có thể có. Do đó, mọi định nghĩa của chúng ta đều che dấu sự phân loại, được nhìn từ một quan điểm riêng nào đó. Vậy được định nghĩa luôn được miêu tả bằng phủ nhận cái khác. Màu ‘xanh’ được định nghĩa là gì, chúng ta không thể nói được, nhưng chúng ta có thể phân mọi màu sắc thành cái “xanh” và “không xanh”. Sự định nghĩa màu xanh như vậy là cái gì không phải không xanh và ngược lại không xanh nghĩa là cái không phải màu xanh.’38 Hay, như
36 BL i 27.
37 Về văn học, xem BL ii 404-5 WZKM 1930, 1932, 1933. Về các liên quan đến đạo Jain, các bình luận v.v..xem (….) tr. 90 cht. 28, và cả trong BL i 457-505, ii 403-32.
38 BL i 147.
(….)đã phát biểu,39 ‘một từ chỉ có thể diễn đạt ý nghĩa của nó bằng cách bác bỏ nghĩa còn lại’. Ngôn ngữ không phải là khởi điểm riêng của tri thức và danh tự không phải là những biểu hiện trực tiếp và tương xứng của thực tại. Danh tự tương đương với hình ảnh hay khái niệm nó chỉ diễn tả cái Phổ quát. Như vậy nó không thể làm phản ánh trực tiếp củaThực tại, vì thực tại bao gồm các đặc thù, không gồm cái phổquát.’40. Tri thức trực tiếp là sự khẳng định thuần túy của một vật ‘đúng như nó là’, còn tri thức gián tiếp chỉ có thể nhận thức một vật trong tương quan với phủ định của chính nó. Vì vậy các nhà luận lý học đã định thức lại học thuyết cũ theo cách của họ, đầu tiên do (…) đưa ra, rằng tri thức theo văn tự không có gì liên quan trực tiếp đến cái đang thực sự hiện hữu, và cơ bản là sự sai lầm.
39(……..) V i.
40 BL i 485.