Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Tăng Nhất A- Hàm Tập 1

Tăng Nhất A- Hàm Tập 1

Tác giả: Tiểu Tạng Thanh Văn - Dịch Việt: Thích Đức Thắng. Dịch giả: Hiệu Chính Và Chú Thích: Tuệ Sỹ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 516.

Chương 17: 16. Phẩm Hỏa Diệt (Trang 213 - 233)

16. Phẩm Hỏa Diệt (Trang 213 - 233)
16. PHẨM HỎA DIỆT
 
KINH SỐ 11
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Tôn giả Nan-đà ở trong vườn Tượng hoa,2 tại thành Vương xá. Lúc ấy, Tôn giả Nan-đà ở nơi vắng vẻ, tự nghĩ:
“Như Lai xuất hiện ở đời, thật là khó gặp; ức kiếp mới xuất hiện, thật không thể gặp. Một thời thật lâu dài, Như Lai mới xuất hiện. Giống như hoa Ưu-đàm-bát thỉnh thoảng mới xuất hiện. Cũng vậy, Như Lai xuất hiện ở đời, thật là khó gặp; ức kiếp mới xuất hiện, nên thật là khó gặp. Trường hợp này cũng khó gặp: Tất cả các hành đều tĩnh chỉ, ái diệt tận không còn, cũng không nhiễm ô, diệt tận, Niết-bàn.”
Bấy giớ có một thiên tử Ma Hành,3 biết những ý nghĩ trong tâm Tôn giả Nan-đà, liền đến cô gái Thích Tôn-đà-lợi4 ; bay trên hư không, dùng kệ tán thán rằng:
_________________________
1 Tham chiếu, Thera 279.
2 Tượng hoa viên 象華園. Khppng thấy tên Pāli tương đương về khu vườn này trong thành Vương xá.
3 Ma Hành 魔行天子. Cf. There 179: Mārapakkha; Sớ giải: do phàm phu u tối, không từ duy chân chánh, phiên não ma tăng trưởng, do đó thiên ma thừa cơ xâm nhập.
4 Tôn-đà-lợi 孫陀利. Skt. = Pāli: Sundarī. Truyền thuyết phương Bắc nói cô là người vợ hụt của Nan-đà. Truyền thuyết Pāli gọi cô này là Janapadakalyāṇī Nandā. Về sau cô cũng theo Di mẫu Pajāpati xuất gia và cuối cùng thành A-la-hán. Các truyền thuyết
Nay cô hãy vui mừng,
Trang điểm, tấu ngũ nhạc.
Nan-đà bỏ pháp phục,
Sẽ đến cùng hưởng vui.
Cô gái họ Thích Tôn-đà-lợi, sau khi nghe những lời này của ông trời, vui mừng phấn khởi, không thể tự chế được, liền tự trang sức, sửa sang dọn dẹp nhà cửa, trải tọa cụ tốt, trổi kỹ nhạc như lúc Nan-đà còn ở nhà không khác.
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc tập họp tại giảng đường Phổ hội, nghe đồn Tỳ-kheo Nan-đà trả lại pháp phục sống đời gia nghiệp. Vì sao vậy? Vì có vị trời ở không trung mách bảo cho [578b01] vợ ông biết. Vua Ba-tư-nặc sau khi nghe những lời này xong, trong lòng ưu sầu, liền đóng xe bạch tượng, đi đến khu vườn kia. Đến nơi rồi, vua đi vào trong ao Hoa tượng. Từ xa, vua thấy Tôn giả Nan-đà, liền đến trước chỗ Nan-đà, đảnh lễ sát chân, ngồi lui qua một bên.
Bấy giờ, Tôn giả Nan-đà hỏi vua Ba-tư-nặc:
“Đại vương, vì sao đến đây mà mặt mày đổi sắc? Lại có việc gì đến chỗ tôi vậy?”
Vua Ba-tư-nặc đáp:
“Tôn giả nên biết, nơi giảng đường Phổ hội, tôi nghe Tôn giả xả bỏ pháp phục trở về làm bạch y. Nghe xong những lời này, nên tôi đến đây. Không biết Tôn giả chỉ dạy thế nào?”
Lúc đó Tôn giả mỉm cười, rồi từ từ bảo vua:
“Không thấy, không nghe, cớ gì Đại vương nói những lời này? Đại vương, há không nghe từ Như Lai rằng tôi đã
 
_____________________
cũng có thể lẫn lộn cô với Sudarī-Nandā, em gái của Trửong lão Nandā, con gái vua Sudodhana với bà Gotami.
trừ các kết, sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh nữa, đã biết như thật, nay thành A-la-hán, tâm được giải thoát sao?”
Vua Ba-tư-nặc nói:
“Tôi chưa nghe từ Như Lai nói Tỳ-kheo Nan-đà sinh tử đã dứt, đắc A-la-hán, tâm được giải thoát. Vì sao vậy? Vì có vị trời đến báo cho cô gái họ Thích Tôn-đà-lợi như vậy. Phu nhân Tôn-đà-lợi sau khi nghe những lời này rồi, liền trổi kỹ nhạc, sửa sang phục sức, trải các tọa cụ. Tôi nghe những lời này rồi liền đến chỗ Tôn giả.”
Nan-đà bảo:
“Vua không biết, không nghe, sao Đại vương lại nói những lời này? Các Sa-môn, Bà-la-môn, không ai là không vui thú với cái vui do tịch tĩnh, cái vui Thiện thệ5, cái vui của Sa-môn, cái vui Niết-bàn, mà không tự quán sát cái dâm này như hầm lửa, lại phải đi đến đó! Việc này không đúng. Dâm dục như bộ xương6, như miếng thịt, như đống đá,7 như mật bôi trên dao, chỉ mắc phải tham cái lợi nhỏ, không lo cái tai hoạn về sau. Cũng như trái xum xuê làm cho cành gãy; cũng như đồ vay mượn không bao lâu rồi sẽ phải bồi hoàn; cũng như rừng kiếm, cũng như thuốc độc hại, cũng như lá độc, như hoa quả độc. Đã quán sát dâm dục này cũng lại như vậy, mà ý còn nhiễm trước; việc này không xảy ra. Từ dục như hầm lửa
_________________________
5 Có lẽ tương đương , lạc thiên giới, nhưng Hán dịch đồng nhất với sugata, một hiệu của Phật.
6  để bản chép lộn; cần đảo lại: . Cf. Trung 54: các thí dụ vè những tai họa do bởi dục:  dục như cốt tỏa.
7 để bản chép nhầm, cần sửa lại. Cf. Trung, dẫn trên:
cho đến quả độc, khôngquán sát những điều này mà muốn vượt qua được dục lưu, hữu lưu, kiến lưu, vô minh lưu8 mà muốn được nhập vào vô dưNiết-bàn giới mà Bát-niết-bàn, thì việc này không xảy ra. Đạivương, [578c01] nên biết, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đãquán sát đây là cái vui của tịch tĩnh, vui Thiện thệ, vui Sa-môn,vui Niết-bàn, thì điều ấy tất xảy ra. Những vị ấy do quán sátnhư vậy, hiểu rõ dâm dục như hầm lửa, giống như bộ xương,đống thịt, mật bôi đao bén, trái xum xuê làm cành gãy, vậtmượn không lâu phải trả; cũng như rừng kiếm, như thuốc độchại; đã quán sát, đã biết rõ, trường hợp ấy có xảy ra; tức là, đãhiểu rõ, biết chỗ nổi dậy của lửa dâm, thì liền có thể vượt quađược dục lưu, hữu lưu, kiến lưu, vô minh lưu, điều này tất xảyra. Các vị ấy đã vượt qua dục lưu, hữu lưu, kiến lưu, vô minhlưu, việc này tất như vậy.
“Vậy thế nào Đại vương, lấy gì để thấy, gì để biết mà nói nhưvậy? Này Đại vương, nay tôi đã thành A-la-hán, sinh tử đã dứt,phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, không còntái sinh đời sau nữa, tâm được giải thoát.”
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc lòng tràn đầy vui vẻ, tâm thiện phátsinh, bạch Tôn giả Nan-đà rằng:
“Nay tôi không còn chút mảy may hồ nghi nào nữa, mới biếtTôn giả thành A-la-hán. Nay xin cáo từ, vì việc nước đa đoan.”
Nan-đà đáp:
“Nên biết đúng thời.”
Vua Ba-tư-nặc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân, rồicáo lui ra về.
_______________________
8 Bốn bộc lưu.
Vua Ba-tư-nặc đi chưa bao lâu, Ma thiên kia đến chỗ Tôn giảNan-đà, đứng giữa hư không, lại dùng kệ này nói với Nan-đàrằng:
Phu nhân, mặt như trăng;
Thân đeo vàng, chuổi ngọc;
Nhớ dung nhan dáng kia,
Ngũ nhạc hằng vui hưởng.
 
Gảy đàn, đánh trống ca,
Âm vang thật uyển chuyển,
Khiến trừ các sầu lo.
Vui gì trong rừng này?
Bấy giờ, Tôn giả Nan-đà liền tự nghĩ: “Đây là trời Ma Hành.”Biết vậy rồi, lại dùng kệ đáp:
Xưa ta có tâm ấy,
Dâm dật không biết chán;
Bị dục trói vào trong,
Không biết già, bệnh, chết.
 
Ta qua vực ái dục,
Không ô, không nhiễm trước;
Tươi thắm kia rồi khổ;
Nay vui pháp chân như.
 
Ta đã trừ các kết,
Dâm, nộ, si đều sạch;
Không sống pháp ấy nữa.
Người ngu nên biết rõ.
[579a01]Sau khi trời Ma Hành nghe những lời này, trong lòngưu sầu, liền biến mất.
Lúc ấy, các Tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên ThếTôn. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo đoan chánh đẹp đẽ không ai hơn Tỳ-kheo Nan-đà. Có các căn trầm lặng cũng chính là Tỳ-kheo Nan-đà. Không có dục tâm cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Không có sân nhuế cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Không có ngu si cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Thành A-la-hán cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo Nan-đà đẹp trai, các căn tịch tĩnh.”
Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
“Trong hàng Thanh văn của Ta, đệ nhất 6 đoan chánh đẹp đẽ, đóchính là Tỳ-kheo Nan-đà; các căn tịch tĩnh cũng là Tỳ-kheoNan-đà.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 2
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai Niết-bàn giới này.10 Những gì là hai? Hữu dư Niết-bàngiới, vô dư Niết-bàn giới. Kia sao gọi là hữu dư Niết-bàn giới?Ở đây, Tỳ-kheo đã diệt năm hạ phần kết, rồi bát-niết-bàn ở kia,11 không còn trở lại thế gian này nữa. Đó gọi là hữu dư Niết-bàn giới.12 Kia, sao gọi là vô
________________________
9 Để bản: đệ tử 弟子. TNM: đệ nhất 弟一.
10 Tham chiếu Pāli. Itiv. 44: dveme… nibbānadhātuyo. .. sa-upādisesā canibbānadhātu, anupādisesā ca nibbānadhātu.
11 Thánh A-na-hàm nhập niết-bàn tại một trong năm cõi trời Tịnh cư.
12 Pāli, ibid., nói khác: A-la-hán lậu tận (arahaṃ hoti khīṇāsavo),
dư Niết-bàn giới? Cũng vậy, Tỳ-kheo đã diệt tận hữu lậu, thành vô lậu, tâm giải thoát,13 tuệ giảithoát,14 tự thân tác chứng mà tự an trú, biết như thật rằng, ‘Sinhtử đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần là đã làm xong,không còn tái sinh đời sau nữa.’ Đó gọi là vô dư Niết-bàngiới.15 Đây là hai Niết-bàn giới.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện để đến vôdư Niết-bàn giới. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điềunày."
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 3
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta sẽ nói thí dụ về quạ, cũng sẽ nói thí dụ về heo. Hãysuy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói cho các ngươi nghe.”
Các Tỳ-kheo thưa :
“Kính vâng, Thế Tôn!”
Sau khi các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, Thế Tôn bảo:
______________________________
nhưng cáccăn còn tồn tại (tiṭṭhanteva pañcidriyāni), vị ấy còn có cảm thọ lạc và khổ(sukhadukkhaṃ paṭíaṃvedeti).
13 Nguyên Hán: ý giải thoát 意解脫. Pāli: cetovimutti.
14 Nguyên hán: trí tuệ giải thoát 智慧解脫. Pāli: paññāvimutti.
15 Pāli, ibid., A-la-hán lậu tận, … tất cả cảm thọ không còn hoan hỷ, trởthành nguội lạnh (sabbavedayitāni anabhinanditāni sīti bhavissanti ).
“Kia, sao gọi là người ví như quạ? Ở đây có người sống nơivắng vẻ, thường tập hành dâm dục, có hành vi xấu ác; sau đóhổ thẹn, tự hối lỗi, [579b01] đem những việc đã làm trình bàycho người. Vì sao vậy? Hoặc bị những vị đồng phạm hạnh thấymà chê trách rằng, ‘Người này tập hành dâm dục, có hành vixấu ác. Nó sau khi làm hành vi xấu ác, tự biết hổ thẹn, hối lỗivới người.’
“Giống như con quạ kia thường xuyên bị khổ vì đói, bèn ăn đồbất tịnh, sau đó quẹt mỏ, sợ có các loài chim khác thấy nói rằngquạ này ăn đồ bất tịnh. Ở đây cũng như vậy, có một người ởnơi vắng vẻ, tập hành dâm dục, làm các hành vi bất thiện. Sauđó hổ thẹn, tự hối lỗi, đem những việc đã làm trình bày chongười. Vì sao vậy? Hoặc bị những vị đồng phạm hạnh thấy màchê trách rằng, ‘Người này tập hành dâm dục, có hành vi xấuác.’ Đó gọi là người giống như quạ.
“Kia, sao gọi là người như heo? Hoặc có một người sống nơivắng vẻ, lâu dài tập hành dâm dục, có hành vi xấu ác, cũngkhông hổ thẹn, lại không hối lỗi. Đối với người thì tự khenmình, cống cao, tự đắc, nói rằng ‘Tôi có được ngũ dục tự vuichơi, còn những người kia không có được ngũ dục.’ Nó tạo ácmà không biết hổ thẹn. Người này dụ như heo, thường ăn đồbất tịnh, nằm chỗ bất tịnh, chạy theo chân các con heo khác. Ởđây cũng vậy, có một người lâu dài tập hành dâm dục, có hànhvi xấu ác, cũng không hổ thẹn, lại không hối lỗi. Đối với ngườithì tự khen mình, cống cao, tự đắc, nói rằng ‘Tôi có được ngũdục tự vui chơi, còn những người kia không có được ngũ dục.’ Đó gọi là người như heo.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy trừ bỏ, hãy tránh xa. Như vậy,này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 4
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta sẽ nói về có người giống lừa, có người giống bò. Hãylắng nghe, lắng nghe và suy nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Kính vâng, Thế Tôn.”
Sau khi các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, Thế Tôn bảo:
“Kia, sao gọi là người giống lừa? Có người cạo bỏ râu tóc, mặcba pháp y, vì lòng tin kiên cố, xuất gia học đạo. Bấy giờ ngườiấy các căn không định, khi mắt thấy sắc thì theo đó khởi lênsắc tưởng, dong ruổi vạn mối, lúc bấy giờ mắt không thanh tịnh,sinh ra các loạn tưởng, không thể ngăn giữ các ác khắp nơi đến,và cũng không thể phòng hộ được [579c01] nhãn căn. Tai nghetiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân biết trơn nhuyễn, ý biếtpháp, theo đó khởi lên bệnh thức, dong ruổi vạn mối, lúc bấygiờ ý căn không thanh tịnh, sinh ra các loạn tưởng, không thểngăn giữ các ác khắp nơi đến, cũng lại không thể giữ được ýcăn, không có oai nghi lễ tiết, bước lên, dừng lại, co duỗi, cúingước; khoác y, ôm bát, đều trái cấm giới, bị đồng phạm hạnhbắt gặp chê trách rằng: ‘Ôi, người ngu này giống như Sa-môn!’Nó liền bị hạch tội: ‘Nếu là Sa-môn, đáng ra không nên nhưvậy.’ Nó lại nói như vầy: ‘Tôi cũng là Tỳ-kheo! Tôi cũng làTỳ-kheo!’
Giống như con lừa vào trong bầy bò mà tự xưng là:‘Tôi cũng là bò! Tôi cũng là bò!’ Nhưng hai lỗ tai của nó xemra lại không giống bò, sừng cũng không giống, đuôi cũngkhông giống, âm thanh đều khác.
“Bấy giờ, bầy bò hoặc dùng sừng húc, hoặc dùng chân đá, hoặcdùng miệng cắn. Nay Tỳ-kheo này cũng lại như vậy, các cănbất định; khi mắt thấy sắc, theo đó khởi lên sắc tưởng, đuổitheo vạn mối, bấy giờ nhãn căn không thanh tịnh, sinh ra cácloạn tưởng, không thể ngăn giữ các ác khắp nơi đến, lại cũngkhông thể giữ được nhãn căn. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi,lưỡi nếm vị, thân rõ trơn nhuyễn, ý biết pháp, theo đó khởi lênbệnh thức, đuổi theo vạn mối, bấy giờ ý căn không thanh tịnh,sinh ra các loạn tưởng, không thể chế ngự các ác khắp nơi đến,lại cũng không thể giữ được ý căn, không có oai nghi lễ tiết,bước lên, dừng lại, co duỗi, cúi ngước, khoác y, ôm bát, đềutrái cấm giới, 16 liền bị đồng phạm hạnh bắt gặp quở trách chỉtrích rằng: ‘Ôi, người ngu này giống như Sa-môn!’ Nó bị chỉtrích, hạch tội: ‘Nếu là Sa-môn đáng ra không nên như vậy.!’Nhưng nó tự nói: ‘Tôi là Sa-môn!’ Giống như con lừa vàotrong bầy trâu. Đó gọi là người giống lừa.
“Kia, sao gọi là giống bò? Có một người cạo bỏ râu tóc, mặc bapháp y, vì lòng tin kiên cố xuất gia học đạo. Bấy giờ người kiacác căn tịch định, ăn uống biết tiết chế, kinh hành cả ngày chưatừng lìa bỏ, ý nghĩ đến pháp ba mươi bảy đạo phẩm. Khi mắtthấy sắc, người ấy không khởi sắc tưởng, niệm cũng khôngdong ruổi. Bấy giờ nhãn căn thanh tịnh, sinh ra các tưởng thiện,cũng có thể chế ngự không còn các thứ ác nữa, thường phòng hộ
________________________
16 Hán: chấp trì cấm giới 執持禁戒, đoạn văn bị nhảy sót. Y theo văn mạch trên, sửa lại.
nhãn căn. Tai đối tiếng, mũi đối mùi, lưỡi đối vị, thân đốitrơn nhuyễn, ý đối [580a01] pháp, không khởi lên bệnh thức,bấy giờ ý căn thanh tịnh. Người kia liền đến chỗ các vị đồngphạm hạnh. Các vị đồng phạm hạnh từ xa trông thấy đến, aicũng đều kêu lên: ‘Thiện lai, đồng học!’ Tùy thời cúng dườngkhông để thiếu. Giống như bò tốt vào trong đàn bò, mà tự xưng:‘Hiện tại ta là bò.’ Vì lông, đuôi, tai, sừng, âm thanh của nó tấtcả đều đúng là bò. Những con bò khác thấy đều đến liếm mìnhnó. Ở đây, cũng như vậy, người ấy cạo bỏ râu tóc, mặc ba phápy, vì lòng tin kiên cố xuất gia học đạo. Bấy giờ, các căn ngườiấy tịch định, ăn uống biết tiết chế, kinh hành cả ngày chưa từnglìa bỏ, ý nghĩ đến pháp ba mươi bảy đạo phẩm. Khi mắt thấysắc, không khởi sắc tưởng, niệm cũng không dong ruổi. Bấygiờ nhãn căn được thanh tịnh, sinh ra các tưởng thiện, cũng cóthể chế ngự không còn các thứ ác nữa, thường ủng hộ nhãn căn.Tai đối tiếng, mũi đối mùi, lưỡi đối vị, thân đối trơn nhuyễn, ýđối pháp, không khởi lên bệnh thức, bấy giờ ý căn được đầy đủ.Người này gọi là giống bò.
“Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học như bò, chớ giống nhưlừa. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 5
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo
“Nay Ta sẽ nói về thiện hành, bất thiện hành. Hãy lắng nghe,lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Xin vâng, Thế Tôn!”
Thế Tôn bảo:
“Kia, sao gọi là bất thiện? Sao gọi là thiện? Sát sinh là bất thiện,không sát sinh là thiện. Không cho mà lấy là bất thiện, cho mớilấy là thiện. Dâm dật là bất thiện, không dâm dật là thiện. Nóidối là bất thiện, không nói dối là thiện. Nói thêu dệt là bất thiện,không nói thêu dệt là thiện. Hai lưỡi là bất thiện, không hailưỡi là thiện. Loạn đấu kia đây là bất thiện, không loạn đấu kiađây là thiện. Tham của người là bất thiện, không tham củangười là thiện. Khởi sân nhuế là bất thiện, không khởi sân nhuếlà thiện. Tà kiến là bất thiện, chánh kiến là thiện. Như vậy, cácTỳ-kheo, hành những điều ác này sẽ đọa vào trong địa ngục,ngạ quỷ, súc sanh. Nếu người nào hành thiện sẽ sinh về cõingười, cõi trời, cùng các đường thiện trong A-tu-la.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy lìa xa ác hành, tu tập thiệnhành. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy [580b01] học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 6
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta sẽ nói pháp vi diệu cho các ngươi, đầu thiện, giữa thiện,cho đến cuối cũng thiện, có nghĩa, có vị, tu các pháp phạmhạnh đầy đủ. Đó là hai pháp. Hãy lắng nghe, lắng nghe, và suynghĩ kỹ, Ta sẽ nói đầy đủ cho các ngươi nghe.”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn!”
Sau khi các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy xong, Thế Tôn bảo:
“Kia, sao gọi là hai pháp? Tà kiến, chánh kiến; tà tư duy*,chánh tư duy; tà ngữ, chánh ngữ; tà nghiệp, chánh nghiệp; tàmạng, chánh mạng; tà tinh tấn*, chánh tinh tấn; tà niệm, chánhniệm; tà tam-muội, chánh tam-muội. Này các Tỳ-kheo, đó gọilà hai pháp. Nay Ta đã nói hai pháp này cho các ngươi. Nhữngđiều cần làm, nay Như Lai đã chu toàn xong. Các ngưoi hãykhéo nhớ nghĩ, quán sát, phúng tụng chớ có lười mỏi. Hiện tại,nếu người nào không hành, sau này hối không kịp.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 7
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay, Ta sẽ nói về pháp đuốc sáng, cũng sẽ nói về nhân đưađến nghiệp đạo đuốc sáng. Hãy lắng nghe, lắng nghe, hãy suynghĩ kỹ!”
Các Tỳ-kheo thưa:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn!”
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Kia, sao gọi là đuốc sáng? Diệt tận tham dâm, sân nhuế, ngusi. Kia, sao gọi là nhân đưa đến nghiệp đạo đuốc sáng? Chánhkiến, chánh tư duy*, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,chánh tinh tấn*, chánh niệm, chánh tam-muội. Đó là nhân đưađến nghiệp đạo sáng. Ta cũng nhân đây, đã nói về đuốc sáng,cũng đã nói về nhân đưa đến nghiệp đạo đuốc sáng. Nhữngviệc cần làm, nay Như Lai đã chu toàn. Các ngươi hãy khéonhớ nghĩ, phúng tụng, chớ có lười biếng. Hiện tại nếu khônghành, sau này hối không kịp.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 8
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai lực này. Thế nào là hai lực? Nhẫn lực, tư duy lực.17 Nếu Ta không có hai lực này, đã không thành Vô thượng,Chánh chơn, Đẳng chánh giác.
“Lại nữa, nếu không có hai lực này, [580c01] Ta đã không hềcó sáu năm khổ hạnh ở xứ Ưu-lưu-tỳ, lại cũng không thể hàngphục ma oán, thành đạo Vô thượng Chánh chơn ngồi nơi đạotràng. Vì Ta có nhẫn lực, tư duy lực này, nên mới có thể hàngphục chúng ma, thành đạo Vô thượng Chánh chơn ngồi nơi đạotràng.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện tu hai lựcnày: nhẫn lực, tư duy lực, để thành đạo Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, ở vô dư Niết-bàn giới mà Bát-niết-bàn. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.

KINH SỐ 9
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật trú tại Bản sinh địa,18nước Câu-thi-na-yết.19 Lúc ấy, Thích, Phạm, Tứ thiên vương
___________________________
17Cf. A. II. 2 (R. i. 52): dvemāni balāni: paṭisaṃkhānabalañ ca bhāvanābalañ ca, có hai lực: tư trạch lực và tu tập lực.
18 Bản sở sinh xứ 本所生處, tức Lực sĩ Sinh xứ, hay Sinh địa (Pāli:Upavattana), quê hương của người Mạt-la (Malla), một bộ tộc, chủ nhân củaCâu-thi-na (Pāli: Kusinārā), nơi Phật Niết-bàn. Sinh xứ (địa) hay Uapavattana cũng là tên gọi của khu rừng Sala, nơi Phật nhập Niết-bàn.
cùng nămtrăm chư thiên và, hai mươi tám đại quỷ thần vương đến chỗTôn giả A-na-luật. Đến nơi, họ đảnh lễ sát chân, rồi đứng quamột bên, lại dùng kệ này tán thán A-na-luật:
Quy mạng bậc trên người,
Đấng mọi người tôn kính;
Nay chúng tôi không biết,
Ngài đang trú thiền nào?
Khi ấy, có bà-la-môn* tên Xà-bạt-tra20 là đệ tử của Phạm-ma-dụ21 , lại đi đến chỗ Tôn giả A-na-luật, đảnh lễ sát chân, ngồiqua một bên. Bà-la-môn kia hỏi A-na-luật rằng: “Xưa kia tôi sinh tại vương cung, chưa từng nghe mùi hương tựnhiên này. Có người nào đến nơi này? Là trời rồng quỷ thần,Nhân, phi Nhân?”
A-na-luật nói với ông bà-la-môn rằng:
“Mới đây có Thích, Phạm, Tứ thiên vương cùng năm trăm chư thiên, hai mươi tám đại quỷ thần vương vừa đến chỗ tôi, đảnh lễ lễ sát chân, đứng qua một bên, lại dùng kệ này tán thán tôi:
Quy mạng bậc trên người,
Đấng mọi người tôn kính;
Nay chúng tôi không biết,
Ngài đang trú thiền nào?
______________________________
19 Câu-thi-na-kiệt 拘尸那竭國. Pāli: Kusinārā.
20 Xà-bạt-tra 闍拔吒. Xem cht. 18 tiếp theo dưới.
21 Phạm-ma-dụ 梵摩喻, xem Trung kinh 161: Phạm-ma 梵摩(Pāli:Brahmāyu), người ở Di-tát-la (Pāli: Mithila). Ông có đẹ tử là Ưu-đa-la優多羅(Pāli: Uttara). Cf Pāli, M. ii. 133. Brahmāyu-sutta.
Bà-la-môn hỏi:
“Sao nay tôi không thấy bóng dáng họ? Thích, Phạm, Tứ thiên vương đang ở chỗ nào?”
A-na-luật đáp:
“Vì ông không có thiên nhãn cho nên không thấy Thích, Phạm, Tứ thiên vương cùng năm [581a01] trăm chư thiên, hai mươi tám đại quỷ thần vương.”
Bà-la-môn hỏi:
“Nếu tôi được thiên nhãn, có thể thấy Thích, Phạm, Tứ thiên vương cùng năm trăm chư thiên, hai mươi tám đại quỷ thần vương không?”
A-na-luật đáp:
“Nếu ông được thiên nhãn, ông có thể thấy Thích, Phạm, Tứ thiên vương cùng năm trăm chư thiên, hai mươi tám đại quỷ thần vương. Nhưng, này bà-la-môn, thiên nhãn này nào đủ để cho là lạ. Có Phạm thiên tên là Thiên Nhãn. Ông ấy thấy nghìn thế giới này. Như người có mắt tự xem mũ báu của mình trong lòng bàn tay. Phạm thiên vương này cũng như vậy, thấy nghìn thế giới này không có chướng ngại. Nhưng vị Phạm thiên này không tự thấy y phục mặc trên người mình.”
Bà-la-môn hỏi:
“Vì sao Phạm thiên Thiên Nhãn không tự thấy đồ phục sức mang trên người mình?”
A-na-luật đáp:
“Vì vị Thiên kia không có con mắt trí tuệ vô thượng, nên không thể tự thấy đồ phục sức mang ở trên người mình.”
Bà-la-môn hỏi:
“Nếu tôi được con mắt trí tuệ vô thượng, có thấy đồ phục sức mang trên thân này hay không?”
A-na-luật đáp:
“Nếu ông có thể được con mắt trí tuệ vô thượng, ông có thể thấy đồ phục sức mang trên thân mình.”
Bà-la-môn hỏi:
“Xin Tôn giả nói pháp cực diệu cho tôi nghe, để tôi đạt được mắt trí tuệ vô thượng.”
A-na-luật bảo:
“Ông có giới không?”
Bà-la-môn hỏi:
“Thế nào là giới?”
A-na-luật nói:
“Không tạo các tội, không phạm phi pháp.”
bà-la-môn thưa:
“Nếu giới như vậy, tôi kham vâng giữ giới này.”
A-na-luật nói:
‘Này bà-la-môn, nay ông hãy giữ giới cấm không một mảymay khuyết thất, và cũng nên từ bỏ kết sử kiêu mạn, chớ chấpngô, ngã, sinh tưởng đắm nhiễm.”
Lúc đó, bà-la-môn lại hỏi A-na-luật:
“Sao là ngô? Sao là ngã? Sao là kết sử kiêu mạn?”
A-na-luật nói:
“Ngô là thần thức. Ngã là đầy đủ hình thể.22 Ở trong đó khởithức sinh ngô ngã, đó là kết kiêu mạn.
“Cho nên, này bà-la-môn, hãy tìm cầu phương tiện loại trừ cáckết này. Này bà-la-môn, hãy học điều này như vậy."
Bà-la-môn liền rời chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân A-na-luật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi. Trên đường chưa đến nhà,ông tư duy về nghĩa này, tức thì các trần cấu sạch hết, được conmắt pháp thanh tịnh.
Bấy giờ, có vị trời xưa kia là bạn thân của bà-la-môn này, biếttrong tâm của bà-la-môn mọi trần cấu đã được dứt sạch, đượccon mắt pháp [581b01] thanh tịnh. Vị trời kia lại đến chỗ Tôn giả A-na-luật, đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên, liền dùng kệnày tán thán A-na-luật:
Bà-la-môn chưa đến nhà,
Giữa đường được dấu đạo;
Trần cấu, pháp nhãn tịnh,
Không nghi, không do dự.
Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật dùng kệ báo vị trời kia:
Ta trước quán tâm kia,
Trung gian ứng dấu đạo;
Kia, thời Phật Ca-diếp,
Từng nghe dạy pháp này.
Bấy giờ Tôn giả A-na- luật rời khỏi nơi ấy, du hành trong Nhângian, lần hồi đến chỗ Thế Tôn. Đảnh lễ sát chân, rồi ngồi luiqua một bên. Thế Tôn dùng pháp ngữ dạy A-na-
____________________
22 Có lẽ đây là lối diễn giải thêm của dịch giả chứ không phải trực tiếp dịch từ nguyên bản Phạn
luật đầy đủ. A-na-luật sau khi thọ trì lời Phật dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnhlễ sát chân rồi thối lui.
Bấy giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Đệ tử trong hàng Thanh văn của Ta, người được thiên nhãn đệnhất, đó chính là Tỳ-kheo A-na-luật.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

KINH SỐ 10
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Tôn giả La-hầu-la23 , phụng trì giới cấm, không điều vi phạm, tội nhỏ còn tránh huống là lớn; nhưng tâm không giải thoát khỏi hữu lậu. Bấy giờ các Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi lui qua một bên. Các Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
“Tỳ-kheo La-hầu-la phụng trì giới cấm, không điều vi phạm; nhưng tâm không giải thoát khỏi hữu lậu.”
Bấy giờ Thế Tôn liến nói kệ này:
Pháp giới cấm đầy đủ;
Các căn cũng thành tựu;
Dần dần sẽ đạt được,
Sạch hết cả kết sử.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy luôn nhớ nghĩ tu tập chánh pháp không có sơ sót. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
_______________________
23 Nguyên trong bản: La-vân 羅雲.
Các Tỳ-kheo sau nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụnghành.
Kệ tóm tắt:
Nan-đà, Niết-bàn, quạ,
Lừa, bất thiện có hai,
Xúc, và nhẫn tư duy,
bà-la-môn và La-hầu-la.
/25
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »