
4. PHẨM ĐỆ TỬ1
KINH SỐ 1
[557a17] Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, người có lòng nhân rộng rãi, hiểu biết rộng, hay khéo khuyến hóa, nuôi dưỡng Thánh chúng không mất oai nghi, đó là Tỳ-kheo A-nhã-câu-lân.2 Nhận pháp vị đầu tiên, tư duy về tứ đế cũng là Tỳ-kheo A-nhã-câu-lân.
“Hay khéo khuyên bảo, hướng dẫn tạo phước và độ mọi người, chính là Tỳ-kheo Ưu-đà-di.3
“Trong hàng chóng thành tựu thần thông, nửa chừng không thối chuyển, đó chính là Tỳ-kheo Ma-ha-nam.4
“Thường bay giữa hư không, chân không đạp đất, chính là Tỳ-kheo Thiện Trửu.5
“Gặp dịp thì giáo hóa, ý không cầu vinh, đó chính là Tỳ-kheo Bà-phá.6
“Sống vui trên trời, không ở trong loài người, chính là Tỳ-kheo Ngưu Tích.7
______________________
1 Tham chiếu Pāli, A. 1. 14. Etadaggavaggo.
2 A-nhã Câu-lân 阿若拘鄰. Pāli: Aññākoṇḍañña (A-nhã Kiều-trần-như),
3 Ưu-đà-di 優陀夷. Pāli: Udāyī.
4 Ma-ha-nam 摩訶男. Pāli: Mahānāma.
5 Thiện Trửu (Chẩu) 善肘. Pāli: Subāhu.
6 Bà-phá 婆破. Pāli: Vappa.
“Hằng quán tưởng bất tịnh ghê tởm, đó chính là Tỳ-kheo Thiện Thắng.8
“Nuôi dưỡng Thánh chúng, tứ sự cúng dường, chính là Tỳ-kheo Ưu-lưu-tỳ Ca-diếp.9
“Tâm ý lặng lẽ, hàng phục các kết, chính là Tỳ-kheo Giang Ca-diếp.10
“Quán rõ các pháp, không bị đắm trước, chính là Tỳ-kheo Tượng Ca-diếp.11
[557b01]
Kệ tóm tắt :
Câu-lân, Đà-di, Nam,
Thiện Trửu, Bà thứ năm;
Ngưu Tích cùng Thiện Thắng,
Ba anh em Ca-diếp.
KINH SỐ 2
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, có oai nghi đoan chánh, bước đi khoan thai, chính là Tỳ-kheo Mã Sư.12
Trí tuệ không cùng, giải tỏa các nghi, chính là Tỳ-kheo Xá-lợi-phất.13
________________________
7 Ngưu Tích 牛跡. Pāli: Gavampati (Kiều-phạm-bà-đề).
8 Thiện Thắng 善勝. Pāli: Uttara.
9 Ưu-lưu-tì-Ca-diếp 優留毘迦葉. (Ưu-lâu-tần-loa-Ca-diếp). Pāli: Uruvela-Kassapa.
10 Giang Ca-diếp 江迦葉.. Pāli: Nadī-Kassapa (Na-đề Ca-diếp).
11 Tượng Ca-dếip 象迦葉. Pāli: Gayā-Kassapa (Già-da Ca-diếp).
12 Mã Sư 馬師. Pāli: Assajit.
Thần túc nhẹ bay đến tận mười phương, chính là Tỳ-kheo Đại Mục-kiền-liên.14
Dõng mãnh tinh tấn, cam chịu khổ hạnh, chính là Tỳ-kheo Nhị Thập Ức Nhĩ.15
Thực hành mười hai đầu-đà khó hành, chính là Tỳ-kheo Đại Ca-diếp.16
Đệ nhất thiên nhãn, thấy tận cõi mười phương, chính là Tỳ-kheo A-na-luật.17
Ngồi thiền nhập định, tâm không tán loạn, chính là Tỳ-kheo Ly-viết.18
Thường khuyên mọi người làm gương bố thí, thiết lập trai giảng,19 chính là Tỳ-kheo Đà-la-bà-ma-la.20
Tạo lập phòng ốc, nhà cửa cho Tăng mười phương, chính là Tỳ-kheo Tiểu Đà-la-bà-ma-la21 .
Giòng họ tôn quý xuất gia học đạo, chính là Tỳ-kheo La-tra-bà-la.22
_______________________
13 Xá-lợi-phất 舍利弗. Pāli: Sāriputta.
14 Đại Mục-kiền-liên 大目揵連. Pāli: Mahā-Moggallāna.
15 Nhị Thập Ức Nhĩ 二十億耳. Pāli: Soṇakolivīsa.
16 Đại Ca-diếp 大迦葉. Pāli: Mahā-Kassapa.
17 A-na-luật 阿那律. Pāli: Aniruddha.
18 Ly-viết 離曰. Pāli: Revata.
19 So sánh Pāli: senāsanapaññapakānaṃ, người phân phối chỗ nằm cho
Tăng. Xem Tứ phần 1 (T22n1428, tr. 587a25tt).
20 Đà-la-bà-ma-la 陀羅婆摩羅. Pāli: Dabba-Mallaputta.
21 Tiểu Đà-la-bà-ma-la 小陀羅婆摩羅. Xem cht. 20 trên.
22 La-tra-bà-la 羅吒婆羅. Pāli: Raṭṭhapāla. Nhưng A.1. 24 nói, quý tộc xuất gia (uccākulikānaṃ) là Bhaddhiya
‘Khéo phân biệt nghĩa, phô diễn đạo giáo, chính là Tỳ-kheo Đại Ca-chiên-diên.23
Kệ tóm tắt:
Mã Sư, Xá-lợi-phất,
Câu-luật,24 Nhĩ, Ca-diếp;
A-na-luật, Ly Viết,
Ma-la, Tra, Chiên-diên.
KINH SỐ 325
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta xứng đáng nhận thẻ,26 không trái phép cấm, chính là Tỳ-kheo Quân-đầu-bà-hán.27
Hàng phục ngoại đạo, thực hành chánh pháp, chính là Tỳ-kheo Tân-đầu-lô.28
___________________________
Kāligodhāyaputta. Còn Raṭṭhapāla là đệ nhất trong những Tỳ-kheo xuất gia bởi tín tâm kiên định (saddhāpabbajitānaṃ yadidam raṭṭhapālo).
23 Đại Ca-chiên-diên 大迦旃延. Pāli: Mahā-Kaccāna.
24 Câu-luật, hiệu của Đại Mục-kiền-liên, gopị theo sinh quán; Pāli: Kolitagāma.
25 Tham chiếu Phân biệt công đức luận 4, T25 No 1507.
26 Hán: thọ trù 受籌 (Pāli: salāka), đây chỉ thẻ chia phần ăn cho các tỳ-kheo.
26 Để bản chép như sách mạc, nên sửa lại như sách hán ; Quân-đầu-bà-hán . Pāli: Kuṇḍdhāhana . AA. i. 146 giải thích :Kuṇḍdhāhanalà người nhận thẻ số 1 trong buổi cúng dường của Mahā-Subhaddā, con gái trưởng của Ông Cấp Cô Độc, trong ngày cưới chồng.
27 Tân-đầu-lô 賓頭盧. Pāli: Piṇḍola-Bhāradvāja. A.i. 24: đệ nhất sư tử hống (sīhanādiknaṃ)
Chăm sóc bệnh tật, cung cấp thuốc thang, chính là Tỳ-kheo Sấm.29 Tứ sự cúng dường, y phục đồ ăn thức uống, cũng là Tỳ-kheo Sấm*.
Hay làm kệ tụng, tán thán đức của Như Lai, chính là Tỳ-kheo Bằng-kỳ-xá.30 Lời lẽ biện luận rõ ràng trôi chảy, cũng là Tỳ-kheo Bằng-kỳ-xá.
Được bốn biện tài, trả lời khi bị vấn nạn, chính là Tỳ-kheo Ma-ha Câu-hy-la.31
Sống nơi vắng vẻ thanh tịnh, không thích gần gũi con người, chính là Tỳ-kheo Kiên Lao.32
Khất thực nhẫn nại, không tránh nóng lạnh, chính là Tỳ-kheo Nan-đề.33
Tĩnh tọa một nơi, chuyên tâm niệm đạo, chính là Tỳ-kheo Kim-tỳ-la.34
Ngồi một lần ăn một bữa,35 không di chuyển chỗ, chính là Tỳ-kheo Thi-la.36
Giữ gìn ba y, không rời khi ăn khi nghỉ, chính là Tỳ-kheo Phù-di.37
_______________________________
2 9 Sấm 讖; để bản: Thức 識. Có lẽ Pāli: Khema, được nói đến trong S.iii. 126.
30 Bằng-kỳ-xá 鵬耆舍. Pāli: Vaṅgīsa.
31 Ma-ha Câu-hy-la 摩訶拘絺羅. Mahā-Koṭṭhika.
32 Kiên Lao 堅牢.
33 Nan-đề 難提. Pāli: Nandiya.
34 Kim-tỳ-la 今毘羅. Pāli: Kimbila.
35 Chỉ hành đầu đà nhất tọa thực. Pāli: ekāsanika.
36 Thi-la 施羅.
37 Phù-di 浮彌.
Kệ tóm tắt: [557c01]
Quân-đầu, Tân-đầu-lô,
Thức, Bằng, Câu-hy-la;
Kiên Lao, cùng Nan-đề,
Kim-tỳ, Thí-la, Di.
KINH SỐ 4
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, tọa thiền dưới ggóc cây, ý không di chuyển, ̣chính là Tỳ-kheo Hồ nghi Ly-viết.38
Khổ thân ngồi giữa trời, không tránh nắng mưa, chính là Tỳ-kheo Bà-ta.39
Vui một mình nơi vắng vẻ, chuyên tâm tư duy, chính là Tỳ-kheo Đà-tố.40
Khoác y năm mảnh41 , không mặc đồ tốt đẹp, chính là Tỳ-kheo Ni-bà.42
Thường thích nơi gò mả, không ở nơi gần người, chính là Tỳ-kheo Ưu-đa-la.43
____________________
38 Hồ nghi Ly-viết 狐疑離. Pāli: Kaṅkhā-Revata.
39 Bà-ta 婆嗟.
40 Đà-tố 陀素.
41 Ngũ nạp y 五納衣: y năm mảnh; cơ bản chỉ y năm điều, tức năm mảnh ghép lại; nhưng cũng chỉ chung tất cả loại y cắt rọc; hoặc gọi tắt là nạp y.
42 Ni-bà 尼婆.
43 Ưu-đa-la 優多羅. Pāli: Uttara?
Thường ngồi nệm cỏ, ban ngày làm phước độ người44, chính là Tỳ-kheo Lô-hê-ninh. 45
Không nói chuyện với người, nhìn xuống đất mà đi, chính là Tỳ-kheo Ưu-kiềm-ma-ni-giang.46
Ngồi dậy, bước đi thường ở trong tam-muội, chính là Tỳ-kheo San-đề.47
Thích du hành nước xa, dạy dỗ mọi người, chính là Tỳ-kheo Đàm-ma-lưu-chi.48
Ưa họp Thánh chúng, bàn luận pháp vị, chính là Tỳ-kheo Ca-cừ 49.
Kệ tóm tắt:
Hồ-nghi, Bà-ta, Ly,
Đà-tô, Bà, Ưu-đa;
Lô-hê, Ưu-ca-ma,
Tức, Đàm-ma-lưu, Lệ.
_____________________________
44 nhật phước độ nhân, không rõ nghĩa. Có lẽ nhật đọc là như sách viết : ‘Nói rằng, đệm có là thước độ người’. Phâm biệt công thức đoạn 4 (T25 tr45a14) : Tỳ-kheo Lô-hê-minh, đệ nhất những người có đệm cỏ, khi được người cho đệm cỏ thì lạy đệm cỏ, nói rằng. Tôi nhờ cả đệm có mà trừ sạch kết sử.
45 Lô-hê-ninh 盧醯甯.
46 Ưu-kiềm-ma-ni-giang 優鉗摩尼江.
47 San-đề 刪提; bản Tống: Na-đề 那提. Trong kệ tóm tắt, gọi là Tức 息, cho thấy Pāli: Sānti. Nhưng chưa tìm thấy đâu trong tư liệu nào Pāli. Phân biệt công đức luận 4, T25, tr. 45b3 : như sách. Tỳ-kheo Nhất tâm, tam-muội để nhất.
48 Đàm-ma-ni-giang Pāli: Dhammaruci
49 Để chép bản như sách Ca lệ. Phân biệt công đức luận, dẫn trên : Tỳ-kheo Ca cừ như sách đệ nhất tập hợp chúng để thuyết giáo.
KINH SỐ 5
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta có thọ mạng lâu dài, quyết không chết yểu, chính là Tỳ-kheo Bà-câu-la.50
Thường thích chỗ nhàn cư, không thích ở giữa đám đông, cũng chính là Tỳ-kheo Bà-câu-la.
Hay nói pháp rộng rãi, phân biệt nghĩa lý, chính là Tỳ-kheo Mãn Nguyện Tử.51
Vâng giữ giới luật, không điều trái phạm, chính là Tỳ-kheo Ưu-ba-ly.52
Được tín giải thoát, ý không do dự, chính là Tỳ-kheo Bà-ca-lợi.53
Thân thể to lớn, đẹp đẽ khác hẳn thế gian, chính là Tỳ-kheo Nan-đà.54 Các căn tịch tĩnh, tâm không biến dịch, cũng chính là Tỳ-kheo Nan-đà.
Biện tài nhạy bén, giải thông nghi trệ cho người, [558a01] chính là Tỳ-kheo Bà-đà.55
___________________________________
50 Bà-câu-la 婆拘羅. Pāli: Bakkula.
51 Mãn Nguyện Tử 滿願子. Pāli: Puṇṇa Mantāniputta.
52 Ưu-ba-ly 優波離. Pāli: Upāli.
53 Bà-ca-lợi 婆迦利. Pāli: Vakkalī. Nhân duyên, xem đoạn sau, phẩm 26 kinh số 10. Tham chiếu, Tạp 47, Hán kinh số 1265 ; Việt kinh số 925 ;Pāli S. 22. 87. Vakkalī ; Phân biệt công đức luận 4, dẫn trên tr.46c23
54 Nan-đà 難陀. Pāli: Nanda.
55 Bà-đà 婆陀.
Hay nói rộng nghĩa lý, không có trái nghịch, chính là Tỳ-kheo Tư-ni.56
Thích mặc áo tốt, hành vốn thanh tịnh, chính là Tỳ-kheo Thiên Tu-bồ-đề.57
Thường thích dạy dỗ những kẻ hậu học, chính là Tỳ-kheo Nan-đà-ca.58
Khéo dạy cấm giới cho Tỳ-kheo-ni, chính là Tỳ-kheo Tu-ma-na.59
Kệ tóm tắt:
Bà-câu, Mãn, Ba-ly,
Bà-ca-lợi, Nan-đà,
Đà, Ni, Tu-bồ-đề,
Nan-đà, Tu-ma-na.
KINH SỐ 6
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta có công đức tràn đầy, nhu yếu không thiếu, chính là Tỳ-kheo Thi-bà-la.60
_________________________
56 Tư-ni 斯尼.
57 Thiên Tu-bồ-đề 天須菩提. Phân biệt công đức luận, đã dẫn : có hai vị cùng tên Tu-bồ-đề một xuất thân vương tộc, một trưởng giả. Tu-bồ-đề vương tộc đệ nhất mặc đẹp. Vị này hình như không có trong như sách.
58 Nan-đà-ca 難陀迦. Pāli: Nandaka. A.i. 25: Đệ nhất giáo thọ Tỳ-kheo-ni (bhikkunovādakānaṃ) là Nandaka.
59 Tu-ma-na 須摩那.
Đầy đủ các hành pháp đạo phẩm, chính là Tỳ-kheo Ưu-ba-tiên Ca-lan-đà Tử.61
Mọi điều nói ra đều vui hòa, không làm thương tổn ý người, chính là Tỳ-kheo Bà-đà-tiên.62
Tu tập an-ban, tư duy bất tịnh ghê tởm, chính là Tỳ-kheo Ma-ha Ca-diên-na.63
Chấp ngã vô thường, tâm không có tưởng, chính là Tỳ-kheo Ưu-đầu-bàn.64
Hay luận bàn về mọi thứ, làm vui tâm thức, chính là Tỳ-kheo Câu-ma-la Ca-diếp.65
Mặc áo xấu tệ, mà không gì hổ thẹn, chính là Tỳ-kheo Diện Vương.66
Không hủy phạm cấm giới, đọc tụng không lười, chính là Tỳ-kheo La- vân.67
_____________________________
60 Thi-bà-la 尸婆羅. Pāli, A.1. 24: Sīvala, lợi dưỡng đệ nhất (lābhīnaṃ).
61 Ưu-ba-tiên Ca-lan-đà Tử 優波先迦蘭陀子. Có lẽ Pāli, Upasena Vaṅgantaputta, em trai ngài Xá-lợi-phất, hành giả đầu-đà. A.i. 24 nói, Upasena này là đệ nhất trong các Tỳ-kheo oai nghiêm (samantapāsādikānaṃ).
62 Bà-đà-tiên 婆陀先.
63 Ma-ha Ca-diên-na 摩訶迦延那.
64 Ưu-đầu-bàn 優頭槃.
65 Câu-ma-la Ca-diếp 拘摩羅迦葉. A.i. 24: Đệ nhất có lời nói làm đẹp lòng người (cittakathikānaṃ) là Kumārakassapa. Xem Trường 7, kinh số 7 Tệ-tú.
66 Diện Vương 面 王. Tham chiếu, A.i.25: Thọ trì y phục thô xấu (lūkhacīvaradhārānaṃ) la Mogharājāti.
67 A.i. 24: Rāhula, đệ nhất siêng học (sikkhākāmānaṃ).
Dùng sức thần túc, hay tự ẩn mình, chính là Tỳ-kheo Bàn-đặc68 .
Hay thay hình đổi dạng, tạo mọi thứ biến hóa, chính là Tỳ-kheo Châu-lợi Bàn-đặc.69
Kệ tóm tắt:
Thi-bà, Ưu-ba-tiên,
Bà-đà, Ca-diên-na,
Ưu-đầu, Vương, Ca-diếp,
La-hầu-la, hai Bàn-đặc.
KINH SỐ 7
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta thuộc hào tộc phú quý, thiên tánh nhu hòa, chính là Tỳ-kheo Thích Vương.70
Khất thực không chán đủ, giáo hóa không cùng, chính là Tỳ-kheo Bà-đề-bà-la.71
Khí lực cường thạnh, không gì sợ khó, cũng là Tỳ-kheo Bà-đề-bà-la.
_______________________
68 Để bản: Ban-thố 般兔. TNM: Bàn-đặc 槃特. Tham chiếu, A.i. 24: Mahā-Panthaka, thiện xảo hồi chuyển các tưởng (saññāvivaṭṭakusalānaṃ).
69 Châu-lợi Bàn-thố (đặc) 周利般兔 . Pāli: Cūḷa-Panthaka, A.i.24: đệ nhất biến hóa ý thành thân (manomayaṃ kāyaṃ abhinimmiantānaṃ).
70 Thích Vương 釋王. Có lẽ chỉ Pāli Bhaddhiya Kāligodhāputta, nguyên là ông hoàng họ Thích.
71 Bà-đề-bà-la 婆提婆羅
Âm thanh trong suốt vang đến Phạm thiên, chính là Tỳ-kheo La-bà-na-bà-đề. 72
Thân thể thơm tinh khiết tỏa ra bốn phía, chính là Tỳ-kheo Ương-ca-xà.73
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, biết thời, rõ vật, chỗ đến không nghi, điều được nhớ không quên, nghe nhiều xa rộng, khả năng phụng sự bậc trên, chính là Tỳ-kheo A-nan.74
Phục sức trang nghiêm, nhìn bóng bước đi, chính là Tỳ-kheo Ca-trì-lợi.75
Các vua kính hầu, quần thần cung kính, chính là Tỳ-kheo Nguyệt Quang.76
Trời Người phụng sự, [558b01] thường đến chầu hầu, chính là Tỳ-kheo Thâu-đề.77
Đã bỏ hình người, tướng mạo giống trời, cũng là Tỳ-kheo Thâu-đề.
Bậc Thầy hướng dẫn chư Thiên, chỉ trao chánh pháp, chính là Tỳ-kheo Thiên.78
Tự nhớ mọi việc vô số kiếp đời trước, chính là Tỳ-kheo Quả Y.79
__________________________
72 La-bà-na-bà-đề 羅婆那婆提. Tham chiếu, A.i.23: đệ nhất có âm thanh dịu dàng (mañjussarāṃ) là Lakuṇḍka Bhaddiya.
73 Ương-ca-xà 鴦迦闍.
74 A-nan 阿難.
75Ca-trì-lợi 迦持利.
76 Nguyệt Quang 月光. Pāli: Jotika (Jotiya).
77 Thâu-đề 輸提.
78Thiên 天.
Kệ tóm tắt:
Thích Vương, Bà-đề-ba,
La-bà, Ương-ca-xà;
A-nan, Ca, Nguyệt Quang,
Thâu-đề, Thiên, Bà-hê.80
KINH SỐ 8
“Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta có thể tánh lợi căn, trí tuệ sâu xa, ̣chính là Tỳ-kheo Ương-quật-ma. 81
Thường hàng tà nghiệp của phục ma, ngoại đạo, chính là Tỳ-kheo Tăng-ca-ma.82
Nhập thủy tam-muội không lấy làm khó, chính là Tỳ-kheo Chất-đa Xá-lợi-phất.83
Những hiểu biết rộng rãi, là được mọi người kính nhớ, cũng là Tỳ-kheo Chất-đa Xá-lợi-phất.
____________________________
79 Quả Y 果衣. Có lẽ Pāli: Bāhiya-Dārucīriya, người lấy vỏ cây làm áo. Nhưng, A.i. 24 nói ngài là đệ nhất thần thông nhanh chóng. (khippābhiññānaṃ), trong khi đó, đệ nhất nhớ nhiều đời trước (pubbenivāsaṃ anussarantānaṃ) là Sobhita.
80 Bà-hê, phiên âm Bāhiya 婆醯, tức Quả Y ở trên.
81 Ương-quật-ma 鴦掘魔. Pāli: Aṅgulimāla.
82 Tăng-ca-ma 僧迦摩. Pāli: Saṅgāmaji. Xem đoạn sau, phẩm 35 kinh số 10.
83 Chất-đa Xá-lợi-phất 質 多 舍 利 弗 . Caitta (Hatthirohaputta = Hatthisāriputta).
Nhập hỏa tam-muội chiếu khắp mười phương, chính là Tỳ-kheo Thiện Lai.84
Hay hàng phục rồng khiến phụng sự tam bảo, chính là Tỳ-kheo Na-la-đà.85
Hàng phục quỷ thần cải ác tu thiện, chính là Tỳ-kheo Quỷ-đà.86
Hàng phục Càn-đạp-hòa khiến cần thực hành hạnh lành, chính là Tỳ-kheo Tỳ-lô-giá.87
Thường vui với định Không, phân biệt nghĩa Không, chính là Tỳ-kheo Tu-bồ-đề.88
Chí ở nơi không vắng, nghiệp đức vi diệu, cũng là Tỳ-kheo Tu-bồ-đề.89
Thực hành định vô tưởng, trừ bỏ các niệm, chính là Tỳ-kheo Kỳ-lợi-ma-nan.90
__________________
84 Thiện Lai 善來. Pāli, A.i. 25: đệ nhất thiện xảo với hỏa giới tam-muội là Sāgata (tejodhātukusalānaṃ yadidaṃ sāgato). Bản Hán đọc là Sugāta. Tỳ-kheo này hàng phục được con độc long bằng hỏa quang tam muội. Xem Tứ phần, tr. 671c. Vin. iv. 108.
85 Có thể đồng nhất với Trưởng lão Nārada của Pāli, được kể trong các sớ giải của Petavatthu (Ngạ quỷ sự) và Vimāvatthu (Thiên cung sự).
86 Có thể đồng nhất vơi Trưởng lão Bhūta của Pāli, người mà tất cả các anh chị đều bị một con quỷ dạ-xoa ăn thịt.
87 Tỳ-lô-giá 毘盧遮.
88 Tu-bồ-đề 須菩提. Pāli: Subhūti.
89 A.i. 24: đệ nhất lâm trụ (a-lan-nhã hạnh hay vô tránh hạnh), và đệ nhất ứng cúng, là Tu-bồ-đề (araṅavihārinām, dakkhiṇeyyaṃ, Subhūti).
90 Kỳ-lợi-ma-nan 耆利摩難. Đồng nhất với Girimānanda của Pāli.
Nhập định vô nguyện, ý không tán loạn, chính là Tỳ-kheo Diệm Thạnh.91
Kệ tóm tắt:
Ương-quật, Tăng-ca-ma,
Chất-đa, Bà,92 Na-la,
Duyệt-xoa,93 Phù-lô-giá,94
Thiện nghiệp95 Ma-nan, Diệm.96
KINH SỐ 9
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, nhập từ tam-muội, tâm không phẫn nộ, chính là Tỳ-kheo Phạm-ma-đạt.97
Nhập bi tam-muội, thành tựu bổn nghiệp, chính là Tỳ-kheo Tu-thâm.98
Được đức của thiện hành99, không có các thứ tưởng, chính là Tỳ-kheo Sa-di-đà. 100
__________________________
91 Diệm Thạnh 焰盛.
92 Để bản: bà 婆. TNM: thiện 善 (lai), tức Thiện Lai nói trên.
93 Âm khác của dạ-xoa (Pāli: Yakkha, Skt. Yakṣa), liên hệ đến Quỷ-đà, xem cht. 82 trên.
94 Phù-lô-giá 浮盧遮, tức Tỳ-lô-giá nói trên.
95 Thiện Nghiệp 善業, tức Tu-bồ-đề nói trên.
96 Để bản: cập Ma-nan 及摩難, thiếu Diệm Thạnh.
97 Có thể đồng nhất với Trưởng lão Brahmadatta của Pāli.
98 Pāli. Susīma, nguyên là xuất gia ngoại đạo, được đề cập nhiều chỗ trong Tương ưng bộ. Xem Tạp, các kinh 346, 373, 1220.
99 Để bản: hỷ hành 喜行. TNM: thiện hành 善行.
Thường giữ gìn tâm, ý không xả ly, chính là Tỳ-kheo Dược-ba-ca.101
Hành diệm thạnh tam-muội, trọn không giải đãi, chính là Tỳ-kheo Đàm-di.102
Ngôn ngữ thô lỗ, không kể bậc tôn quý, chính là Tỳ-kheo Tỉ-lợi-đà-bà-giá.103
Nhập kim quang tam-muội, cũng là Tỳ-kheo Tỉ-lợi-đà-bà-giá.
Nhập kim cương tam-muội, không thể bị phá hoại, [558c01] chính là Tỳ-kheo Vô Uý.104
Những gì nói ra dứt khoát rõ ràng, trong lòng không khiếp nhược, chính là Tỳ-kheo Tu-nê-đa.105
Thường thích nơi tịch tĩnh, ý không trú nơi loạn động, chính là Tỳ-kheo Đà-ma.106
Nghĩa thì không ai thắng, không hề bị khuất phục, chính là Tỳ-kheo Tu-la-đà.107
Kệ tóm tắt:
Phạm-đạt, Tu-thâm-ma,
________________________________________
100 Sa-di-đà 娑彌陀.
101 Dược-ba-ca 躍波迦.
102 Đàm-di 曇彌.
103 Tỉ-lợi-đà-bà-giá 比利陀婆遮.
104 Vô Uý 無畏.
105 Tu-nê-đa 須泥多.
106 Đà-ma 陀摩.
107 Tu-la-đà 須羅陀.
Sa-di, Dược, Đàm-di,
Tỳ108 -lợi-đà, Vô Uý,
Tu-nê-đà, Tu-la.
KINH SỐ 10
Tỳ-kheo đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, hiểu rõ tinh tú, biết trước cát hung, chính là Tỳ-kheo Na-già-ba-la. 109
Thường vui tam-muội, thiền duyệt làm thức ăn, chính là Tỳ-kheo Bà-tư-tra.110
Thường lấy hỷ làm thức ăn, chính là Tỳ-kheo Tu-dạ-xa. 111
Thường hành nhẫn nhục, vật đối đến tâm không khởi, chính là Tỳ-kheo Mãn Nguyện Thạnh Minh.112
Tu tập nhật quang tam-muội, chính là Tỳ-kheo Di-hề.113
Rõ phép toán thuật, không có sai lầm, chính là Tỳ-kheo Ni-câu-lưu.114
____________________________________
108 Tỳ 毘, trên kia chép là tỷ 比.
109 Na-già-ba-la 那伽波羅. Có thể đồng nhất Na-già-ba-la trong Tạp, kinh 1232, một thời làm thị giả Phật ban đêm giả làm quỷ Ma-cưu-la để nhát Phật.
110 Bà-tư-tra 婆私吒. Có thể đồng nhất với Bà-tất-tra婆悉吒, Trường kinh 5, Trung kinh 154; Pāli: Vāseṭṭha, D. 27. Aggañña.
111 Tu-dạ-xa 須夜奢.
112 Mãn Nguyện Thạnh Minh 滿願盛明.
113 Di-hề 彌奚.
Trí tuệ bình đẳng phân biệt, thường không quên mất, chính là Tỳ-kheo Lộc-đầu.115
Đắc điện lôi tam-muội, lòng không sợ hãi, chính là Tỳ-kheo Địa.116
Quán rõ gốc rễ của thân, chính là Tỳ-kheo Đầu-na.117
Thủ chứng được lậu tận thông tối hậu, chính là Tỳ-kheo Tu-bạt.118
Kệ tóm tắt:
Na-ca,119 Tra, Xá Na,120
Di-hề, Ni-câu-lưu;
Lộc-đầu, Địa, Đầu-na,
Tu-bạt ở sau cùng.
Một trăm vị Hiền thánh này cần được quảng diễn (ở nơi khác).
_________________________
114 Ni-câu-lưu 尼拘留.
115 Lộc-đầu 鹿頭.
116 Địa 地.
117Đầu-na 頭那. Pāli: Doṇa?
118 Pāli: Subhadda, được hóa độ cuối cùng trước khi Phật nhập niết-bàn.
119 Na-ca那迦, tức Na-già-ba-la.
120 Xá na舍那, trong này có thể gồm hai tên, nhưng không thấy liện hệ tên đã nêu trên.