
THIÊN HAI PHÁP
15. PHẨM HỮU VÔ
KINH SỐ 1
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nên biết, có hai kiến này. Thế nào là hai? Đó là hữu kiến, vô kiến.1 Các Sa-môn, Bà-la-môn nào đã tập, đã đọc tụng ở nơi hai kiến chấp này, mà trọn không hề theo pháp đó, không như thật biết; thì nên biết đó không phải là Sa-môn, Bà-la-môn. Với Sa-môn thì phạm pháp Sa-môn, với Bà-la-môn thì phạm pháp Bà-la-môn. Các Sa-môn, Bà-la-môn này không bao giờ tự thân tác chứng mà tự an trú.2
“Các Sa-môn, Bà-la-môn nào đã tập, đã đọc tụng ở nơi hai kiến chấp này, mà đáng xả thì biêt xả, như thật biết, thì đó là Sa-môn trì hạnh Sa-môn; là Bà-la-môn biết hạnh Sa-môn, tự thân tác chứng mà tự an trú, và biết như thật rằng, ‘Sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, không còn tái sinh đời sau nữa.’
______________________________
1 Tham chiếu Pāli, A. II. 9. 5 (R i. 83): bhavadiṭṭhi ca vibhavadiṭṭhi ca, hữu kiến và phi hữu kiến.
2 Hán: thân tác chứng nhi tự du hý 身作證而自遊戲, tức là, tự thân chứng ngộ (chứng tri) và an trú (trong pháp đó). Ở trên kia, Hán dịch: nhi tự ngu lạc 而自娛樂; xem cht. 12 kinh 1, phẩm 12. Pāli: kāyena sacchikaraṇīyā, cf. A. ii. 182.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, đối với hai kiến này không nên tập hành, không nên đọc tụng, nên lìa bỏ tất cả. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 2
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, [577b01] rừng câyKỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai kiến này. Thế nào là hai kiến? Đó là hữu kiến, vô kiến.Thế nào là hữu kiến? Thấy dục có thật; thấy sắc có thật; thấy vô sắc có thật3 . Thế nào là thấy dục có thật? Đó là năm dục. Năm dục là những gì? Sắc được thấy bởi mắt, rất khả ái, rất khả niệm mà người đời tôn thờ chưa từng lìa bỏ. Thanh được nghe bởi tai, hương được ngữi bởi mũi, vị được nếm bởi lưỡi, mượt láng được xúc chạm bởi thân, pháp được nhận biết bởi ý. Đó là hữu kiến.
“Thế nào là vô kiến? Thấy có thường, thấy vô thường; thấy có đoạn diệt, thấy không đoạn diệt; thấy có biên, thấy không biên; thấy có thân, thấy không thân; thấy có mạng, thấy không mạng; thấy thân khác, thấy mạng khác. Sáu mươi hai kiến này gọi là vô kiến, và cũng chẳng phải là chân kiến. Đó gọi là vô kiến.
______________________
3 Hán: dục hữu kiến, sắc hữu kiến, vô sắc hữu kiến 欲有見.色有見.無色有見.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy xả bỏ hai kiến này. Như vậy,này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.
KINH SỐ 34
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai thí này. Những gì là hai? Pháp thí, tài thí. Trên hếttrong bố thí, không gì hơn pháp thí.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, thường nên học pháp thí. Như vậy,này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.
KINH SỐ 45
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai nghiệp này. Thế nào là hai nghiệp? Có pháp nghiệp, có tài nghiệp.6 Trên hết trong nghiệp, không gì hơn pháp nghiệp.
__________________________
4 Tham chiếu Pāli. A. II. 13. 1 (R i. 91).
5 Tham chiếu Pāli, như trên.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, nên học pháp nghiệp, không họctài nghiệp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.
KINH SỐ 57
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai ân này. Thế nào là hai? Pháp ân, tài ân.8 Trên hết trongân, không gì hơn pháp ân.
“Cho nên, này các Tỳ-kheo, nên tu hành pháp ân. Như vậy, nàycác [577c01] Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.
KINH SỐ 6
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
_________________________
6Pháp nghiệp 法業 , tài nghiệp 財業 . Pāli, ibid. : āmisayāgo cadhammayāgo, hiến tế tài vật, và hiến tế pháp.
7 Tham chiếu Pāli, như trên.
8 Pháp ân法恩, tài ân 財恩. Pāli: āmisacāgo ca dhammacāgo ca, thi ân (huệthí) bằng tài vật và thi ân bằng pháp.
“Người ngu có hai tướng để nhận diện mạo. Những gì là hai? Ởđây, với người ngu những việc không thể làm xong mà vẫn làm,những việc làm sắp xong thì chán bỏ. 9 Này các Tỳ-kheo, đó gọilà người ngu có hai thứ tướng mạo.
“Lại nữa, Tỳ-kheo, người trí có hai tướng để nhận diện mạo.Những gì là hai? Ở đây, với người trí những việc không thểlàm xong được thì không làm, những việc làm sắp xong, cũngkhông chán bỏ.
“Cho nên, này các Tỷ-kheo, hãy gạt bỏ hai tướng của ngườingu; hãy nương hai tướng của người trí mà tu hành. Như vậy,này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷphụng hành.
KINH SỐ 7
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai pháp này, mà bên trong tự tư duy, và chuyên tinh nhấtý lễ kính Như Lai. Thế nào là hai pháp? Một là trí tuệ, hai làdiệt tận. Tỳ-kheo, đó gọi là bên trong tự tư duy, và chuyên tinhnhất ý lễ kính Như Lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy họcđiều này.”
_______________________
9 Tham chiếu Pāli, A. ii. 10.1 (R i. 84).: yo ca anāgataṃ bhāraṃ vahati, yoca āgataṃ bhāraṃ na vahati, gánh nặng chưa đến thì mang, gánh nặng đãđến lại không mang.
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 8
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai pháp này, bên trong tự tư duy, và chuyên tinh nhất ý kính lễ pháp bảo, hay kính lễ thần miếu Như Lai.10 Thế nào là hai pháp? Có lực, có vô úy. Tỳ-kheo, đó gọi là có hai pháp này, bên trong tự tư duy, và chuyên tinh nhất ý lễ kính pháp bảo, hay thần miếu Như Lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 9
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
________________________
10 Như Lai thần miếu 如來神廟. Skt. Caitya (Pāli: cetiya), thường âm làchi-đề, chế-để, chế-đa. dịch là miếu hay linh miếu. Luật Tăng-kỳ 33 (tr.498b20): “Có xá-lợi, gọi là tháp. Không có xá-lợi, gọi là chi-đề 枝提.
“Có hai pháp này, bên trong tự tư duy, và chuyên tinh nhất ý kính lễ chùa Như Lai. 11 Thế nào là hai pháp? Như Lai không đồng đẳng với người thế gian. Như Lai có đại từ, đại bi, [578a01] thương tưởng mười phương. Tỳ-kheo, đó gọi là có hai pháp này, bên trong tự tư duy, và chuyên tinh một ý lễ kính chùa Như Lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH SỐ 10
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có hai nhân, hai duyên khởi lên chánh kiến. Những gì là hai? Nhận pháp giáo hóa, bên trong tư duy chỉ quán.12 Tỳ-kheo, đó gọi là có hai nhân, hai duyên này khởi lên chánh kiến. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
_________________________
11 Như Lai tự 如來寺.
12 Tham chiếu Pāli, A. II. 15. 10 (R i. 95): samatho và vipassanā.
Kệ tóm tắt:
Hai kiến, và hai thí
Kẻ ngu có hai tướng,
Lễ pháp, miếu Như Lai,
Chánh kiến, kinh sau cùng.