Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Giới Thiệu Kinh Thủ Lăng Nghiêm

Tác giả: HT. Thích Thiện Siêu. Năm xuất bản: 2004. Số trang: 613.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm (tên đầy đủ là Đại Phật Đỉnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh, gọi tắt là Kinh Lăng Nghiêm) thuộc Mật giáo bộ trong hệ thống Hán tạng. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, kinh này nằm ở Tập 19, Kinh số 945.
Dù được xếp vào Mật giáo bộ do có chứa bài Chú Lăng Nghiêm (Bạch Tản Cái Đà La Ni) vô cùng tối thượng, nhưng về mặt tư tưởng giáo lý, Kinh Lăng Nghiêm lại là bộ kinh thượng thừa liễu nghĩa thuộc Giáo lý Đại thừa Viên đốn. Kinh chứa đựng cốt tủy tinh hoa của cả Thiền tông lẫn Tịnh Độ tông.

Vị trí đặc biệt của Kinh Thủ Lăng Nghiêm

• Kính chiếu yêu của Thiền môn: Kinh được mệnh danh là bản kinh "phá tối hiển minh", chỉ rõ bản tâm chân thật ("Chân Tâm Thường Trụ") và vạch trần chi tiết 50 cảnh giới ấm ma (ngũ uẩn ma) phá hoại người tu hành.
• Tầm quan trọng trong mạt pháp: Cố Hòa thượng Tuyên Hóa từng khai thị rằng Kinh Lăng Nghiêm chính là mạng mạch của Chánh pháp. Khi Phật pháp suy vi (thời mạt pháp), Kinh Lăng Nghiêm là bộ kinh đầu tiên bị tiêu hủy, và khi kinh này mất đi thì Chánh pháp cũng chính thức diệt tận.
• Pháp môn cốt lõi: Kinh chứa đựng hai chương tu học rất nổi tiếng là Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông (nền tảng Tịnh Độ) và Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông (nền tảng Thiền định).
(Lưu ý: Cần phân biệt bộ kinh này với một bộ kinh khác có tên gần giống là Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội - Vajrasamādhi Sūtra, nằm trong Kinh Tập bộ, Tập 15, số 642, là một bản kinh thuần túy Đại thừa nói về các đại định của Bồ Tát chứ không chứa bài Chú Lăng Nghiêm).
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về bộ kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn tìm hiểu về điển tích ngài A-nan gặp nạn Ma-đăng-già dẫn đến việc Đức Phật thuyết kinh này?
• Bạn có muốn giải thích về giáo lý "Thất xứ trưng tâm" (Bảy chỗ hỏi tâm của Đức Phật) không?

Chương 18: Tánh Thấy Là Phi Nhơn Duyên Phi Tự Nhiên, Ly Hết Thảy Tướng Và Tức Hết Thảy Pháp (Trang 266 - 267)

Tánh Thấy Là Phi Nhơn Duyên Phi Tự Nhiên, Ly Hết Thảy Tướng Và Tức Hết Thảy Pháp (Trang 266 - 267)
sáng mà có thấy, thì lẽ ra không thể thấy tối, như nhơn cái tối mà có thấy, thì lẽ ra không thể thấy sáng, như vậy cho đến nhơn cái trống không, nhơn vật ngăn bịt, cũng không hiệp lý như nhơn cái sáng hay cái tối. Lại nữa, này A-nan, cái thấy đó lại là nương cái sáng mà có thấy, nương cái tối mà có thấy, nương cái trống không mà có thấy, hay nương cái ngăn bịt mà có thấy. Này A-nan, nếu nương cái trống không mà có thấy, thì lẽ ra không thể thấy các vật ngăn bịt. Nếu nương các vật ngăn bịt mà có thấy, thì lẽ không thể thấy cái trống không, cho đến nương cái sáng, nương cái tối, cũng không hiệp lý như nương cái hư không hay nương vật ngăn bịt. Ông nên biết tính thấy (1) là như vậy, không phải nhơn, không phải duyên, cũng không phải tự nhiên, cũng không phải không tự nhiên, không có nghĩa không phải với không không phải, không có nghĩa tức là không, tức là rời hết thảy tướng, tức hết thảy pháp, làm sao ngày nay Ông lại manh tâm trong ấy, dùng những danh tướng hý luận (2) của thế gian mà phân biệt được, thế cũng như Ông lấy bàn tay rờ nắm hư không, chỉ thêm nhọc công, chớ khi nào hư không chịu để cho Ông nắm bắt.
*
Tánh thấy là phi nhơn duyên phi tự nhiên, ly hết thảy tướng và tức hết thảy pháp.
Ngài A-nan nghe Phật chỉ cái bản tánh ra ngoài các nghĩa : Thị, Phi, thì tưởng rằng Phật bác tất cả các pháp và
____________________
1 Tánh giác diệu minh : Là cái tánh diệu minh của bản giác, thường biểu lộ ra nơi lục căn.
(2) Hý luận : Lời luận trò chơi, không xác thật.



 
riêng chỉ một thể tự nhiên, nên Ông xin Phật chỉ rõ cái thể tự nhiên của Phật, đối với những cái tự nhiên của ngoại đạo như Minh đế, như Chơn ngã, khác nhau về chỗ nào. Phật biết ông A-nan còn mắc nơi vọng tưởng, điên đảo, không nhận được cái bản tánh nhất chơn thường trú, nên Phật gạn hỏi ông A-nan, bảo chỉ cái tự thể của cái thấy. Nếu cái thấy lấy cái sáng làm tự thể thời không thấy tối, lấy cái hữu hình làm tự thể thời không thấy vô hình; mà ngoài các thứ sáng tối, hữu hình, vô hình ra, thì cái thấy biết lấy gì làm tự thể. Đã không thể chỉ được cái tự thể của cái thấy, thì cái thuyết tự nhiên, không thể thành lập được.
Ngài A-nan thấy cái thuyết tự nhiên bị phá hoại, thì tưởng chắc là nhơn duyên, nên Ông lại chấp về mặt nhơn duyên, mà xin Phật chỉ rõ cái tánh nhơn duyên của cái thấy.
Phật nhơn đó lại bảo ngài A-nan chỉ rõ cái thấy, nhơn cái gì hoặc duyên cái gì mà có. Hễ nhơn cái sáng mà có, thì lại không thể thấy cái hữu hình; mà ngoài bốn thứ ấy ra, cũng không thể chỉ cái gì là nhơn duyên của cái thấy. Đã không thể chỉ cái thấy nhơn cái gì hoặc duyên cái gì mà có, thời cái thuyết nhơn duyên cũng bị phá.
Những thuyết nhơn duyên hay tự nhiên vẫn không có gì đáng bác, song Phật bác là vì muốn phá trừ chỗ chấp của ông A-nan mà thôi. vậy nên về sau, Phật lại dạy rằng cái tính giác diệu minh là phi nhơn duyên, phi bất nhơn duyên phi tự nhiên, phi bất tự nhiên, không có các nghĩa phi và bất phi, các nghĩa thị và phi thị, và Phật chỉ rõ cái tánh thấy là ly hết thảy các tướng, tức hết thảy các pháp.

 
/73
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »