Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015 - Tập IV

Tác giả: Hòa thượng - Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 766.

 

Chương 29: 401. CHUYỆN NGƯỜI NUỐT LƯỠI KIẾM - Phần 2 (trang 601-618)

401. CHUYỆN NGƯỜI NUỐT LƯỠI KIẾM
(TIỀN THÂN DASANNAKA)
Bảo kiếm Dasaṇṇci thích máu hồng...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về âm mưu quyên rũ một Tỷ-kheo do người vợ cũ gây ra.
Tỷ-kheo ấy thú nhận đã thối thất vì lý do này. Bậc Đạo sư bảo:
-   Nữ nhân ấy đã làm hại ông. Thời xưa, ông cũng đã suýt chết vì tương tư kẻ ấy. Về sau, nhờ các bậc trí ông được cứu sống lại.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi Đại vương Maddava trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh làm con một gia đình Bà-la-môn. Cha mẹ đặt tên ngài là nam tử Senaka. Khi lớn lên, ngài đi học mọi nghệ thuật tại Takkasilā, và khi về Ba- la-nại, Ngài trở thành quốc sư của vua Maddava về thế sự cũng như thánh sự. Ngài được danh hiệu bậc Hiền trí Senaka và được cả kinh thành sùng kính như mặt trăng, mặt trời.
Thời ấy, con trai của vị tế sư hoàng gia đến yết kiến vua; thấy bà chánh hậu trang điểm ngọc vàng cực kỳ diễm lệ, đâm ra si tình, khi về nhà chẳng chịu ăn uống gì cả, cứ nằm dài ra. Bạn hữu liền hỏi thăm và chàng trai kể hết mọi chuyện. Vua hỏi:
-   Con trai của vị tế sư hoàng gia không đến, việc này là thế nào?
Khi nghe duyên cớ, vua cho gọi chàng trai vào và bảo:
-   Trẫm trao hoàng hậu cho cậu trong bảy ngày, cứ ở nhà cậu bảy ngày ấy xong, qua ngày thứ tám, cậu trả lại nàng cho ta.
-   Thế thì tốt lắm, tâu Đại vương.
Chàng trai đáp rồi đem hoàng hậu về nhà thọ hưởng lạc thú với nàng. Hai người đâm ra say mê nhau, và bí mật trốn khỏi nhà chạy sang một xứ khác, không ai biết họ đi đâu và đường đi của họ chẳng khác nào đường của con tàu trên biển cả.

Vua truyền đánh trống thông báo khắp kinh thành, nhưng du đã tìm mọi nơi, họ vẫn không thấy nàng đã đến đâu cả. Sau đó, nỗi đau buồn khủng khiếp vì thiếu nàng xâm chiếm trọn tâm can vua. Tim ông bừng nóng rực và trào máu ra ngoài. Tiếp theo đó, máu từ ruột gan chảy ra khiến bệnh trầm trọng thêm. Các ngự y tài danh đều không thể chữa trị được đành bó tay.
Bồ-tát suy nghĩ: “Bệnh này không phải do nội thân vua, mà do vua mắc tương tư vì không thấy hoàng hậu. Ta thử dùng vài phương cách chữa trị xem sao.” Ngài liền gọi hai quốc sư hiền trí của vua là Ayura và Pukkusa vào bảo:
—  Đức vua không có bệnh gì, ngoại trừ tâm bệnh chỉ vì ngài không thấy hoàng hậu đó thôi. Giờ đây, ngài là bậc cứu hộ cao cả đối với thần dân. Ta quyết tìm mọi cách trị bệnh ngài. Ta muốn triệu tập một đám quần chúng vào sân chầu và bảo một người biết xảo thuật nuốt lưỡi kiếm sắc biểu diễn việc này. Ta sẽ đưa Hoàng thượng ra cửa sổ nhìn xuống đám đông. Ngài sẽ nhìn người nuốt lưỡi kiếm và hỏi: “Có việc gì khó hơn thế chăng?” Lúc ấy, này Tôn giả Ãyura, xin hãy đáp: “Ta sẽ từ bỏ vật này vật kia, còn khó hơn nữa.” Sau đó, ngài sẽ hỏi Tôn giả Pukkusa, và Tôn giả cần phải trả lời: “Tâu Đại vương, nếu một người nói: ‘Ta từ bỏ vật này vật kia,’ rồi lại không bỏ nó được, thì lời nói đó sẽ vô ích thôi. Không ai sống hay uống ăn bằng những lời như vậy, nhưng người nào hành động theo lời nói và đem cho một vật đúng theo lời hứa thì chính họ làm được một việc khó hơn việc kia nữa đấy.” Sau đó, ta sẽ tìm cách tiến hành mọi sự tiếp theo.
Thế là ngài bảo tập họp một đám đông. Rồi ba bậc trí nhân ấy vào trình vua:
-   Tâu Đại vương, có đám đông trong sân chầu. Nếu ai nhìn xuống đó sẽ đổi sầu làm vui. Vậy xin Đại vương hãy cùng chúng thần đến đó xem sao.
Ba vị rước vua đến hé mở cửa sổ cho vua nhìn thấy đám đông. Nhiều người lần lượt biểu diễn các xảo thuật mà mình biết. Sau cùng, có một người nuốt lưỡi kiếm sắc cạnh dài ba mươi ba phân (33 phân Anh: khoảng 80 cm).
Vua thấy vậy, suy nghĩ: “Người này đang nuốt lưỡi kiếm, ta muốn hỏi các bậc trí nhân này xem có việc gì khó hơn không?”
Rồi vua ngâm vần kệ đầu hỏi Āyura:
1. Bảo kiêm Dasaṇṇa thích máu hồng
Cạnh đều sắc nhọn thật hoàn toàn
Giữa đông người, nó ăn thanh kiếm,
Chẳng có việc nào khó nữa chăng?
Ta hỏi có gì đem sánh được,
Nhờ khanh giải đáp, hỡi hiền nhân.
Āyura ngâm vần kệ thứ hai đáp lời:
2. Lòng tham dụ kẻ nuốt thanh gươm,
Cho dẫu lưỡi gươm bén thập toàn,
Song nói: “Ta cho, lòng tự nguyện”
Là điều khó thực hiện vô cùng,
Mọi điều gì khác đều không khó,
Đại đế Kiệt-đà, tôi giải phân.
Khi vua nghe lời Āyura, ông liền suy nghĩ: “Thế thì bảo: ‘Ta cho vật này’ còn khó hơn nuốt thanh kiếm. Vậy ta đã nói: ‘Ta ban hoàng hậu cho con trai tế sư’ tức là ta đã làm một việc rất khó.” Nhờ thế, nỗi đau buồn trong tâm vua lắng dịu được một chút. Rồi suy nghĩ: “Có gì khó hơn nói: ‘Ta cho người khác vật này’ chăng?” ông lại ngâm vần kệ thứ ba nói chuyện với Trí giả Pukkusa:
3. Āyura đã giải đáp lời ta,
Trí tuệ cao siêu quả thật là,
Ta hỏi giờ đây câu nữa nhé:
Còn gì khó nữa hỡi, Pukkusa,
Nếu đem so sánh điều trên ấy,
Hiền giả, xin mời giải đáp ta.
Trí giả Pukkusa  ngâm vần kệ thứ tư đáp lại:
4. Người ta không sống được bằng lời,
Lời nói thốt ra uổng phí thôi,
Song nếu đem cho không tiếc nuối,
Việc này còn khó bội hơn rồi.
Mọi điều gì khác đều không khó,
Đại đế, đây lời đáp của tôi.
Vua nghe vầy, suy nghĩ: “Trước tiên ta nói: ‘Ta sẽ đem hoàng hậu ban cho con trai tế sư,’ rồi ta đã làm theo lời hứa và đem cho nàng. Hiển nhiên ta đã làm một việc rất khó.” Do vậy, nỗi sầu của vua giảm bớt phần nào. Rồi ông chợt nghĩ: “Không có ai thông thái hơn Trí giả Senaka. Ta muốn hỏi vị ấy câu này.”
Ông liền ngâm vần kệ thứ năm hỏi ngài:
5. Pukkusa đã giải đáp lời ta,
Trí tuệ cao siêu quả thật là.
Ta hỏi giờ đây câu nữa nhé:
Còn gì khó nữa, hỡi Senaka,
Nếu đem so sánh điều trên ấy,
Hiền giả xin mời giải đáp ta.
Senaka ngâm vần kệ thứ sáu đáp lời vua:
6. Nếu người có của đã đem cho
Bất luận là gì, dẫu nhỏ to,
Đừng tiếc nuối sau khi bố thí,
Việc này quả thật khó hơn mà,
Mọi điều gì khác đều không khó,
Xin đáp Đại vương Ma-kiệt-đà.
Vua nghe lời Bồ-tát, lại suy nghĩ: “Ta đã đem hoàng hậu ban cho con trai tế sư do ta tự nguyện, nay ta lại không kiềm chế nỗi ưu tư, ta sinh phiền não, héo mòn. Thật không xứng đáng với ta. Nếu nàng thương yêu ta thì nàng đã không bỏ vương quốc mà chạy trốn như vậy. Ta còn phải liên hệ gì với nàng khi nàng đã không yêu thương ta và bỏ trốn đi?”
Trong lúc vua suy nghĩ như vậy, mọi sầu não đều rơi rụng hết như giọt nước đổ trên lá sen. Lập tức tâm vua được bình an. ông hồi phục sức khỏe và an lạc ngâm vần kệ cuối cùng tán thán Bồ-tát:
7. Āyura giải đáp lời ta,
Thế rồi Hiền giả Pukkusa cùng vầy,
Lời Senaka quả thật hay,
Trong ba lời giải lời này tối ưu.
Sau khi tán thán, vua hoan hỷ ban thưởng ngài nhiều vàng bạc châu báu.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Khi các Sự thật kết thúc, vị Tỷ-kheo thối thất đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
-  Thời ấy, hoàng hậu là người vợ cũ, vua là Tỷ-kheo thối thất, Āyura la Moggallāna, Pukkusa là Sāriputta và Hiền giả Senaka chính là Ta.

402. CHUYỆN TÚI DA ĐỰNG BÁNH
(TIỀN THÂN SATTUBHASTA)
Tâm tư lão rối loạn, ưu phiền...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự viên mãn của Trí tuệ tối thắng. Hoàn cảnh chuyện này sẽ xuất hiện trong tiền thân Mahā Ummagga (sổ 546).
*
Ngày xưa, có vị vua tên là Janaka trị vì ở Ba-la-nại. Thời ấy, Bồ-tát được sinh vào một gia đình Bà-la-môn, cha mẹ đặt tên ngài là nam tử Senaka. Khi lớn lên, ngài theo học các nghệ thuật tại Takkasilā rồi trở về Ba-la-nại yết kiến vua. Vua phong cho ngài chức vụ đại thần và ban cho ngài đại vinh hiển.
Ngài dạy vua về thế sự lẫn thánh sự. Là người thuyết pháp khả ái, ngài an trú vua vào Ngũ giới, bố thí, hành trì ngày trai giới và Thập thiện đạo. Như vậy, tức là an trú vua vào chánh hạnh. Toàn quốc độ được ở cảnh như thời có chư Phật xuất hiện. Vào các ngày trai giới nửa tháng một lần, nhà vua, các phó vương, cận thần đều tụ tập và trang hoàng phòng họp.
Bồ-tát thuyết pháp trong một giảng đường tôn nghiêm trên bảo tọa bọc da nai, với uy lực của một vị Phật, lời ngài dạy chẳng khác gì lời dạy của chư Phật.
Thời ấy, có một Bà-la-môn già nua, xin tiền bố thí được một ngàn đồng, để dành trong một gia đình Bà-la-môn, rồi lại làm hành khất thêm nữa. Khi ông ra đi, gia đình nọ tiêu hết cả tiền. Sau đó, ông, trở lại đòi số tiền. Vì gia chủ không có tiền trả nên gả con gái cho ông làm vợ. Vị Bà-la- môn già đem nàng về cư ngụ trong một làng Bà-la-môn không xa Ba-la-nại. Vì cô vợ còn trẻ nên không thỏa mãn tham dục và phạm tà hạnh với một Bà-la-môn trẻ.
Ở đời có mười sáu việc không thể nào thỏa mãn. Đó là mười sáu việc

gì? Biển không thỏa mãn với các dòng sông; lửa không thỏa mãn với nhiên liệu; vua khôns thỏa mãn với quốc độ; kẻ ngu không thỏa mãn với ác nghiệp; nữ nhân không thỏa mãn với ba việc: ân ái, nữ trang và sinh con  Bà-la-môn không thỏa mãn với thánh kinh; bậc trí không thỏa mãn với thiền định; bậc hữu học không thỏa mãn với danh vọng; người ly tham không thỏa mãn với khổ hạnh; người tinh tấn không thỏa mãn với nỗ lực- người hay nói không thỏa mãn với chuyện trò; nhà chính trị không thỏa mãn với hội nghị; người mộ đạo không thỏa mãn với việc phục vụ Giáo hội; người thích bố thí không thỏa mãn với việc bố thí; người đa vãn không thỏa mãn với việc nghe Pháp; tứ chúng không thỏa mãn với việc yết kiến đức Phật.
Vì thế, nữ nhân Bà-la-môn này không thỏa mãn việc ân ái, muốn đẩy chồng đi xa và phạm tà dục một cách táo bạo. Một ngày kia, cô ả nằm dài theo gian kế đã dự trù. Khi ông chồng hỏi:
-  Nàng ơi, nàng làm sao thế?
Cô ả đáp:
-        Chàng Bà-la-môn ơi, thiếp không thể làm việc nhà chàng được nữa, phải kiếm một nữ tỳ.
-        Nàng ơi, ta không có tiền, vậy ta sẽ lấy gì để mua nữ nỳ chứ?
-        Chàng hãy làm hành khất kiếm tiền mà thuê nữ tỳ.
-        Thế nàng hãy sắp đặt vài vật để ta lên đường.
Cô ả đặt vào túi da đủ các thứ bột bánh đã nướng và chưa nưóng, xong trao cho lão. Lão Bà-la-môn đi qua mọi thôn làng thành thị, kiếm được bảy trăm đồng, nghĩ thầm: “Số tiền này đủ để mua gia nô nữ tỳ rồi,” lão liền trở về làng.
Đến một địa điểm thuận tiện để uống nước, lão mờ túi xách ăn một ít bánh nướng, rồi đi uống nước mà không buộc miệng túi. Lúc ấy, một con rắn hô trong thân cây rỗng, ngửi được mùi bánh, bò vào túi nằm cuộn tròn ăn bánh. Lão trở lại, không nhìn vào túi, cứ buộc túi lại và vác lên vai ra đi.
Lúc ấy, một vị Thần cây ngồi trên bộng thân cây ấy đến bảo cho lão biết trên đường đi:
—     Này Ba-la-môn, nếu lão dừng lại trên đường, lão sẽ chết; còn nếu lão về nhà thì vợ lão sẽ chết đấy.
Xong vị thân biến mất. Lão nhìn quanh không thấy vị thân nên long
kinh hoàng vì sợ chết, vừa đi đến cổng thành Ba-la-nại vừa khóc than.
Hôm ấy, vào ngày rằm trai giới, ngày Bồ-tát thuyết Pháp, đang ngồi trên bảo tọa trang nghiêm và một đám đông đem hương hoa đủ loại tiến từng đoàn nghe thuyết Pháp. Lão Bà-la-môn hỏi:
-      Các người đi đâu thế?
Họ đáp:
-      Này lão Bà-la-môn hôm nay bậc Trí giả Senaka thuyết pháp với giọng êm dịu và oai lực của một vị Phật. Lão không biết ư?
Lão suy nghĩ: “Họ bảo ngài là một bậc thuyết pháp hiền trí, còn ta đang lo âu sợ chết; các bậc trí có khả năng diệt trừ các đại phiền não, vậy ta nên đến đó nghe Pháp.”
Vì thế, lão cùng đi với họ; khi quần chúng và vua đã ngồi chung quanh Bồ-tát, lão đứng bên ngoài không xa pháp tọa. với túi thức ăn trên vai và lòng sợ chết. Bồ-tát thuyết giảng chẳng khác nào ngài đang đưa cả dải thiên hà xuống trần giới hay đổ trận mưa đầy thực phẩm Thiên giới cho đời.
Quần chúng vô cùng hoan hỷ tán thưởng, lắng tai nghe Pháp. Các bậc trí thường nhìn xa thấy rộng. Vào lúc ấy. Bồ-tát mở đôi mất có đủ năm vẻ đẹp nhìn khắp hội chúng, thấy vị Bà-la-môn, liền nghĩ: “Cả hội chúng đông đảo này tràn ngập hân hoan nghe Pháp và tán thưởng, chỉ trừ một Bà-la-môn ủ rũ khóc lóc. Chắc hẳn phải có nỗi sầu tư nào trong lòng khiến lão tuôn lệ. Cũng giống như tẩy rỉ sét với chất chua, hay làm một giọt nước rơi khỏi lá sen, ta sẽ thuyết pháp cho lão giải sầu và an vui tâm trí.” Vì thế ngài gọi lão:
-      Này lão Bà-la-môn, ta là trí giả Senaka, nay ta  muốn   giải   mối sầu cho lão, hãy bạo dạn nói ra đi.
Ngài ngâm vần kệ đầu hỏi lão:
1. Tâm tư lão rối loạn, ưu phiền,
Nước mắt chảy là cớ hiển nhiên,
Lão mất gì, vào đây muốn kiếm
Thứ gì? Hãy nói rõ ngay liền.
Sau dó, Bà-la-môn ngâm vần kệ bày tỏ duyên cớ nỗi sầu:
2. Vợ chết, nếu tôi trở lại nhà,
Còn không, tôi sẽ hóa ra ma,
Điều này làm trái tim đau nhói,
Xin giải vấn dề, hỡi Senaka.
Nghe vị Bà-la-môn nói, Bồ-tát bủa giăng tấm lưới tri kiến như ném lưới vào biển cả, và suy nghĩ: “Có nhiều nguyên nhân gây tử vong ở đời này: một số chết chìm ngoài biển, hoặc bị loài cá dữ ăn thịt; một số rơi xuống sông Hằng, hay bị cá sấu vồ; một số khác rơi từ cây xuống hay bị gai nhọn đâm; một số bị khí giới đủ loại đánh vào người; một số khác ăn nhầm chất độc, bị treo cổ hay rớt xuống vực sâu, chết cóng vì giá buốt, hay các loại bệnh tấn công. Nay giữa mọi duyên cớ ấy, lão Bà-la-môn này phải chết vì cớ nào nếu lão ở nán lại trên đường đi hôm nay, hoặc vợ lão phải chết nếu lão về nhà?”
Trong lúc suy xét, ngài thấy cái túi trên vai lão và nghĩ: “Chắc hẳn có con rắn chui vào túi, có lẽ vì nó đã nghe mùi bánh khi lão ăn sáng và đi uống nước mà quên buộc miệng túi xách. Sau khi uống nước xong, lão Bà-la-môn trở lại và có lẽ đà tiếp tục lên đường sau khi buộc túi và cầm túi lên mà không thấy con rắn bò vào. Nếu lão ở nán lại trên đường, đến tối lão sẽ tự nhủ lúc dừng chân: ‘Ta muốn ăn bánh.’ Rồi mờ túi ra, lão sẽ đặt tay vào, con rắn sẽ cắn tay lão gây tử vong. Đây chính là nguyên nhân lão sẽ chết nếu ở lại trên gường. Nhưng nếu lão về nhà, túi ấy sẽ đến tay vợ lão, bà ta sẽ nói: ‘Ta muốn xem đồ đạc bên trong,’ rồi bà ta mờ túi ra và đặt tay vào, con rắn sẽ cắn bà ta bò mạng. Đây chính là nguyên nhân vợ lão chết nếu lão về nhà hôm nay.” Ngài biết được điều này do trí của ngài tinh xảo về mọi phương tiện.
Lúc ấy, ngài lại suy nghĩ: “Đây chắc hẳn là con rắn hổ đen, táo bạo, không hề biết sợ, nên khi cái túi da đập vào sườn lão Bà-la-môn, nó chẳng nhúc nhích hay run rẩy gì cả. Nó cùng không tỏ dấu hiệu là nó đang có mặt tại hội chúng đông đảo này; do đó, nó phải là con rắn hổ đen bạo dạn. không biết sợ.”
Từ tri kiến tinh xảo các phương tiện, ngài biết điều này như thể ngài chứng kiến với Thiên nhãn. Như vậy, ngài chẳng khác nào một người đứng gần đó nhìn con rắn bò vào túi, rồi quyết định sự việc bằng tri kiến tinh xảo của ngài. Bồ-tát ngâm vần kệ thứ ba đáp câu hỏi của vị Bà-la-môn nga) giữa hội chúng triều đình:
3. Suy xét mọi nghi hoặc trước tiên,
Nay ta tuyên bố sự đương nhiên:
La-môn, trong túi đồ ăn ấy,
Đã lẻn chui vào, rắn hổ đen!
Nói vậy xong, Ngài hỏi:
-   Này lão Bà-la-môn, có thứ bánh nào trong túi xách của lão chăng? -Thưa Trí giả, có.
-   Thế lão có ăn bánh lúc điểm tâm sáng nay chăng?
-Thưa Trí giả, có.
-   Thế lão đã ngồi đâu?
-   Ở trong rừng, dưới một gốc cây.
-  Thế khi lão ăn bánh xong và đi uống nước, lão có buộc miệng túi lại hay không?
-   Thưa Trí giả, tôi không buộc.
-   Khi lão đã uống nước và trở về, lão có buộc miệng túi sau khi nhìn vào trong không?
-   Thưa Trí già, tôi buộc miệng túi mà không nhìn vào trong.
-   Này lão Bà-la-môn, khi lão đi uống nước, ta chắc là con rắn đã lẻn vào túi do ngửi mùi bánh mà lão không biết: đấy là trường hợp này. Vậy lão mau đặt túi xuống, để ngay giữa hội chúng và mở miệng túi ra. Lấy gậy đập vào túi, rồi lão sẽ thấy con rắn hổ đen bò ra với chiếc mào giương rộng và rít lên. Lão sẽ hết hồ nghi.
Ngài lại ngâm vần kệ thứ tư:
4. Cầm gậy đập lên chiếc túi dày,
Im hơi, hai lưỡi chính con này.
Trí ông hết rối vì nghi hoặc,
Mở túi, rồi ông thấy rắn ngay!
Vị Bà-la-môn làm theo lời Bồ-tát bảo, mặc dù lão hết sức kinh hoàng, chấn động. Con rắn bò ra khỏi túi khi đầu nó bị chiếc gậy đánh trúng, và nó dừng lại nhìn mọi người.
*
Bậc Đạo sư ngâm vần kệ thứ năm giải thích vấn đề:
5. Kinh hãi, lão ra giữa đám đông,
Mở dây chiếc túi đựng đồ ăn,
Một con rắn hổ bò hung dữ,
Kiêu hãnh giương cao cả chiếc mồng!
Khi con rắn bò ra với chiếc mồng giương cao, đó là điềm báo hiệu Bồ-
tát sẽ là vị Phật Chánh Đẳng Giác. Đám đông bắt đầu vẫy khăn và búng  tay hàng ngàn người, bảy báu vật được ném tung ra như thể mưa rào, hàng ngàn tiếng hô: “Tốt lành thay!” vang dậy, ồn ào như đất lỡ.
Lời giải đáp một câu hỏi như vậy do uy lực của một bậc Giác Ngộ chứ không phải nhờ nguồn gốc sinh trưởng, cũng không phải uy lực của người giàu sang danh vọng. Vậy đó là uy lực gì? Chính là uy lực của tri kiến. Người có tri kiến làm trí tuệ tăng trưởng, mở rộng cánh cửa đi vào các Thánh đạo, chứng đắc Niết-bàn bất tử tối thượng và thành tựu viên mãn các quả vị Thanh văn, Độc giác và Chánh Đẳng Giác: Tri kiến là điều tối thắng giữa các đức tính đưa đến Niết-bàn bất tử tối thượng. Mọi thành phần khác đều là phụ thuộc. Do vậy, có câu tục ngừ:
6.   Người thiện bảo tri kiến tối ưu
Như trăng đi giữa các vì sao,
Tiền tài, đức hạnh, lòng công chánh,
Là các nô tỳ bậc trí cao.
*
Khi câu hỏi đã được Bồ-tát giải đáp xong, một người nhử rắn làm một chiếc khăn bịt miệng rắn rồi đến chụp lấy nó và đem thả vào rừng.
Vị Bà-la-môn đi đến yết kiến vua, kính chào xong, lại ngâm nửa vần kệ tán tụng vua:
7.   Chúa thượng Janaka, lợi lạc thay
 Đại vương có bậc trí nhân này.
Sau khi ca tụng vua, lão cầm bảy trăm đồng tiền trong túi ra, vừa tán thán Bồ-tát, vừa ngâm một vần kệ rưỡi bày tỏ ước muốn bố thí trong niềm hoan hỷ:
Trí ngài đáng sợ, hồ nghi biến,
Trước mắt ngài nhìn thấu suốt ngay.
8. Này đây có cả bảy trăm đồng,
Xin nhận lấy ngay vật hiến dâng,
Vì chính nhờ ngài, tôi được sống
Cùng nguồn an lạc của thân nhân.
Nghe vầy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ chín:
9. Bậc trí không dùng vật cúng dâng
Chỉ vì các khúc kệ ca ngâm,
Tốt hơn, ta tặng luôn tiền ấy
Trước lúc lão về lại cố hương.
Nói vậy xong, Bồ-tát đưa trọn số tiền trả lại vị Bà-la-môn và hỏi:
-    Ai bảo lão đi kiếm số tiền này?
-ThưaTrí giả, chính hiền nội.
-    Thế hiền nội già hay trẻ?
-Thưa Trí giả, hiền nội còn trẻ.
-    Thế thì cô ả đang phạm tà hạnh với kẻ khác, nên đã bảo lão đi xa vì nghĩ cần phải hành động như thế cho an toàn. Nếu lão đem số tiền này về nhà, cô ả sẽ đem cho tình nhân số tiền do lão khổ công kiếm được. Vậy lão không nên về nhà ngay mà phải để số tiền ngoài thành phổ, dưới gốc cây đâu đó.
Nói xong ngài bảo lăo ra đi.
Khi lão đến gần làng, lão chôn tiền vào một gốc cây, và về đến nhà lúc chiều tối. Lúc ấy, vợ lão đang ngồi với tình nhân. Vị Bà-la-môn đứng ở cửa gọi to:
-Nàng ôi!
Cô à nhận ra tiếng lão, vội tắt đèn và ra mờ cửa. Khi lão đã vào trong, cô ả dẫn kẻ kia ra cửa, rồi trở vào nhà, chẳng thấy món gì trong túi, liền hỏi:
-    Này chàng Bà-la-môn, chàng kiếm được của bố thí gì trên đường đi thế?
-    Một ngàn đồng tiền.
-    Thế tiền đâu rồi?
-Nó được chôn ở chốn nọ, nhưng đừng lo, ngày mai ta sẽ đi lấy nó.
Cô ả liền đi báo cho tình nhân biết. Hắn đến đó lấy tiền ngay như thể tài sàn của hắn vậy. Hôm sau, vị Bà-la-môn đến nhưng không thấy tiền đâu liền đi tìm Bồ-tát, ngài hỏi:
-Này lão Bà-la-môn, có việc gì thế?
-    Thưa Trí giả, tôi không thấy tiền đâu cả.
-    Thế lão có nói cho vợ biết chăng?
-Thưa Trí giả, có.
Biết là cô vợ đã báo cho tình nhân rõ, Bồ-tát bảo:
-Này lão Bà-la-môn, thế có vị Bà-la-môn nào là bạn của vợ lão không?
-Thưa Trí già, có.

Lúc ấy, bậc Đại sĩ truyền người đem đến một số tiền đủ chi phí trong bảy ngày để cho lão và dặn:
-      Hãy ra về và hai vợ chồng lão hãy đãi tiệc mời mười bốn vị Bà-la- môn đầu tiên, gồm bảy người bạn lão và bảy người bạn của vợ lão. Rồi từ đó về sau cứ mỗi ngày bớt một vị khách cho đến ngày thứ bảy, lão chỉ mời một Bà-la-môn và vợ lão mời một. Khi ấy, nếu lão thấy vị Bà-la-môn được vợ lão mời vào ngày thứ bảy ấy đã đến các lần trước, thì hãy báo cho ta.
Lão Bà-la-môn làm theo lời ngài, rồi đến trình Bồ-tát:
-      Thưa Trí giả, tôi đă nhận thấy vị Bà-la-môn luôn luôn đến làm thực khách của nhà tôi.
Bồ-tát sai người đi theo lão, đem vị Bà-la-môn ấy đến và hỏi:
-      Có phải anh lấy một ngàn đồng tiền của lão này giấu ở dưới gốc cây nọ chăng?
-      Thưa Trí giả, tôi không lấy.
-      Thế anh biết ta là Trí giả Senaka ư? Ta muốn bảo anh đem số tiền ấy về đây.
Hắn sợ hãi thú nhận:
-      Tôi đã lấy số tiền ấy.
-Thế anh đã làm gì?
-      Thưa Trí giả, tôi cất ở chỗ nọ.
Bồ-tát lại hỏi vị Bà-la-môn già kia:
-      Này lào Bà-la-môn, lão muốn giữ vợ lại hay lấy vợ khác?
-      Thưa Trí giả, cho lão được phép giữ vợ lại.
Bồ-tát sai người đi lấy số tiền và đem cô vợ lão đến, trao số tiền từ tay kẻ trộm ấy lại cho lão Bà-la-môn, rồi ngài trừng phạt kẻ trộm, đuổi hắn ra khỏi tỉnh và trừng phạt luôn cô vợ. Về sau, ngài ban lão Bà-la-môn đại vinh dự bằng cách cho phép lão sống ở gần ngài.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc kết thúc các Sự thật, nhiều Tỷ-kheo đạt Sơ quả (Dự Lưu). Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
—    Thời ấy vị Bà-la-môn là Ānanda, vị Thần cây là Sāriputta, hội chúng là Tăng chúng của đức Phật và Trí giá Senaka chính là Ta.
403. CHUYỆN TRÍ GIẢ ATTHISENA
(TIỀN THÂN ATTHISENA)
Aṭṭhi, lắm kẻ đến mong cầu...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại đền Aggāḷava gan Aḷavi về các điều lệ xây tịnh thất. Hoàn cảnh đã được nêu trong Tiền thân Maṇikaṇṭha (số 253).
Bậc Đạo sư bảo Tăng chúng:
-  Này các Tỷ-kheo, ngày xưa trước khi đức Phật ra đời, các ẩn sĩ ngoại đạo dù được vua ban đặc ân, cũng không bao giờ cầu xin điều gì cả, vì thấy rằng cầu xin kẻ khác không đem lại an lạc thư thái.
Nói vậy xong Ngài kể câu chuyện đời xưa.
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh vào một gia đình Bà-la-môn và được đặt tên là Nam tử Aṭṭhisena. Khi lớn lên, ngài học các nghệ thuật ở Takkasilã, và về sau, nhận thấy nỗi đau khổ của tham dục, ngài xuất gia tu tập và thành đạt các Thắng trí cùng các Thiền chứng, ngài sống ở vùng Tuyết sơn. Sau đó, xuống vùng dân cư tìm muối và giấm, ngài đến Ba-la-nại. Sau khi ở trong một lâm viên, hôm sau ngài đi khất thực tại cung đình.
Vua hài lòng trước phong cách oai nghi của ngài, liền cho người mời ngài vào, đặt ngài ngồi lên sàng tọa trên sân thượng và cúng dường thực phẩm. Khi ngài nói lời tùy hỷ công đức, vua rất hân hoan, và nhận được lời ngài hứa hẹn cư ngụ trong ngự viên, vua đến tham kiến Bồ-tát mỗi ngày hai ba lần. Một hôm, vua hoan hỷ nghe ngài thuyết pháp xong, liền ban cho ngài một điều ước:
-  Xin ngài hãy nói cho trẫm biết bất cứ điều gì ngài ước nguyện từ quốc độ của trẫm trở xuống.
Bồ-tát không đáp: “Hãy cho ta vật này vật nọ,” nhiều kẻ khác đòi hỏi

những vật nào họ mong ước, thường bảo: “Cho tôi vật này,” và vua ban vật đó, nếu không ham thích nó nữa.
Một hôm, vua suy nghĩ: “Nhiều người mong cầu đặc ân hoặc các khất sĩ thường xin ta vật này vật nọ, nhưng Hiền giả Aṭṭhisena cao quý này, từ khi ta ban điều ước, vẫn không xin gì cả. Ngài thật là bậc có trí tuệ và thiện xảo các phương tiện. Ta muốn hỏi ngài.”
Thế rồi, một hôm sau buổi điểm tâm, nhà vua ngồi một bên, hỏi ngài lý do vì sao nhiều người khác cầu xin ân huệ còn ngài thì không, và vua ngâm vần kệ đầu:
1. Aṭṭhi, lắm kẻ đến mong cầu,
Cho dẫu họ xa lạ biết bao,
Lũ lượt xin ta ban thinh nguyện,
Còn ngài không ước vọng, vì sao?
Nghe vầy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ hai:
2. Hai kẻ cầu ân hoặc chối từ,
Thảy đều không đẹp ý bao giờ,
Đấy là duyên cớ, xin đừng giận,
Khiến tiểu thần không thỉnh nguyện vua.
Nghe lời ngài, vua ngâm tiếp ba vần kệ nữa:
3. Người nào kiếm sống, khẩn cầu hoài,
Chẳng đến cầu ân lúc hợp thời,
Làm kẻ khác suy tàn đức độ,
Chính mình chẳng có kế sinh nhai.
4. Người nào kiếm sống, khẩn cầu hoài,
Thường đến cầu ân lúc hợp thời,
Làm kẻ khác tăng dần đức độ,
Chính mình cũng được kế sinh nhai.
5. Bậc có trí không     thấy hận sân,
Khi người lũ lượt đến cầu ân,
Nói đi, Thánh giả là thân hữu,
Điều ước ngài không thể lỗi lầm.
Như vậy, đù được ban tặng cả vương quốc, Bồ-tát cùng không cầu mong gì. Khi nguyện vọng của nhà vua đã được phát biểu như vậy, Bồ-tát liên bày tỏ đường lối của ẩn sĩ:
- Thưa Đại vương, người thế tục và gia chủ thường thích thỉnh nguyện, chứ không phải người xuất thế, vì từ khi phát nguyện xuất gia, ẩn sĩ phải sống đời thanh tịnh khác với gia chủ.
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ sáu bày tỏ nếp sống ẩn sĩ:
6. Bậc trí không hề thỉnh nguyện đâu,
Thế nhân phải biết rõ như sau:
Trí nhân thỉnh nguyện ngồi im lặng,
Như thế là người trí thỉnh cầu.
Vua nghe lời Bồ-tát liền nói:
- Bạch Tôn giả, nếu một người phục vụ có trí tự nguyện cống hiến thân hữu mình những gì cần được cống hiến, thì trẫm xin tặng Tôn giả những vật như vầy:
7. Ngàn bò trẫm tặng Bà-la-môn,
Bò đỏ, thêm người hướng dẫn đường,
Nghe các nghiệp ngài đầy thánh thiện,
Trẫm nay phát khởi nghiệp hiền lương.
Khi vua nói vậy, Bồ-tát từ chối, bảo:
- Thưa Đại vương, ta đã sống đời tu tập xa lìa cấu uế, ta không cần đàn bò.
Vua tuân thủ lời khuyến giáo của ngài, chuyên tâm bố thí và làm nhiều thiện sự khác nên được sinh lên Thiên giới.
Còn Bồ-tát không hề gián đoạn thiền định, nên tái sinh lên cõi Phạm thiên.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc kết thúc các Sự thật, nhiều Tỷ-kheo được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
-          Thời ấy, vua là Ānanda và Aṭṭhisena chính là Ta.
404. CHUYỆN HẦU VƯƠNG
(TIỀN THẨN KAPI)
Người t không nên ở chn nào...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) bị quả đất nuốt sống.
Thấy Tăng chúng đang bàn luận việc này tại Chánh pháp đường, Ngài bảo:
—  Đây không phải lần đầu Devadatta và hội chúng của kẻ ấy bị tiêu diệt mà xưa kia cũng vậy.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát nhập thai vào loài khỉ sống trong ngự viên cùng cả đàn tùy tùng năm trăm con khi. Devadatta cũng được sinh làm khỉ, cùng sống tại đó với một bầy năm trăm khỉ khác.
Một hôm, vị tế sư của nhà vua đi ra vườn tắm rửa, trang hoàng thân thể xong, một con khỉ tinh nghịch leo lên ngồi trên cổng vòng cung của ngự viên, thả cục phân rơi trên đầu vị ấy lúc ông đi qua cổng. Khi tế sư nhìn lên, nó lại thả thêm một cục phân vào miệng ông. Vị tế sư quay lại, hăm dọa bầy khỉ:
- Được lắm, ta sẽ biết cách trừng trị bây.
Rồi ông lại tắm rửa và ra về.
Bầy khỉ trình lại với Bồ-tát rằng vị tế sư giận và hăm dọa chúng như vậy. Ngài thông báo cho cả bầy ngàn con khỉ:
- Ở gần nơi cư trú của kẻ sân hận là không an toàn, vậy cả đàn khỉ nên chạy trốn đi nơi khác.
Một con khỉ không tuân lệnh, giữ bầy khỉ của nó lại, không chạy trốn và bảo:
-       Ta sẽ xét lại việc ấy sau
Bồ-tát đem bầy khi đi vào rừng.

Một hôm, có một nữ tỳ giã gạo và phơi nắng một ít gạo, một con dê đến ăn gạo đã bị một cây đuốc đập vào mình, nó chạy trốn,  mình cháy đỏ rực, vội chà mình vào vách lều cỏ gần chuồng voi. Ngọn lửa bắt vào lều cỏ lan qua chồng voi làm các lưng voi bị phỏng, các thú y được mời đến chăm sóc bầy voi.     . ,
Vị tế sư hoàng gia vẫn luôn tìm cơ hội bắt bầy khỉ. Lúc vị Tế sư đang  ngồi chầu nhà vua, nhà vua bảo:
-    Này tế sư, nhiều con voi của ta bị thương và các thú  y chuyên về voi lại không biết cách chữa trị, vậy khanh có biết chữa không?
-    Tâu Đại vương, thần biết.
-    Cách gì thế?
-    Tâu Đại vương, mỡ khỉ.
-    Làm sao có được thứ ấy?
-    Có rất nhiều khỉ trong ngự viên.
Vua phán:
-    Giết bầy khỉ để lấy mỡ.
Các xạ thủ đem cung tên đi giết cả năm trăm con khỉ. Một con khỉ già trốn thoát được dù nó bị thương do mũi tên, và chưa ngã ngay tại chồ, nó chỉ ngã xuống khi đến nơi ở của Bồ-tát. Bầy khỉ bảo nhau:
-    Nó đã chết khi vừa đến chỗ ở của ta.
Và chúng kể lại với Bồ-tát rằng con khi kia chết do vết thương ấy. Ngài bước ra ngồi giữa bầy khỉ, ngâm các vần kệ này để khuyến giáo chúng với lời khuyên của bậc trí, đó là: “Người nào ở gần kẻ thù đều phải chết như vậy.”
1.   Người trí không nên ở chốn nào
Cừu nhân cư trú; dẫu dài lâu,
Hay chỉ một, hai đêm cũng vậy,
Đến gần sẽ gặp nỗi sầu đau.
2.   Kẻ ngu là địch thủ cho ai
Vẫn trót tin lời nó nói sai,
Con khỉ ngu si đem đại họa
Cho bầy của nó thế mà thôi.
3-Một kẻ ngu si đứng trường đoàn,
Vì kiêu căng muốn tỏ khôn ngoan,
Sẽ không khác khỉ này gây họa.
Mãi mãi đưa đường đến bại vong
4. Kẻ mạnh ngu si chẳng tốt lành,
Lãnh phần bảo vệ cả đàn mình
Nó là tai họa cho đồng loại.
Chẳng khác chim mồi đáng hãi kinh.
5. Trưởng đoàn hùng dũng trí khôn ngoan,
Làm tốt để canh giữ cả đoàn,
Chẳng khác Indra bên hội chúng,
Là phần thưởng của các thân bằng.
6. Người nào đù giới hạnh hoàn toàn,
Trí tuệ tinh thông, học tập luôn,
Hành động người này đem plnrớc lạc
Cho mình cùng với các tha nhân.
7. Vậy thì giới hạnh lẫn đa văn,
Tri kiến học hành, luyện bản thân,
Như thể vị hiền nhân độc trú,
Hoặc lo bảo vệ đám thân bằng.
Như vậy, Bồ-tát trở thành Hầu vương, và giảng giải đường lối học tập Giới luật.
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
-  Thời ấy, con khỉ không tuân lệnh là Devadatta, bầy khỉ của nó là hội chúng của Devadatta và Hầu vương có trí là Ta.

/29
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây