Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015 - Tập IV

Tác giả: Hòa thượng - Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 766.

 

Chương 34: 423. CHUYỆN UY LỰC DỤC THAM - Phần 3 (trang 711-730)

và cư trú nơi ấy. Thành ấy sẽ được gọi là Daddarapura (Thành Daddara).
Cả năm vương tử đều ra đi, theo các dấu hiệu kia dựng kinh đô và an trú ở đó.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư bảo:
-  Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu Devadatta nói dối và bị chìm vào lòng đất.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
-        Thời ấy vua Ceti là Devadatta và Bà-la-môn Kapila là Ta.
423. CHUYỆN UY LỰC DỤC THAM
(TIỀN THÂN INDRIYA)
Người nào tuân lệnh dục tham...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự quyến rũ của người vợ cũ đối với một Tỷ-kheo.
Chuyện kể rằng một thiện gia nam tử ở Sāvalthi (Xá-vệ) nghe giáo pháp của bậc Đạo sư và nghĩ rằng, thật khó cho một người tại gia có thể sống đời phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh, nên ông quyết định xuất gia tu hành theo giáo lý cứu độ để diệt tận khổ ưu. Vì thế, ông để lại tài sản, nhà cửa cho vợ con, và thỉnh cầu bậc Đạo sư truyền giới xuất gia cho mình. Bậc Đạo sư chấp thuận. Vì ông chỉ là Sa-di trẻ tuồi lúc khất thực cùng các vị giáo thọ, Sư trường và Tăng chúng lại đông, nên ông không có được ghế ngồi trong nhà cư sĩ hoặc trong trai đường, mà chỉ có một ghế thấp nhỏ hoặc ngồi ở dãy ghế dài cuối chỗ các Sa-di.
Thức ăn chỉ được múc vội vã cho ông bằng cái muỗng lớn. ông nhận món cháo tấm, các món cứng thì hôi hám hoặc hư nát, hoặc các cọng rau đã khô héo, cháy sém và phần ăn này không đủ nuôi sống ông.
Ông liền đem các món ăn nhận được về cho người vợ cũ mà ông, đã rời bỏ. Nàng cầm lấy bình bát, kính chào ông, đổ hết các thứ ấy ra và thay vào món cháo nấu thật ngon và cơm trộn sốt cà-ri. Vị Tỷ-kheo bị lòng ham thích các huơng vị ấy lôi cuốn nên không thể rời vợ.
Nàng suy nghĩ rằng nàng sẽ thử thách tình cảm của ông. Một hôm, nàng bảo một trai làng chải chuốt sạch sẽ và đến nhà nàng ngồi cùng một đám người nhà của y mà nàng đã mời, và nàng cho cả bọn ăn uống vài thứ. Cả bọn ngồi ăn chơi thỏa thích. Nàng lại bảo buộc đôi bò vào xe và chiếc xe đợi sẵn sàng ở cửa nhà. Còn chính nàng ngồi ở nhà sau nấu nướng bánh mứt.
Chồng nàng đi đến đứng ở cửa. Thấy vậy, một lão bộc trình bà chủ rằng có một Tỷ-kheo ở cửa. Nàng bảo:
-  Hãy ra chào vị ấy và bảo vị ấy qua nhà khác.

Nhưng dù y đã làm vậy nhiều lần, y thấy vị Tỷ-kheo vẫn đứng yên nên y lại trình bà chủ. Nàng bước ra, vén tấm rèm lên nhìn và kêu lớn:
-    Ồ, đây là cha bầy trẻ con tôi.
Nàng bước ra chào ông, vừa cầm lấy bình bát vừa mời ông bước vào, nàng đem thực phẩm cúng dường. Khi ông đã ăn xong, nàng lại kính lễ và nói:
-    Thưa Tôn giả, nay Tôn giả là một bậc Thánh, trước kia chúng ta đã luôn chung sống cùng nhau trong ngôi nhà này. Song giờ đây. cuộc sống tại gia lại không thể thiếu người chủ nhà, vì vậy, chúng ta sắp dời qua nhà khác và đi xa về vùng quê. Xin Tôn giả hãy nhiệt tâm làm thiện sự và tha thứ cho thiếp nếu thiếp làm điều sai trái.
Trong một lúc, chồng cũ của nàng cảm thấy như thể trái tim tan vỡ. Rồi ông đáp:
-    Ta không thể rời nàng, xin nàng đừng đi. Ta sẽ trở lại đời thế tục. Hãy đưa cho ta y phục của người cư sĩ tại chỗ nọ, ta sẽ bỏ y bát và trở về với nàng.
Nàng đồng ý ngay. Khi vị Tỷ-kheo về tịnh xá, trả bộ y bát lại cho các vị giám hộ và giáo thọ, và khi được hỏi lý do, ông giải thích là ông không thể rời vợ và sắp trở lại đời thế tục. Dù ông không muốn, các vị ấy cũng dẫn ông đến bậc Đạo sư và kể cho ngài nghe rằng ông thối thất và muốn trở về đời thế tục. Bậc Đạo sư hỏi:
-          Chuyện này có thật chăng?
-          Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-          Ai làm cho ông thối thất?
Này Tỷ-kheo, nữ nhân ấy là nguyên nhân gây ác nghiệp của ông. Chính vì kẻ ấy mà ngày xưa ông đã sa đọa khỏi bốn cảnh giới thiền định và rất khốn khổ. Sau nhờ ta, ông được giải thoát cảnh khổ và tái tạo công năng thiền định mà ông đã mất.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát đựợc sinh làm con trai vị tế sư hoàng gia và bà vợ vị ấy cũng là nữ nhân Bà-la-môn. Vào ngày ngài ra đời, có làn ánh sáng của binh khí lóe sáng khắp kinh thành, vì
thế ngài được đặt tên Jotipāla (Người hộ trì ánh sáng hay Hộ Minh).
Khi lớn lên ngài học đủ mọi ngành nghề nghệ thuật tại Takkasilā và chứng tỏ tài năng trước vua. Nhưng ngài lại từ giã địa vị của ngài không báo cho ai biết, ngài ra đi bằng cổng sau, vào rừng trở thành vị khổ hạnh ở thảo am Kaviṭṭhaka, được gọi là Sakkadattiya. Ngài chứng đắc Thiền định viên mãn.
Trong khi trú tại đó, hàng trăm vị trí giả đến tham kiến hầu cận ngài. Ngài được một hội chúng đông đảo theo học và bảy đại đệ tử. Trong số ấy, trí giả Sālissara rời thảo am Kaviṭṭhaka để đến xứ Suraṭṭha và trú bên bờ sông Sātodikā cùng hội chúng vài ngàn trí giả khác.
Meṇḍissara cùng vài ngàn trí giả sống gần thị trấn Lambacūḷaka trong quốc độ của vua Pajāka.
Pabbata cùng vài ngàn trí giả sống trong một xứ ở miền rừng núi.
Kāḷadevala cùng vài ngàn trí giả sống trong núi rừng ở Avanti và Deccan.
Kisavaccha sống độc cư ở gần kinh thành Kumbhavatī, trong ngự viên của vua Daṇḍaki.
Anusissa là thị giả của Bồ-tát ở chung với ngài.
Nārada, em của Kāḷadevala, độc cư trong thạch thất giữa quốc độ Ārañjara có nhiều núi non ở vùng trung thổ.
Bấy giờ, không xa nước Ārañjara có một thị trấn rất trù phú. Thị trấn này có con sông cả, nơi nhiều đàn ông đến tắm. Dọc theo bờ, các kỹ nữ xinh đẹp thường ngồi quyến rũ đám mày râu.
Vị khổ hạnh Nārada thấy một nàng kỹ nữ, đâm ra si tình, mất hết thiền lực và héo mòn vì không ăn uống gì cả, cứ nằm dài trong lưới tình trói buộc suốt bảy ngày liền. Vị huynh trưởng Kāḷadevala nhờ quan sát biết nguyên nhân việc kia, liền phi hành qua không gian vào đến động. Nārada thấy vị ấy liền hỏi tại sao đến đây. Vị ấy đáp:
-         Ta biết Hiền đệ bị bệnh nên đến chăm sóc đệ đây.
Nārada giả dối bảo vị ấy đi về:
-         Đại huynh chỉ nói chuyện không đâu, toàn là hư vọng, hão huyền.
Nhưng vị kia từ chối ra đi và còn đem theo ba vị Sālissara, Meṇḍissara và Pabbatissara đến đó nữa. Nārada lại bảo tất cả ra về theo cách trên.
Kāḷadevala  liền bay đi tìm Đạo sư Sarabhaṅga và dẫn thầy đến đó. Khi
bậc Đạo sư đến, ngài thấy Nārada đã rơi vào lưới kềm tỏa của tham dục và hỏi có đúng vậy không. Nārada đứng lên nghe lời ngài, kính lễ thầy và thú nhận sự việc. Bậc Đạo sư bảo:
-     Này Nārada, ai rơi vào lưới tham dục sẽ suy tàn trong khổ đau ở đời này và đời kế bị tái sinh vào địa ngục.
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Người nào tuân lệnh dục tham,
Mất hai thế giới, đời tàn về sau.
Nghe vậy, Nārada đáp:
-     Bạch Tôn sư, mưu cầu tham dục là hạnh phúc. Tại sao Tôn sư lại gọi hạnh phúc ấy là khổ đau?
Đạo sư Sarabhanga đáp:
- Vậy hãy nghe đây.
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2. Hân hoan cùng với khổ đau
Vẫn thường giẫm bước lên nhau chẳng ngừng,
Con từng thấy chúng chuyển luân,
Hãy tìm hạnh phúc thật chân nhiệm mầu.
Nārada đáp:
-     Bạch Tôn sư, khổ đau này thật khó chịu đựng. Con không thể kham nhẫn nó được.
Bậc Đại sĩ bảo:
-           Này Nārada, khi khổ đau đến cần phải chịu đựng.
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ ba:
3. Người nào kham nhẫn đối đầu,
Gian lao nhiếp phục khổ sầu bao phen,
Là người vững mạnh tiến lên
Niết-bàn, cực lạc, dứt phiền não xưa.
Song Nārada vẫn đáp:
-     Bạch Tôn sư, hạnh phúc của dục tình là hạnh phúc tôi cao, con không thể nào rời bỏ nó được.
Bậc Đại sĩ bảo:
-           Không thể vì bất cứ lý do gì mà ta từ bỏ giới hạnh.
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ tư:
4. Con đừng phá hủy tiêu ma
Quãng đời thanh hạnh, sa đà công năng,
Chỉ vì dục vọng tham sân
Cầu mong lợi dưỡng, đau buồn nhỏ, to
Sau khi Đạo sư Sarabhaṅga đã tuyên thuyết Chánh pháp qua bốn vần kệ, trí giả Kāḷadevala muốn khuyến giáo tiểu đệ liền ngâm vần kệ thứ năm:
5. Biết đời phiền lụy lo âu
Thức ăn uống phải phát cho nhiều người.
Chẳng ham tích trữ tiền tài,
Chẳng sầu khi chúng hết thời tiêu tan.
Vần kệ thứ sáu do bậc Đạo sư ngâm phát xuất từ Trí tuệ tối thắng của ngài liên hệ đến lời khuyến giáo của Devala đôi với Nārada:
6. Deva Trí giả hắc nhan
Giờ đây khuyên nhủ khôn ngoan nhất đời,
Ta không hề thấy có người
Kém hơn kẻ chịu vâng lời dục tham.
Sau đó, Thánh giả Sarabhaṅga cảnh báo:
-    Này Nãrađa hãy nghe đây: Kẻ nào trước tiên không muốn làm những gì đáng làm, về sau sẽ kêu khóc than van như chàng trai đi vào rừng thuở xưa.
Rồi ngài kể một câu chuyện quá khứ.
Ngày xưa, trong một thị trấn ở thành Kāsi có một thanh niên Bà-la- môn đẹp trai, mạnh khỏe, lực lưỡng như voi. Chàng suy nghĩ: ‘Tại sao ta phải nuôi cha mẹ bằng cách làm ruộng, hoặc phải lấy vợ sinh con, hoặc làm các thiện sự nọ kia? Ta chẳng muốn nuôi ai hoặc làm thiện sự gì cả, mà ta chỉ muốn vào rừng nuôi bản thân bằng cách săn nai.”
Thế rôi, với năm thứ vũ khí, chàng vào Tuyết sơn giết nai ăn thịt rất nhiều. Ở vùng Tuyết sơn chàng thấy một thung lũng rộng lớn tứ bề có núi bao bọc, bên cạnh bờ sông Vidhavā, chàng liền sống ở đó với thịt thú săn được và nấu trên than hồng. Chàng lại suy nghĩ: “Ta sẽ không được khỏe mạnh mãi đâu, khi ta già yếu, ta sẽ không phiêu bạc trong rừng. Nay ta muốn bắt nhiều loại thú hoang vào trong thung lũng này, làm cổng rào lại và chẳng cần phải lang thang trong rừng nữa, ta cũng sẽ giết chúng và ăn thỏa thích.” Và chàng đã làm như vậy.

Thời gian trôi qua, chính điều ấy phải xảy ra, mọi thực tế của cuộc đời xuất hiện, chàng không còn sức điều khiển nổi tay chân, chàng không thể đi lại tự do đây đó, chàng không thể tìm được thức ăn uống, thân thể gầy gò khô héo như một bóng ma, lộ rõ mọi nếp nhăn nheo khắp mình như mặt đất mùa nắng. Chàng trở nên dị tướng, nhăn nheo, rã rời và vô cùng khổ sở.
Cũng như chàng kia, theo thời gian, vua nước Sivi, mệnh danh là Sivi, ước mong hưởng món thịt rừng nướng trên than hồng trong rừng già, liền giao phó quốc độ cho các đại thần, đem theo năm món vũ khí, đi vào rừng săn thịt nai để ăn. Vừa lúc vua đến chỗ ấy liền thấy người kia. Dù sợ hãi vua cũng cố thu hết can đảm hỏi người kia là ai. Chàng đáp:
-  Tâu Chúa công, tôi là một bóng ma đang hưởng nghiệp quả do tôi đã tạo. Thế Chúa công là ai?
-  Ta là vua nước Sivi.
-  Tại sao Chúa công đến đây?
-  Để ăn thịt nai.
-  Tâu Đại vương, tôi đã trở thành con ma trên đất vì tôi đã đến đây với mục đích ấy.
Rồi chàng kể đầy đủ chi tiết câu chuyện của chàng và để giải thích nỗi bất hạnh của mình, chàng ngâm các vần kệ cuối cùng:
7. Chính tôi đây, hỡi Quân vương,
Khác nào giữa chốn đấu trường địch quân,
Công lao, nghề nghiệp, tài năng,
Vợ con, nhà ở bình an một thời,
Đã tiêu tan hết cả rồi,
Tôi mang nghiệp quả ngay đời thế gian.
8. Giờ tôi tồi tệ muôn vàn
Không người quyến thuộc, lang thang không nhà.
Từ đời chân chánh lạc xa,
Tôi như một cái bóng ma đọa đày.
9. Nay tôi phải sống cảnh này
Vì tôi tạo khổ não thay vui mừng.
Quanh tôi như đám lửa bừng,
Tôi không cảm thấy trong lòng hân hoan.
Cùng với các vần kệ ấy, chàng nói thêm:
- Tâu Đai vương, do ham muốn dục lạc tôi đã tạo khổ đau cho nhiều loài khác và trở thành bóng ma ngay tại đời này. Xin Đại vương đừng gây ác nghiệp, xin hãy trở về kinh đô của Đại vương và thực hành thiện sự, bố thí cùng các phước nghiệp khác.
Nhà vua làm theo lời ấy và hoàn thành con đường lên Thiên giới.
Vị khổ hạnh xúc động vì lời tường thuật của Đạo sư Sarabhaṅga về câu chuyện trên. Vị ấy được cảm hóa, rồi sau khi kính lễ Tôn sư và được ngài tha thứ, nhờ các pháp môn chân chánh, vị ây tái tạo năng lực thiền định đã mất. Đạo sư Sarabhaṅga không cho phép đệ tử ở lại đó nữa và đưa vị ấy cùng ngài về thảo am xưa.
*
Sau pháp thoại, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc kết thúc các Sự thật, vị Tỷ-kheo thối thất đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, Nārada là Tỷ-kheo thối thất này, Sālissara là Sāriputta (Xá- lợi-phất), Meṇḍissara là Kassapa (Ca-diếp), Pabbata là Anuruddha ( A-na- luật-đà), Kāladevala là Kaccāna (Ca-chiên-diên), Anusissa là Ānanda (A- nan), Kisavaccha là Moggallāna (Mục-kiền-liên) và Đạo sư Sarabhaṅga chính là Ta.
424. CHUYỆN NGỌN LỬA ĐÓT CHÁY
(TIỀN THÂN ĀDITTA)
Thứ gì ta cứu thoát ra...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về lễ vật cúng dường vô thượng. Lễ vật cúng dường tối thắng này được miêu tả đầy đủ trong tập Sớ giải Kinh Mahāgovindasutta (Sổ 19, Trường bộ II).
Ngay hôm sau lễ cúng dường ấy, Tăng chúng bàn luận trong Chánh pháp đường:
-  Này các Hiền giả, vua Kosala sau khi xem xét kỹ, đã tìm được phước điền chính đáng và cúng dường lễ vật cao trọng lên hội chúng do đức Phật đứng đầu.
Bậc Đạo sư đến và được kể lại đề tài câu chuyện trong lúc các vị ngồi đây, Ngài bảo:
-  Này Tỷ-kheo, không lạ gì việc nhà vua sau khi quan sát kỹ đã cúng dường đại lễ vật vào phước điền vô thượng ở đời, các trí nhân ngày xưa cũng đã cúng dâng lễ vật như thế sau khi quan sát kỹ.
Rồi Ngài kể một câu chuyện ngày xưa.
*
Ngày xưa, vua Bharata trị vì tại Roruva trong quốc độ Sovīra. Vua thực hành Thập vương pháp, thu phục nhân tâm bằng Tứ nhiếp pháp, đối xử với quần chúng như cha mẹ đối với con, ban phát rộng rãi cho người nghèo, lữ hành khất thực và những người đến cầu xin. Chánh hậu của ngài là Samuddavijayā đầy trí tuệ thông thái.
Một hôm, ngài nhìn quanh các bố thí đường và suy nghĩ: “Tặng vật của ta đều bị đám tham lam vô dụng ngốn ngấu cả. Ta không thích như vậy. Ta muốn cúng dường những vị Độc Giác Phật đức hạnh xứng đáng lễ vật tối thượng. Các vị hiện sống ở vùng Tuyết sơn. Ai sẽ đem các vị ấy về đây theo lời thỉnh cầu của ta và ta sẽ nhờ ai lãnh sứ mạng này?”

Ngài nói chuyện với hoàng hậu, bà đáp:
-Tâu Chúa thượng, không nên quan tâm lo lắng. Cứ gửi hoa đi, nhờ uy lực các lễ vật cúng dường xứng đáng của ta, nhờ đức độ và lòng thành tín của ta, ta sẽ thỉnh cầu các vị Độc Giác Phật; và khi các vị đến, chính ta sẽ cúng dường lễ vật cùng các món cần thiết.
Vua đồng ý. Ngài ra lệnh đánh trống khắp kinh thành rằng tất cả dân chúng trong thành phải giữ giới, còn chính ngài và toàn thể hoàng gia đều giữ mọi phận sự của ngày trai giới, thực hành đại bố thí.
Ngài truyền đem đến một chiếc hộp bằng vàng đựng đầy hoa lài. từ hoàng cung bước xuống và đứng giữa triều đình. Tại đó, ngài phủ phục với năm phần chạm xuống đất, đảnh lễ về phương đông và tung vãi nắm hoa cùng những lời nguyện:
-   Đệ tử xin đảnh lễ các Thánh giả ở phương đông. Nếu đệ tử có chút công đức nào, xin các vị tỏ lòng từ bi thâu nhận các lễ vật này.
Vì không có các vị Độc Giác ở phương đông, nên hôm sau không vị nào đến.
Ngày thứ hai, ngài lại đảnh lễ phương tây, nhưng cũng không ai đến.
Ngày thứ ba, ngài lại đảnh lễ phương bắc, và sau khi đảnh lễ, ngài tung bảy nắm hoa cùng lời nguyện:
-   Ước mong các vị Độc Giác ở vùng Tuyết sơn thâu nhận các lễ vật cúng dường này.
Các hoa ấy bay đi xa rơi trên mình năm trăm vị Độc Giác Phật ở động, Nandamūla. Sau khi quan sát, các vị hiểu rằng quốc vương đã thỉnh cầu các vị, vì thế các vị gọi bảy vị trong số đó lại bảo:
-Này các Tôn giả, vua thỉnh cầu các vị, xin hãy bày tỏ đặc ân cho ngài.
Các vị Độc Giác Phật này du hành qua không gian và hạ xuống hoàng môn. Khi thấy các vị, vua hân hoan đảnh lễ, mời các vị lên thượng lầu tỏ lòng tôn kính trọng thể và cúng dường các lễ vật.
Sau buổi thọ thực, ngài lại mời các vị hôm sau và cứ thế đến ngày thứ năm, vua thiết đãi suốt sáu ngày. Vào ngày thứ bảy, ngài chuẩn bị cúng dường mọi vật dụng cần thiết, sắp đặt bảo tọa và cẩm đôn chạm vàng rồi đặt trước bảy vị Độc Giác các bộ ba y cùng các món ăn cần thiết của đời Thánh nhân.
Quốc vương cùng hoàng hậu trân trọng cúng dường các thứ này sau
Buổi thọ thực và đứng cung kính đảnh lễ. Để phát biểu lời tùy hỷ công đức, vị Trưởng lão của hội Chúng ngâm hai vần kệ:
1. Thứ gì ta cứu thoát ra
Lửa đang đốt cháy nhà ta rụi dần
Những gì sót lại sau cùng
Sẽ còn đó mãi riêng phần ta thôi.
2. Thế gian bừng cháy khắp nơi
Sanh, già, bệnh, chết làm mồi lửa nhanh,
Cứu mình bằng các thiện hành
Cúng dường, bố thí để dành thật chân.
Như vậy, bằng cách bày tỏ niềm hoan hỷ, vị Trưởng lão khuyến giáo vua tinh cần giữ đức hạnh. Sau đó, vị ấy bay lên không gian, xuyên thủng qua góc nhọn của cung điện và hạ xuống động Nandamūla. Các vật dụng cần thiết đã được cúng dường đều bay lên theo vị ấy và hạ xuống động. Còn toàn thân quốc vương và hoàng hậu tràn đầy niềm hoan hỷ.
Sau khi vị ấy ra đi, sáu vị kia lần lượt nói lời tùy hỷ công đức qua mỗi vần kệ:
Vị thứ hai:
3. Người nào bố thí chánh nhân
Kiên cường dõng lực, tinh cần tịnh tâm,
Vượt dòng nước lũ Ma vương,
Đạt nơi an trú kim đường cõi Thiên.
Vị thứ ba:
4. Thiện hành nào khác trận tiền
Trước vài địch thủ, chạy liền ba quân.
Cúng dường với cả tín tâm
Đời sau hưởng lạc là phần ngài thôi.
Vị thứ tư:
5. Người cho làm đẹp ý trời,       
Khôn ngoan xứng đáng làm vơi nhọc nhằn.
 Cúng dường mang quả hưng long,
Cũng như hạt giống gieo vùng phì nhiêu
Vị thứ năm:
6. Ai không hề nói lắm điều,
Tránh làm ác nghiệp hại nhiều chúng sinh,
Người đời gọi yếu, chê khinh,
Chính vì sợ hãi giữ mình thanh lương.
Vị thứ sáu:
7. Tạo nên phước nghiệp thông thường,
Tái sinh nhân thế, quân vương oai quyền.
Phước nhiều đạt đến cõi Thiên,
Công năng tối thượng đắc miền Tịnh Cư.
Vị thứ bảy:
8. Phước là bố thí đem cho,
Tuy nhiên giáo pháp lợi to muôn phần,
Xưa nay chứng tỏ bao lần,
Nhờ đây bậc trí đạt toàn lạc an.
Sau đó, các vị ra đi cùng với các vật dụng cần thiết đã được cúng dường. Còn vị Độc Giác Phật thứ bảy, trong lời tùy hỷ công đức ấy. tán thán Niết-bàn bất diệt với vua và giáo hóa ngài một cách cẩn trọng xong, liền trở về cảnh cũ như đã nói trên. Quốc vương và hoàng hậu thực hành bố thí suốt đời nên đã hoàn thành con đường lên Thiên giới.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư bảo:
-  Như vậy các bậc trí thời xưa bố thí cúng dường có phân biệt.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
—  Thời ấy, các vị Độc Giác Phật đắc Niết-bàn, Samuddavijayā là mẫu thân Rāhula (La-hầu-la) và vua Bharata chính là Ta.

425. CHUYỆN NHỮNG SỰ KIỆN KHÔNG THỂ XẢY RA
(TIỀN THÂN ATTHĀNA)
Làm sao lặng sóng Hằng hà...
Bậc Đạo sư kể lại chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ- kheo thối thất.
Bậc Đạo sư hỏi vị ấy:
-   Này Tỷ-kheo, có thật là ông đang thối thất?
-   Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-   Vì duyên cớ gì?
-   Vì uy lực của dục tham.
-   Này Tỷ-kheo, nữ nhân thật vô ơn, phản bội, không đáng tin cậy. Ngày xưa, các bậc trí không làm thỏa mãn một nữ nhân, thậm chí đã cho kẻ ấy một ngàn đồng tiền mỗi ngày. Một hôm, không nhận được ngàn đồng tiền, kẻ ấy đã sai người lôi cổ họ quẳng ra ngoài. Nữ nhân là loài bạc nghĩa thế đấy. Ông đừng rơi mình vào uy lực của dục tham vì duyên cớ ấy nữa.
Rồi Ngài kể một câu chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, vương tử Brahmadatta và công tử Mahādhana, con của một phú thương ở Ba-la-nại, là bạn thân thiết cùng chơi với nhau và được giáo dục trong nhà một vị thầy. Vương tử lên ngôi khi vua cha băng hà và con vị phú thương vẫn ở gần vua mới.
Tại Ba-Ia-nại có một kỹ nữ sang trọng kiều diễm đang thời hưng thịnh. Con trai vị phú thương tặng nàng một ngàn đồng tiền mỗi ngày, và thường xuyên hưởng lạc với nàng. Khi cha mất, chạng thừa kế tài sản và địa vị của cha nhưng cũng không rời bỏ nàng mà vẫn tiếp tục cho nàng một ngàn đồng tiền mỗi ngày.
Một hôm chàng đi chầu vua vào buổi chiều. Trong lúc chàng đàm đạo

với vua, mặt trời lặn và tối dần. Khi rời cung, chàng nghĩ: “Không còn thời giờ để về nhà rồi trở lại nữa, ta cứ đi thẳng đến nhà kỹ nữ ấy. Vì thế, chàng bảo đám hầu cận ra về và đi thẳng vào nhà một mình.
Khi thấy chàng đến, nàng hỏi xem chàng có đem ngàn đồng tiền không.
- Này ái nương, hôm nay ta ra trễ quá nên ta chỉ bảo đám hầu cận đi hết, chứ ta không về nhà, ta chỉ đến đây một mình, nhưng ngày mai ta sẽ trao tặng nàng hai ngàn đồng tiền.
Nàng suv nghĩ: “Nếu ta tiếp đón chàng hôm nay, chàng sẽ đến tay không các ngày khác nữa và thế là ta mất dần của cải. Vậy ta không, muốn tiếp chàng hôm nay nữa.”
Vì thế nàng bảo:
-           Thưa công tử, thiếp chỉ là một kỳ nữ, thiếp không ban đặc ân cho ai mà không có một ngàn đồng, vậy công tử hãy đem tiền lại đây.
-           Ái nương ơi, ta sẽ tặng nàng gấp đôi số tiền ấy ngày mai đây.
Và chàng cứ van xin nàng như vậy mãi.
Nàng  kỳ nữ ra lệnh cho các nữ tỳ:
-           Đừng để ngưòi ấy đứng đó mà nhìn ta. Hãy lôi cổ y kéo ra ngoài và đóng cửa lại.
Họ làm theo lời nàng. Chàng suy nghĩ: ‘Ta đã cho nàng tám trăm triệu đồng tiền, tuy thế chỉ một ngày ta đến tay không, nàng đã bảo chúng nắm cổ ta tống ra ngoài. Ồi nữ nhân thật là độc ác, vô sĩ, vong ân, phản bội!"
Do vậy, chàng quan sát mãi về ác hạnh của nữ nhân cho đến khi chàng thấy chán ngán, ly tham và bất mãn với cuộc đởi thế tục. Chàng suy nghĩ: “Tại sao ta phải sống đời thế tục? Ta muốn xuất gia hôm nay và thành người khổ hạnh.”
Do vậy, chàng không trở về nhà nữa cũng không yết kiến vua nữa, chàng rời kinh thành đi vào rừng. Chàng dựng thảo am bên bờ sông Hằng, cư trú tại đó như một ẩn sĩ khổ hạnh, đắc thiền định viên mãn và sổng bằng củ quả rừng.
Vua nhớ bạn vắng mặt lâu ngày và đòi bạn vào chầu. Khắp kinh thành ai cũng biết rõ cách nàng kỹ nữ đối xử với chàng nên họ tâu vua vấn đề ấy và thêm:
—         Tâu Đại vương, người ta bảo thân hữu của Đại vương vì tủi nhục đã không trở về nhà, mà đã trở thành vị khô hạnh sống trong  rừng.
Vua truyền đưa nàng kỹ nữ vào, và hỏi nàng xem chuyện nàng đối xử với thân hữu ngài có thật như vậy chăng. Nàng thú nhận.
-    Này nữ nhân bạc ác kia, hãy mau đến nơi Hiền hữu ta ở và đưa chàng về đây. Nếu không làm được việc ấy, ngươi phải bị mất mạng đấy.
Nghe lệnh vua, nàng sợ hãi, vội lên xe ra khỏi kinh thành cùng đoàn tùy tùng đông đảo. Nàng đi tìm nơi an trú và nghe lời đồn, nàng đến đó kính lễ và cầu xin:
-    Bạch Tôn giả, xin hãy tha thứ lỗi lầm thiếp đã phạm trong lúc mù quáng ngu si. Thiếp quyết không tái phạm nữa.
-    Được lắm, ta tha thứ cho nàng, ta không giận nàng đâu.
-    Nêu Tồn giả tha thứ cho thiếp, xin hãy lên xe cùng thiếp. Chúng ta cùng trở về kinh thành và ngay khi vào thành, thiếp xin dâng ngài mọi tiền tài trong nhà thiếp.
Khi nghe vậy, ngài đáp:
-    Này cô nương, ta không thể đi với cô nương bây giờ đâu, nhưng khi nào những chuyện chưa từng xảy ra trên đời này sẽ xảy ra thì có lẽ ta sẽ đi.
Rôi ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Làm sao lặng sóng Hằng hà
Như hồ sen nọ, sơn ca trắng ngần
 Cây đào sinh trái cau vân
Thì điều như thế họa chăng có là!
Nhưng nàng lại nói:
-    Mau lên, thiếp sắp đi rồi.
Ngài đáp:
-    Ta sẽ đi.
-    Khi nào?
-    Vào thời như vầy, như vầy.
Ngài đáp và ngâm các vần kệ còn lại:
2. Bao giờ có đủ lông rùa
Kểt thành ba tấm áo đưa ta dùng
Vào thời đông giá lạnh lung,
Thì điền như thế họa chăng có là!
3. Bao giờ răng muỗi nhô ra
Nàng xây cái tháp thật là khéo thay,
Tháp kia không thể chuyển lay,
Điều này chắc có cơ may, họa là!
4. Bao giờ sừng thỏ mọc ra,
Nàng làm thang đứng thật là khéo thay,
Bậc thang trèo đến tận mây,
Thì điều này có cơ may, hỡi nàng!
5.  Bao giờ chuột nhắt leo thang
Cùng nhau ăn hết mặt trăng sáng ngời.
Đem La-hầu xuống mặt trời,
Thì điều này hẳn có thời xảy ra!
6.      Khi đàn ruồi uống từng vò
Rượu nồng đầy đủ, tự do reo mừng
Ẩn mình trong đám than bừng,
Thì điều như thế họa hoằn xảy ra!
7.        Khi bầy lừa khéo điểm tô
Môi hồng, mặt trắng làm trò khéo thay,
Trổ tài múa hát thật hay,
Điều này hẳn có cơ may, hỡi nàng!
8.        Bao giờ quạ, cú từng đàn
Cùng nhau tụ họp luận bàn riêng tư,
Tỏ tình âu yếm chuyện trò,
Điều này có thể xảy ra, hỡi nàng!
9.        Bao giờ nhặt lá trên ngàn
Từng cây rừng xuống kết làm dù che
Chống mưa ồ ạt tứ bề,
Có cơ xảy đến điều kia, hỡi nàng!
10.      Khi đàn chim sẻ cố mang
Tuyết sơn đủ vẻ huy hoàng hùng anh,
Ngậm trong chiếc mỏ xinh xinh,
Họa may có thể sự tình xảy ra!
11.   Khi chàng trai nhẹ đẩy đưa
Chiếc thuyền buồm vượt biển xa ngàn trùng
Với lòng can đảm anh hùng
Điều này chắc hẳn mới mong, hỡi nàng!
Như thế bậc Đại sĩ ngâm mười một vần kệ nêu rõ những sự kiện không thể xảy ra. Nàng kỹ nữ nghe xong, xin được ngài tha thứ và trở về Ba-la-nại. Nàng trình bày mọi việc với vua và xin tha mạng, vua liền ân xá cho nàng.
*
Sau pháp thoại, bậc Đạo sư bảo:
-  Này các Tỷ-kheo, nữ nhân thật là vô ơn, phản bội như thế.
Rồi Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Khi kết thúc các Sự thật, vị Tỳ- kheo thối thất đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
-  Thời ấy vua là Ānanđa và vị khổ hạnh chính là Ta.
426. CHUYỆN CON BÁO
(TIỀN THÂN DĪPI)
Bác ơi, bác có được khang an...
Bậc Đạo sư kể lại chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên vê một con dê cái.
Một thời, Trưởng lão Moggallãna ờ trong một am thất có một cửa, trong một vùng đất được rào và núi đồi bao bọc. Lối đi có mái che của nhà gần cửa ấy. Một vài mục tử nghĩ rằng hàng rào ấy là chỗ tốt cho đàn dê, nên họ lùa dê vào đó và sống thoải mái.
Một hôm, họ đến vào buổi chiều đem cả bầy dê đi. Nhưng có một con dê cái đã lang thang quá xa, không thấy bầy dê ra đi và bị bỏ lại một mình. Sau đó, khi nó ra đi, một con báo thấy nó, muốn ăn thịt bèn đứng bên cửa của hàng rào. Dê cái nhìn quanh và thấy con báo. “Báo đứng đó vì muốn giết ta và ăn thịt,” dê suy nghĩ: “Nếu ta quay đầu bỏ chạy, ta sẽ mất mạng. Vậy ta phải can đảm lên.” Rồi dê giương đôi sừng, vùng chạy thẳng trước mặt báo với tất cả dũng lực. Dê thoát được móng vuốt báo, dù con báo rung mình vì nó tưởng sẽ chụp được dê. Rồi chạy hết tốc lực, con dê bắt kịp cả đàn.
Vị Trưởng lão quan sát cách các súc vật ấy đối xử với nhau. Hôm sau vị ấy đi trình đức Như Lai:
-   Bạch Thế Tôn, con dê cái đã đạt được một kỳ công nhờ có sẵn mưu lược và thoát được con báo.
Bậc Đạo sư đáp:
-   Này Moggallāna, lần này con báo không bắt được dê, nhưng ngày xưa báo đã giết dê dù dê kêu lớn, rồi ăn thịt nó.
Và theo lời thinh cầu của Tôn già Moggallāna, Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, có thời Bồ-tát được sinh vào một làng ở quốc độ Magadha (Ma-kie6t5-đà), trong một gia đình giàu có. Khi lớn lên, ngài từ bỏ tham dục
và sống đời tu hành, đạt được thiền định viên mãn. Sau khi sống rất lâu ở Tuyết sơn, ngài đến Rājagaha (Vương Xá) để tìm muối và giấm, rồi về cư trú trong thảo am ngài đã dựng; trong một thung lũng có rào chắn.
Giống như phần duyên khởi, các mục tử lùa bầy dê ra đi và cũng như trên, một hôm, khi một dê cái đi ra chậm hơn bầy kia, một con báo đợi sẵn ở cửa, nghĩ cách ăn thịt nó. Khi con dê thấy con báo, nó suy nghĩ: “Đời ta tàn rồi, bằng một mưu kế nào đó ta phải dụ nó vào cuộc chuyện trò vui vẻ ân cần để làm dịu lòng nó và cứu mạng ta.” Vừa đứng từ xa bắt đầu nói chuyện thân thiện với con báo, dê ngâm vần kệ đầu:
1. Bác ơi, bác có đưọc khang an,
Và bác lâu nay mạnh khỏe chăng?
Mẹ cháu nhắn đưa lời kính hỏi,
Cháu mong cùng bác kết thân bằng!
Nghe vầy, báo suy nghĩ: “Con bé này muốn đánh lừa ta bằng cách gọi tá là 'bác', nó không biết ta hung dữ ra sao cả.” Vì thế báo ngâm vần kệ thứ hai:
2. Cô giẫm đuôi ta đấy, bé dê,
Và làm ta phải bị đau ghê.
Tường rằng nhờ gọi ta là “bác”
Cô được tự do để trở về!
Khi nói vậy, dê đáp:
-     Thưa bác, xin đừng nói như vậy.
Và nó ngâm vần kệ thứ ba:
3. Tôi đi phía trước mặt, thưa ngài,
Ngài vẫn ngồi kia đối diện tôi,
Đuôi của ngài nằm sau phía ấy,
Làm sao tôi lại giẫm lên đuôi?
Báo đáp:
-Này dê cái, cô nói gì vậy? Có nơi nào lại không có đuôi của ta trải ra chứ?
Và nó ngâm vần kệ thứ tư:
4. Suốt cả trong toàn bốn đại châu,
Với sông hồ biển núi non cao,
Đuôi ta trải rộng ra cùng khắp,
Sao cẳng dê không giẫm nó nào?
Khi nghe vầy, dê cái nghĩ: “Con ác thú này không bị lời ngon ngọt quyến rũ. Vậy ta sẽ đáp lại nó như một kẻ thù.” Rồi dê ngâm vần kệ thứ năm:
5.Ta biết đuôi ông ác thật dài,
Vì ta đã được báo tin rồi,
Anh em cha mẹ đều khuyên bảo
Lúc trước ta bay bổng giữa trời!
Báo lại nói;
-   Ta biết cô đã bay giữa trời. Nhưng khi cô đến, cô đã làm hỏng miếng mồi của ta bằng cách đáp xuống ấy!
Rồi báo ngâm vần kệ thử sáu:
6.   Bóng dáng cô dê ờ giữa trời
Bay qua không khí ấy mà thôi,
Đã làm kinh sợ đàn nai nọ,
Vì thế mồi ta bị hỏng rồi!
Nghe vầy, dê sợ chết không còn có thể tìm cớ nào khác nữa, liền kêu lớn:
-         Bác ơi, xin đừng phạm một việc ác độc như thế, xin tha mạng cháu đi. Nhưng dù dê kêu lớn, báo vẫn chụp vai nó, giết chết và ăn thịt dê.
7.Chính dê kêu lớn để cầu ân,
Sons máu thịt kia mới thoả lòng,
Dã thú chụp dê vào cổ họng,
Ác nhân không tỏ chút ân cần.
8.Kẻ ác không sao biết tỏ ra
Ẩn tình, chánh hạnh, tránh đường tà,
Nó thù ghét nhừng người lương thiện,
Thượng sách là nên xáp lá cà!
Đây là hai vần kệ phát xuất từ Trí tuệ tối thắng của đức Phật.
Một vị Thánh nhân khổ hạnh chứng kiến tất cả câu chuyện của hai con thú này.
*
Sau pháp thoại, bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
—  Thời ấy, con dê cái và con báo là con dê cái và con báo bây giờ, vị Thánh nhân khổ hạnh chính là Ta.
/29
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây