Tác giả: Hòa thượng - Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 766.
Ý kiến bạn đọc
(TIỀN THÂN CAKKAVĀKA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo tham lam.
Người ta bảo vị ấy tham muốn các vật dụng cần thiết trong đời sống xuất gia và bỏ quên mọi phận sự của một Sư trưởng và Giáo thọ hướng dẫn đệ tử, thường vào thành Sāvatthi thật sớm. Sau khi ăn cháo gạo tuyệt hảo với nhiều loại thực phẩm loại cứng tại nhà nữ cư sĩ Visākhā, lại ăn thêm suốt ngày nhiều loại cao lương mỹ vị với cơm thịt, và vẫn chưa thoả mãn, ông đi từ đó đến nhà ông Tiểu cấp Cô Độc, cung vua Kosala và nhiều nơi khác nữa. Vì thế một hôm, có cuộc thảo luận tại Chánh pháp đường liên hệ đến tính tham lam của ông.
Khi bậc Đạo sư biết đề tài Tăng chúng đang thảo luận, Ngài truyền đưa vị Tỷ-kheo đến và hỏi có thật ông tham lam chăng. Và khi ông đáp:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Bậc Đạo sư hỏi:
- Này Tỷ-kheo, tại sao ông tham lam? Ngày xưa cũng vì tham ăn, không thỏa mãn với những xác voi chết, ông đã rời Ba-la-nại và lang thang quanh quẩn bờ sông Hằng, vào tận vùng Tuyết sơn.
Và sau đó, ngài kể một chuyện quá khứ.
Khi đến một hồ sen rộng nhiều rùa cá, nó thấy hai con chim thiên nga với bộ lông vàng óng ả sống bằng cây rong sevāla, nó nghĩ: “Đôi chim này
Vì vậy quạ đến gần, sau lời chào hỏi ân cần theo thông lệ với đôi chim khi chúng đang đậu trên ngọn cây, quạ ngâm vần kệ ca ngợi chúng:
Quanh quẩn đó đây, lạc thú tràn,
Chim loại gì người yêu mến nhât,
Là điều ta muốn biết cho tường.
Nghe vậy, hồng nga ngâm vần kệ thứ hai:
2. Này quạ, vượt lên mọi dã cầm,
Hồng nga được hạnh phúc ban ân,
Mọi miền vang dậy tình thân ái
Người lẫn chim đều vẫn tán dương.
Hãy biết hồng nga là ngỗng đỏ
Bạo gan vùng vẫy nước sông Hằng.
Nghe vầy, quạ ngâm vần kệ thứ ba:
3. Trái gì sung mãn ờ trên sông
Tìm thấy “thịt” cho bạn ngỗng hồng?
Hãy nói món trời cho ngỗng hưởng
Để sinh sắc đẹp, lực tăng cường?
Hồng nga liền ngâm vần kệ thứ tư:
4. Chẳng trái gì ăn ở giữa sông,
Và đâu có “thịt” với chim nồng,
Sevãla ấy đem chà vỏ
Làm thức ăn không có lỗi lầm.
Sau đó, quạ ngâm hai vần kệ:
5. Ta chẳng thích lời ấy, ngỗng hồng
Trước kia ta thưởng thức cần dùng
Để nuôi ta sống, cần phù hợp
Với dáng bề ngoài ta ước mong.
6. Nay ta nghi hoặc, bởi ta ăn
Gạo, muối, dầu, bơ, thịt, quả ngon
Như các anh hùng say yến tiệc
Vậy ta thưởng thức đầy hương vị,
Song dẫu ta đang sống thật sang,
Hình dáng bề ngoài ta vẫn thế
Bên hồng nga chẳng thể ngang bằng!
Trong vùng nghĩa địa hỏa thiêu người,
Tham lam, quạ vẫn bay lơ lửng
Săn đuổi mồi ngon cám dỗ hoài.
8.Song những ai mong phạm ác hành,
Chỉ vì dục lạc, giết sinh linh,
Lương tâm giày xéo thân mòn mỏi,
Vẻ đẹp tráng cường hủy hoại nhanh.
Hình dung cường tráng, vẻ xinh tươi,
Bởi vì mỹ sắc, ta cần biết,
Chẳng phải thuộc vào thực phẩm thôi
- Ta chẳng muốn có sắc đẹp của thiên nga nữa.
Và nó bay đi xa với tiếng kêu quác quác.
Sau pháp thoại, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc kết thúc các Sự thật, vị Tỷ-kheo tham lam đã đắc Nhị quả (Nhất Lai).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, con quạ là Tỷ-kheo tham lam này, hồng nga mái là mẫu thân Rāhula và hồng nga trống chính là Ta.
(TIỀN THÂN HALIDDIRĀGA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một chàng thanh niên bị một thiếu nữ thô tục cám dỗ. Phần duyên khởi chuyện này sẽ xuất hiện trong Chương mười ba, Tiền thân Cūḷanārada (Sổ 477, tập IV).
— Giới đức được hộ phòng cẩn mật ở rừng sâu, nơi các đặc tính của dục lạc như sắc đẹp, tiếng hay và các thứ tương tự như thế không có mặt, nên giới đức ấy không mang lại nhiều kết quả; song nó sẽ mang kết quả sung mãn trong cõi đời thế tục khi đối diện trực tiếp với sắc đẹp cùng các thứ kia. Vậy chàng hãy đi cùng thiếp về hộ phòng giới đức tại đó.
Và nàng ngâm vần kệ đầu:
Con người có thể giữ tâm lành,
Dễ dàng chịu đựng trò lôi cuốn.
Song ở thôn quê hoặc thị thành,
Đầy rẫy biết bao mùi cám dỗ,
Khi nghe vậy, chàng khổ hạnh trẻ tuổi đáp:
- Cha ta đã vào rừng. Khi người trở lại, ta sẽ xin phép người và đi theo nàng.
Nàng suy nghĩ: “Có lẽ chàng còn thân phụ. Nếu vị ấy thấy ta ờ đây, vị ấy sẽ lấy đầu mũi đòn gánh đánh chết ta. Ta phải chạy trốn trước.” vì thế, nàng bảo chàng trai:
Khi nàng đã đi rồi, chàng không đem củi về, cũng không lấy nước uống, mà chi ngồi thừ người suy nghĩ miên man, đến khi cha về chàng cũng không ra đón.
Vì thế, cha chàng hiểu con ngài đã rơi vào uy lực của nữ nhân, liền bảo:
- Này con, sao con chẳng tìm củi hay mang nước về uống, cũng chẳng có gì ăn, sao con chẳng làm gì cả mà chỉ ngồi thừ người ra suy nghĩ?
Chàng trai khổ hạnh đáp:
- Thưa cha, người ta nói rằng giới đức được hộ phòng trong rừng hoang không đem lại kết quả mấy, nhưne nó sẽ phát sinh nhiều kết quả giữa cõi đời. Con muốn đi hộ phòng giới đức tại đó. Bạn đồng hành của con đã đi trước và bảo con theo sau. Vậy con muốn đi cùng bạn con. Nhưng khi sống tại đó, con phải cư xử theo cách nào?
Vừa hỏi câu này. Chàng vừa ngâm vần kệ thứ hai:
Ví lỡ con đi lạc bước đường,
Từ chốn rừng này vào xóm nọ,
Người nào giữ đức độ hiền lương,
Hay là môn phái nào tu tập,
Con phải noi theo thật chánh chơn?
Và con tạo được mối yêu thương,
Người này tin cậy lời con nói,
Tỏ với con kiên nhẫn nhịn nhường,
Người ấy chẳng bao giờ phạm lỗi
Về lời nói, ý tưởng hay thân,
Hãy đem người ấy vào lòng dạ,
Theo sát người kia tựa bạn vàng.
5-6. Với hạng người thay đổi lạ lùng
Như lời loài khỉ vượn nhảy lung tung,
Tính tình bất định, thì con nhớ
Đừng hướng tâm giao kết bạn cùng,
Một mình trơ trọi ở trong rừng.
7. Hãy tránh xa đường hướng ác hành,
Như con tránh rắn dữ cho nhanh,
Hay như người lái xe xa lánh
Một lối đi gai góc gập ghềnh.
8-9.Các nỗi khổ đau vẫn ngập tràn
Khi người hầu cận hạng si cuồng;
Đừng giao kết bọn người ngu xuẩn,
Lời nói của cha phải phục tuân,
Làm bạn với phường vô tri ấy
Chỉ làm mồi khổ não đau buồn.
- Nếu con đi đến chỗ người đời, con không thể tìm được các bậc hiền trí như cha. Con sợ đến đó lắm rồi. Con muốn ở lại đây hầu cận bên cha.
Sau đó, phụ thân chàng lại khuyến giáo nhiều hơn nữa và dạy chàng các nghi thức tu tập đưa đến thiền định vi diệu. Rồi chẳng bao lâu. chàng trai phát triển các Thắng trí và các Thiền chứng; và về sau chàng cùng cha đều được sinh lên cõi Phạm thiên.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, vị khổ hạnh trẻ tuổi là Tỷ-kheo có tâm hướng về thế tục này, cô gái thuở ấy là cô gái ngày nay và cha chàng chính là Ta.
(TIỀN THÂN SAMUGGA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo có tâm hướng đến thế tục.
Chuyện kể rằng, bậc Đạo sư hòi có thật vị ấy đang tham đắm thế tục chăng, và khi ông thú nhận đúng như vậy. Ngài bào:
- Này Tỷ-kheo, tại sao ông ham muốn nữ nhân? Nữ nhân thật là độc ác, vô ơn. Ngày xưa, các ác quỷ Asura (A-tu-la) nuốt nữ nhân vào bụng và dù canh giữ nữ nhân trong bụng, chúng cũng không thể làm cho nữ nhân trung thành với một nam nhân được. Vậy thì bằng cách nào ông sẽ có khả năng làm chuyện ấy.
Rồi sau đó, Ngài kể một chuyện đời xưa. .
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát từ bỏ tham dục lạc thế gian, vào vùng Tuyết sơn theo đời tu tập, ngài ờ đó sống bằng quả rừng và phát triển các Thắng trí cùng các Thiền chứng.
Không xa thảo am của ngài, có một ác quỷ Asura (A-tu-la). Thỉnh thoảng nó đến gần bậc Đại sĩ và nghe pháp, nhưng vẫn đứng trong rừng trên xa lộ, nơi có nhiều người tu tập, nó bắt họ và ăn thịt.
Thời ấy, có một nữ nhân quý tộc ở quốc độ Kāsi, cực kỳ diễm lệ, sống ở một làng biên địa. Một hôm, nàng đi thăm cha mẹ và khi trở về, ác quỷ này thấy bọn người theo hộ tống, nàng liền hóa hình khủng khiếp nhảy vào họ. Bọn người này đánh rơi khí giới cầm trong tay và chạy trốn. Ác quỷ thấy giai nhân ngồi trên xe ngựa, đâm ra say mê nàng, liền đem nàng về hang làm vợ.
Từ đó, ác quỷ đem cho nàng bơ sữa, gạo, cá, thịt và các món ăn khác cùng trái cây để ăn và điểm trang nàng với đủ thứ y phục châu báu. Để canh
Một hôm, nó muốn tắm, liền đến hồ nước kéo hộp ra và đem nàng ra ngoài. Nó tắm rửa, xoa dầu thơm cho nàng và khi đã mặc xiêm y cho nàng xong, nó bảo:
- Nàng hãy vui chơi giây lát ngoài trời.
Rồi không nghi ngờ có sự nghi hại nào, ác quỷ đi hơi xa để tắm.
Vừa lúc ấy, chàng con trai của Vāyu, một tà thuật sư, đeo kiếm bên lưng, đang du hành trên không. Khi nàng thấy y, nàng đưa tay theo kiểu làm dấu hiệu cho y đến gần.
Tà thuật sư liền đáp xuống đất. Sau đó, nàng đặt y vào hộp rồi ngồi lên đó, đợi ác quỷ Asura đến, trước khi nó bước lại gần chiếc hộp, nàng mở hộp ra và bước vào, nằm trên vị tà thuật sư, lấy xiêm áo của nàng phủ lên người y. Ác quỷ Asura đến nơi, không quan sát kỹ chiếc hộp cứ tưởng chỉ có cô nàng, nên lại nuốt hộp vào bụng và trở về hang.
Trong khi đi đường, nó suy nghĩ: “Đã lâu lắm từ khi ta thăm vị ẩn sĩ khổ hạnh. Hôm nay ta muốn đi đảnh lễ ngài.” Còn ngài đã thấy nó từ đằng xa, biết rằng có hai người trong bụng ác quỷ, nên ngài ngâm vần kệ đầu bảo nó:
Chào mừng ba vị đến thăm nhà,
Vui lòng ở với ta giây lát,
Ta chắc các ngươi sống thuận hòa,
Hạnh phúc, vì lâu ngày chẳng thấy
Vị nào qua lại chốn đường xa.
Chứ không người, vật khác đi cùng
Cớ sao ngài nói, thưa Tôn giả,
“Kìa đến từ đâu, các bạn vàng
Tất cả ba người cùng đủ mặt,
Vị khổ hạnh này đáp:
- Ngươi có thật sự muốn nghe lý do chăng?
- Thưa vâng, bạch Thánh giả.
- Vậy hãy nghe đây.
Ngài đáp và ngâm vần kệ thứ ba:
Nằm yên trong hộp ấy là hai
Được canh phòng kỹ trong lòng kín,
Chơi với Vāyu tử thật vui!
Và vô cùng hốt hoảng, ác quỷ nhả chiếc hộp ra, đặt trước mặt nó.
Bậc Đạo sư muốn làm sáng tỏ vấn đề với Trí tuệ tối thắng của ngài, liền ngâm vần kệ thứ tư:
Nhả ra chiếc hộp tự trong mình,
Đặt ngay xuống đất nhìn cô vợ
Trang điểm vòng hoa thật đẹp xinh,
Như thể cô dâu cùng chú rể
Vãyu tử nọ hưởng men tình!
Đắm chìm hạ liệt bọn nam nhân,
Làm thân nô lệ cho nhi nữ,
Tôi giữ nó vào trong bụng luôn
Như chính đời tôi; song khốn nạn,
Nó chơi trò mất nết hư thân.
6. Ngày đêm săn sóc nó, canh chừng
Như ẩn sĩ chăm chút lửa rừng,
Song nó vẫn sa vào tội lỗi
Dính vào nữ giới tất nhiên phải
Gánh chịu bao ô nhục cuối cùng.
7.Tường giấu trong mình, chẳng thấy ai,
Nó là sở hữu của riêng tôi,
Song tên nó chính là “dâm phụ,”
Nó phạm tội kia trái đạo trời.
Liên lụy nữ nhân ắt phải chịu
Nhận bao ô nhục đến tàn đời.
8.Bọn nam nhi thật chỉ hoài công
Địch với ngàn mưu chước nữ nhân,
Tin tưởng hộ phòng là chắc chắn
Giống như vực thẳm cứ xuôi dần
Xuống miền địa ngục bao chàng ngốc,
Nó đã lôi vào chỗ liệt vong.
9. Người tránh lối đường của nữ nhi,
Sống đầy hạnh phúc thoát sầu bi,
Thấy niềm cực lạc trong cô tịch,
Xa lánh hồng nhan phản bội kia!
- Bạch Thánh giả, con đã được ngài cứu mạng. Vì nữ nhân độc ác kia. con suýt bị tà thuật sư giết chết.
Sau đó, Bồ-tát thuyết pháp cho nó và bảo:
- Đừng làm hại nàng ấy. Hãy giữ giới hạnh.
Rồi ngài an trú nó vào Ngũ giới.
Ác quỷ nói:
- Dù con đã giữ nó trong bụng, con vẫn không thể giữ nó an toàn được. Vậy còn ai giữ được nó nữa?
Vì thế, nó thả cho nàng đi, rồi trở về hang cũ trong rừng.
- Thời ấy, vị khổ hạnh có thần thông chính là Ta.
(TIỀN THÂN PŪTIMAMSA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc ngụ tại Kỳ Viên về việc chế ngự dục tham.
Có một thời, nhiều Tỷ-kheo không hộ phòng các căn môn. Bậc Đạo sư bảo trưởng lão Ãnanda:
- Ta phải giáo huấn các Tỷ-kheo này.
Và do tăng chúng thiếu sự điều phục thân tâm, Ngài triệu tập các Tỷ- kheo lại rồi ngồi trên bảo tọa được trang hoàng lộng lẫy, Ngài bảo các vị:
- Này các Tỷ-kheo, thật không chính đáng khi một Tỷ-kheo chịu sự chi phối của sắc đẹp cá nhân (tịnh tướng) khiến vị ấy sinh lòng luyến ái các đặc điểm thể chất hoặc tinh thần của con người, vì giả sử vị ấy chết ngay lúc ấy, vị ấy sẽ bị tái sinh vào địa ngục, ác thú, đọa xứ; vậy các ông đừng sinh tâm luyến ái các đặc điểm thể chất cùng các thứ tương tự như thế. Một Tỷ-kheo không nên để tâm đến các đặc điểm tinh thần hay thể chất. Những ai làm như vậy ngay trong cảnh đời hiện tại này đều bị hoàn toàn hủy hoại. Vì thế, này các Tỷ-kheo, con mắt tham dục cần phải được tiếp xúc với cái đinh sắt nóng đỏ mới có ích lợi.
Đến đây, Ngài nói thêm chi tiết:
- Có lúc các ông cần quán sát tịnh tướng, và có lúc các ông đừng quan tâm đến nó. Vào lúc quán sát tịnh tướng, đừng quán sát nó dưới ảnh hưởng của vật khả ái, nhưng hãy quán sát nó dưới ảnh hưởng của vật bất khả ái. Như vậy, các ông sẽ không bị đọa lạc khỏi trú xứ chân chánh của mình. Và trú xứ này của các ông là gì? Đó chính là Bốn thiền quán chân chánh, Thánh đạo Tám ngành và Chín trú xứ siêu việt. Nếu các ông đi đúng trong lĩnh vực chân chánh này của mình, Ác ma sẽ không tìm được lối vào; song nếu các ông bị tham dục chi phối và quán sát sự vật dưới ảnh hưởng của tịnh tướng cá nhân như con chó rừng Pūtimamsa, thì các ông sẽ bị đọa lạc
Và cùng với các lời này, Ngài kể một chuyện quá khứ.
Không xa chỗ ở của chúng, có con chó rừng tên là Pūtimamsa sống trong hang với vợ nó là Veṇī.
Một hôm, nó quanh quẩn cùng vợ, rình rập bầy đê và suy nghĩ: Ta phải tìm cách ăn thịt mấy con dê này.” Rồi nhờ mưu mẹo, nó giết được một con dê. Cả hai vợ chồng nó nhờ ăn thịt dê trở thành lực lưỡng, đẫy đà. Dần dần số dê giảm xuống.
Trong số đó, có con dê cái khôn ngoan tên là Meḷamātā. Dù nhiều mưu kế tài giỏi, chó rừng cũng không thể giết dê được, nên lúc bàn luận với vợ, nỏ bào:
- Nàng ơi, tất cả bầy dê đã chết hết. Chúng ta phải bày mưu ăn thịt dê cái này, giờ đây là kế hoạch của ta. Nàng phải đi một mình, làm thân với dê cái, rồi khi niềm tin tưởng đã phát sinh giữa nàng và nó, ta sẽ nằm xuống giả vờ chết. Sau dó, nàng đến gần dê cái, bảo: “Bạn ơi, chồng tôi đã chết, tôi đang khốn khổ, trừ bạn tôi không có ai cả. Vậy hãy đến đây cùng tôi than khóc và chôn xác chồng tôi.” Và cùng với những lời này, nàng hãy đến đưa dê lại đây với nàng. Sau đó ta sẽ nhảy lên cắn cổ nó giết đi.
Chó cái sẵn sàng đồng ý. Sau cuộc kết giao bằng hữu với dê cái khi lòng tin tưởng đã vững chắc, nó nói với dê cái những lời do chồng nó đưa ra. Dê cái đáp:
- Bạn ơi, cả họ hàng nhà tôi bị chồng nàng ăn thịt. Tôi sợ lắm. Tôi không dám đi.
- Đừng sợ gì cả, chó chết rồi làm sao hại bạn được nữa?
- Chồng chị có ác ý lắm nên tôi sợ.
Nhưng sau khi bị nài nỉ van xin mãi, dê cái suy nghĩ: “Chắc có lẽ nó chết thật rồi,” nên đồng ý đi với chó cái. Nhưng trên đường đi, nó suy nghĩ: “Ai biết chuyện gì sẽ xảy ra?” nên sinh lòng nghi ngờ, nó bảo chó cái đi trước và đề phòng chó đực rất tinh tế.
Khi chó cái hỏi tại sao nó chạy trốn, dê cái ngâm vân kệ đầu nêu lý đo:
Vẻ chó nhìn dê thật ghét căm,
Với bạn thế, ta cần thận trọng,
Và nên chạy trốn thật nhanh chân.
Lại khoe đã kết bạn thân tình,
Bơ vơ trong bụi, ngồi than khóc,
Vì bị Meḷa phỉnh gạt mình.
Ngu si, chàng đã ngẩng đầu cao,
Trừng trừng, chàng mở to hai mắt,
Dù giả vờ nằm chết đó sao?
4. Người nào khôn khéo đúng thời cơ,
Biết nhắm mắt và mở mắt to,
Ai mở mắt nhìn không đúng lúc,
Như Pūti nọ, phải buồn lo!
Đây là vần kệ xuất phát từ
Trí tuệ tối thắng của đức Phật.
- Chàng ơi, đừng bực mình nữa, thiếp sẽ tìm cách mang dê lại đây và khi nó đến, chàng hãy canh chừng và chụp lấy nó.
Sau đó, nó đi tìm dê cái và bảo:
- Bạn ơi, bạn đến thăm thật ích lợi cho chúng tôi; vì ngay khi bạn vừa xuất hiện, chồng tôi đã hồi tỉnh và nay đã sống lại rồi, xin hãy đến nơi nói chuyện thân tình với chàng.
Nói xong nó ngâm vần kệ thứ năm:
Xin đem bát cháo đến nhà tôi,
Chồng tôi tưởng chết, nay hồi tỉnh,
Hãy viếng chàng, thăm hỏi thật vui.
Ta đem bát cháo, dạ mừng vui,
Với đoàn hộ tống ta đi đến
Ăn tiệc tưng bừng, nhanh bước thôi.
Để đãi bạn, tôi phải nhiệt tình,
Danh tánh những ai thăm hỏi đó,
Xin cho tôi biết thật chân thành.
Dê ngâm kệ thứ tám đáp lời:
8.Chó săn nâu xám, bốn mắt lồi,
Hình quỷ Jambuk hộ tống tôi,
Thôi hãy về nhà, mau sửa soạn
Dồi dào yến tiệc để chào mời.
- Mỗi chó hình quỷ này được năm trăm chó khác hộ tống, do vậy ta sẽ có một đoàn tuỳ tùng cả hai ngàn con chó canh giữ. Nếu chúng không thấy thức ăn, chúng sẽ giết luôn bạn và chồng bạn để ăn thịt đấy.
Nghe vậy, chó cái kinh sợ đến độ suy nghĩ: ‘Ta đã chán ngán việc nó đến thăm nhà ta rồi. Ta sẽ tìm cách ngăn nó đến.” Rồi chó cái ngâm kệ:
Đồ đạc sẽ nhanh chóng mất đi.
Ta sẽ đem lời dê nhắn gửi,
Đứng yên, đừng nói nữa, ta về!
- Thời ấy Ta là vị Thần sống tại rừng ấy trên một cây cổ thụ.
(TIỀN THÂN TITTIRA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú ngụ tại núi Linh Thứu, về dự định của Devadatta mưu sát Ngài.
Chính vào thời ấy, Tăng chúng bắt đầu thảo luận tại Chánh pháp đường:
— Này các Hiền giả, than ôi, Devadatta thật là hạ liệt và vô liêm sỉ biết bao! Vị ấy kết hợp với Thái tử Ajātasattu lập mưu sát hại đức Phật Chánh Đẳng Giác bằng cách mua chuộc bọn xạ thủ, lăn đá xuống đồi, và thả lỏng con voi Nāḷāgiri.
Bậc Đạo sư bước vào hỏi Tăng chúng đang bàn luận việc gì lúc hội họp, và khi nghe kể đề tài câu chuyện, Ngài bảo:
- Không phải chỉ bây giờ, mà xưa kia nữa, Devadatta cũng mưu giết ta, song cũng không thể làm gì cho ta kinh hãi được.
Rồi Ngài kể câu chuyện đời xưa.
Một hôm, vị ấy suy nghĩ: “Bao lâu ta còn ở đây, ta sẽ gặp trở ngại cho đời tu hành và các đồ đệ ta cũng không hoàn thành việc học của họ. Ta muốn về ẩn dật trong thảo am trên sườn núi Tuyết sơn và dạy học ở đó.”
Vị ấy báo tin cho các đồ đệ, bảo họ đem mè, gạo xay, đầu, y phục đại loại như thế, rồi đi vào rừng dựng thảo am ở cạnh xa lộ. Mỗi vị đệ tử đến tự xây một thảo am cho mình. Thân quyến họ gửi gạo và các thứ kia, còn dân làng bảo nhau: ‘"Người ta đồn một vị danh sư đang sống nơi kia trong rừng và thuyết giảng kiến thức học thuật,” liền đem quà lúa gạo đến tặng; các người kiểm lâm cũng tặng quà, lại có một người tặng bò cái và bê con để chư vị lấy sữa.
- Thầy chúng ta đã mất trong khi việc học của chúng ta chưa hoàn mãn.
- Nếu chuyện là thế thì các vị đừng lo buồn nữa. Tôi sẽ dạy các vị kiến thức ấy.
- Làm sao gà biết được?
- Tôi thường nghe giáo sư của các vị trong lúc giảng dạy các vị, nên đã học thuộc lòng ba tập Vệ-đà rồi.
- Thế gà hãy truyền cho chúng tôi những gì gà đã học thuộc lòng nhé.
Gà đáp:
- Nào lắng nghe đây.
Rồi gà thuyết giảng mọi điểm khúc mắc cho họ, dễ dàng như người đưa nước suối từ núi cao xuống. Các thanh niên Bà-la-môn vô cùng hân hoan và thu thập kiến thức từ con gà gô thông thái này. Con gà gô đậu trên chỗ giáo sư danh tiếng ấy thường ngồi, và thuyết giảng về tri kiến Vệ-đà. Các thanh niên làm cho gà chiếc lồng vàng và buộc một tấm ván qua đó, cung cấp cho gà đủ mật ong, hạt ngũ cốc rang trong chiếc đĩa vàng lại còn tặng đủ thứ hoa có màu sắc rực rỡ và tỏ vẻ vô cùng tôn kính gà gô
Tiếng đồn vang dậy khắp Diêm-phù-dề (Ấn Độ) rằng một con gà gô rừng đang dạy Thánh kinh cho năm trăm thanh niên Bà-la-môn. Vào lúc ấy dân chúng mở lễ hội lớn, tụ tập cùng nhau trên đỉnh núi. Cha mẹ các thanh niên này gửi lời nhắn các con đến xem lễ hội. Họ liền kể chuyện con gà gô, rồi ủy thác gà gô cùng thảo am của họ cho tắc kè chăm nom, và họ ra đi đến nhiều kinh thành.
Lúc ấy, một vị khổ hạnh lõa thể độc ác du hành đây đó bước tới chốn này. Khi thấy vị ấy, con tắc kè đến nói chuyện thân thiện và bảo:
- Ở chỗ này chỗ kia, ngài sẽ thấy gạo, dầu và các món khác. Hãy nấu cơm và ăn uống no nê!
Sáng sớm, kẻ ác kia nấu cơm và giết luôn hai tắc kè con ăn thịt, làm một món ngon lành. Đến trưa, y giết và ăn thịt luôn con gà gô thông thái, và con bê; đến chiều tối, y vừa thấy con bò về nhà liền giết nó luôn để ăn thịt. Rồi y nằm ngủ ngáy vang dưới gốc cây. Xế chiều, tắc kè trở về thấy vắng hai con liền đi quanh tìm chúng. Một vị Thần cây quan sát tắc kè đang run rẩy toàn thân vì không tìm được các con thơ, liền dùng thân lực đứng trong bọng cây và nói:
- Này tắc kè, đừng run nữa, các con nhỏ ấy cùng gà gô, bê con và bò cái đều bị kẻ độc ác này ăn thịt rồi. Hãy cắn vào cổ cho nó chết đi.
Vị thần vừa nói chuyện như vậy với tắc kè, vừa ngâm vần kệ đầu:
Dù con cho nó thật nhiều quà,
Răng con hãy cắn sâu vào cổ,
Đừng để ác nhân trốn thoát ra.
Chẳng khác áo người giữ trẻ thơ,
Tôi e toàn thể thân mình nó
Chống đỡ răng tôi mạnh lắm mà!
3. Lỗi lầm kẻ hạ liệt vong ân
Đều thấy khắp nơi thật rõ ràng,
Tâm nó chẳng bao giờ thỏa mãn
Bấy giờ, sư tử và cọp rất thân thiết với gà gô. Thỉnh thoảng chúng thường đến thăm gà gô, và đôi khi gà gô cũng bay đi thuyết pháp cho nó. Hôm ấy, sư tử bảo cọp:
- Chúng ta đi thăm gà gô đã lâu rồi, chắc cũng đã bảy tám ngày. Vậy bạn hãy đi đen tin tức của gà về đây.
Con cọp thỏa thuận và đi đến nơi đúng lúc con tắc kè đã chạy trốn nó thấy kẻ gian ác ấy đang ngủ. Trên các bện tóc cùa y thấy có vài cái lông gà và gần đó lại có đống xương bò cái và bê con. Cọp chúa trông thấy cảnh ấy
- Có phải ngươi giết và ăn thịt các con vật này chăng?
- Tôi chẳng giết cũng chẳng ăn thịt chúng.
- Kẻ khốn nạn ác độc kia, nếu anh không giết chúng thì hãy nói cho ta biết ai khác giết? Nếu anh không nói, anh phải chết đấy.
Sợ nguy đến tính mạng, y đáp:
- Vâng thưa ngài, tôi đã giết và ăn thịt các con tắc kè con, bò cái và bê con, song tôi không giết con gà gô.
Mặc dù y cứ phản đối mãi. Cọp cũng không tin y và bảo:
- Anh từ đâu đến đây?
- Tâu ngài, trước đây tôi bán hàng rong để kiếm sống ở xứ Kālinga và
sau khi thử bán vài món xong thì tôi đến đây.
Nhưng sau khi người ấy đã kể hết mọi việc y làm, con cọp bảo:
- Này ác nhân kia, nếu anh không giết gà gô, thì còn ai khác làm việc
đó? Này, ta sẽ mang anh đến trước sư tử, chúa sơn lâm đấy.
Thế là cọp ra đi dẫn theo kẻ ấy trước mặt. Khi sử tử thấy cọp mang y đến, nó liền ngâm vần kệ thứ tư để đặt câu hỏi:
Sao kéo chàng trai trẻ thế ư?
Có việc gì cần, đây muốn biết,
Nói mau thành thật chớ chần chừ?
Hôm nay, tôi đoán, hóa thành ma,
Chuyện xưa kẻ ấy làm tôi sợ,
Nghe được hung tin của bạn gà.
Tội lỗi gì y thú nhận mau,
Đã khiến cọp nghi ngờ đại họa
Xảy ra cho bạn quý ta nào?
Đi đường lởm chởm, gậy tay cầm,
Ở cùng bọn đánh đu nhào lộn,
Đánh bẫy bao súc vật buộc chum.
Nó cũng thường chơi trò súc sắc,
Lưới giăng bắt sống lũ chim muông,
Đánh nhau từng đám dùng đao trượng,
Nó kiếm lời nhờ việc đếm đong.
8. Phản bội lời thề, đánh nửa khuya,
Bị thương, nó chảy máu dầm dề!
Bàn tay nó cháy vì gan góc
Chụp lấy thức ăn nóng vụng về,
Nghe nó sống đời tồi tệ vậy,
Đó là tội ác chất đầu kia.
Giữa tóc người kia mấy sợi lông
Xuất hiện, nên tôi đầy khủng khiếp
Lo gà gô bạn ắt vong thân.
- Thế anh đã giết gà gô thông thái rồi ư?
- Tâu chúa công, vâng, tôi đã giết.
Chúa sư tử nghe y nói thật, nên muốn thả cho y ra đi, nhưng cọp chúa bảo:
- Tên gian ác này đáng chết.
Và ngay tại chỗ, cọp dùng răng xé y tan xác. Rồi cọp đào hố quẳnng thây vào đó.
Khi các thanh niên Bà-la-môn trở về, không thấy gà gô, họ than khóc và bỏ nơi ấy ra đi.
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, ngày xưa Devadatta cũng đã lập mưu giết Ta.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân: