Tác giả: Hòa thượng - Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 766.
Ý kiến bạn đọc
PHẨM BẢY BÀI KỆ
396. CHUYỆN ÁC HẠNH
(TIỀN THÂN KUKKU)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc giáo hóa một quốc vương. (Hoàn cảnh này sẽ xuất hiện trong Tiền thân Tescikuṇa, sổ 521.)
Bấy giờ, nội thất trong cung làm chưa xong, nên mái nhà trên ấy chưa hoàn chỉnh. Các cây rui chống đỡ nóc nhọn chỉ vừa mới được đặt vào đúng vị trí. Vua đã du ngoạn trong ngự viên, khi trở về cung, vua nhìn lên và thấy nóc nhà hình tròn, sợ nó sẽ rớt xuống, vua bước ra đứng bên ngoài, rồi lại nhìn lên và suy nghĩ: “Làm thế nào nóc nhà này đứng yên như vậy. Các rui này ra sao? Và vua liền ngâm vần kệ đầu hỏi Bồ-tát:
Tám cây kèo lớn đỡ quây quần
Gỗ simsapã với sãra thẳng,
Bởi vậy nóc nhà đứng vững chăng?
Được xếp đều quanh dưới mái nhà,
Áp sát vào nhau nâng thật vững,
Cho nên nóc đứng thẳng ngay mà.
Với quốc sư hiền, bạn tận trung,
Sẽ chẳng sa cơ lúc mạt vận,
Như rui đỡ nóc mái thăng bằng.
Ngay lúc ấy, đám thị nữ đem dâng vua một quả bưởi. Vua bảo Bồ-tát:
- Này Hiền hữu, hãy ăn bưởi này.
Bồ-tát cầm bưởi và thưa:
- Tâu Đại vương, người nào không biết cách ăn bưởi sẽ làm cho nó đắng hoặc cay. Song người có trí biết cách lấy chất đắng ra và không bỏ chất chua, hoặc làm hỏng hương vị của bưởi khi ăn bưởi.
Rồi dùng thí dụ này, ngài trình bày cho vua biết cách tạo tài sản chân chánh qua hai vần kệ:
Nếu không gọt vỏ với dao này,
Chỉ ăn phần ruột là thơm ngọt,
Nếu thêm vỏ thì hết ngọt ngay.
Thâu góp thuế trong các xóm làng,
Tăng sản nghiệp nhưng không phạm tội,
Bước đường chân chánh tạo danh vang.
Bồ-tát liền đáp lại:
- Tâu Đại vương, một vị vua cũng phải như vậy.
Rồi Ngài ngâm các vần kệ này để khuyến giáo:
Rễ trắng, nước trong bảo dưỡng cho,
Dưới ánh mặt trời hoa nở đẹp,
Không hề bụi bặm chẳng bùn nhơ.
7. Vậy người có đức hạnh đưa đường,
Khéo luyện ôn nhu, đủ thiện lương,
Như đóa sen trong hồ nước ấy,
Bùn nhơ chẳng cấu uế tâm can.
— Thời ấy, vua là Ãnanda và vị quốc sư có trí chính là Ta.
(TIỀN THÂN MANOJA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Trúc Lâm về một Tỷ-kheo thân cận bạn ác. Hoàn cảnh đã được nêu đầy đủ chi tiết trong tiền thân Mahiḷāmukha (Sổ 26).
Bậc Đạo sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, không phải lần đầu kẻ này thân cận bạn ác Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.
Manoja thường giết trâu rừng và nhiều dã thú khác, nhờ đó nó đem thịt sống về nuôi cha mẹ, em và vợ. Một hôm, trong chỗ săn mồi, nó thấy một chó rừng tên Giriya không chạy được và đang nằm sấp. Nó hỏi:
- Này bạn, sao thế?
- Tâu Chúa công, tôi muốn phục vụ ngài.
- Thế thì tốt.
Sau đó, nó đem chó rừng về hang, Bồ-tát thấy vậy bảo:
- Này con Manoja, chó rừng là loài độc ác tham tàn, hay xúi giục điều xấu, đừng đưa thứ chó này về ở gần con.
Song ngài không ngăn cản được nó.
Thế rồi một hôm, chó rừng muốn ăn thịt ngựa, liền nói với Manoja:
- Tâu Chúa công, trừ thịt ngựa ra, chúng ta không có gì ăn cả. Vậy chúng ta hãy đi bắt ngựa.
- Song nơi đâu có ngựa thế bạn?
- Tại Ba-la-nại, cạnh bờ sông.
- Này con, bầy ngựa là tài sản của vua, mà vua chúa thường có nhiều mưu kế, lại nhiều người thiện xạ bắn cung. Sư tử ăn thịt ngựa không sống lâu được đâu. Từ rày con đừng bắt ngựa nữa.
Sư tử con không theo lời cha khuyên nhủ, cứ tiếp tục bắt ngựa. Vua nghe có con sư tử đến bắt ngựa, liền bảo làm một hồ nước cho ngựa ở trong kinh thành. Song sư tử vẫn đến bắt ngựa. Vua truyền làm chuồng ngựa với máng thức ăn, nước uống đem đến tận nơi cho chúng. Sư tử nhảy vượt bức tường và bắt ngựa từ chuồng ra. Vua liền truyền gọi một xạ thủ có tài bắn nhanh như chớp, hỏi anh ta có thể bắn sư tử chăng. Anh ta tâu có thể, rồi làm một tháp canh gần bức tường, nơi sư tử thường đến và đợi tại đấy.
Sư tử đến, để chó rừng ở một nghĩa địa bên ngoài, còn nó nhảy vào thành bắt ngựa. Người xạ thủ suy nghĩ: “Tốc lực của sư tử này quá nhanh khi nó đến.” Cho nên anh ta chưa bắn nổ, song khi nó trở về mang theo con ngựa, bị vướng víu vì gánh nặng kia, người xạ thủ liền bắn một mũi tên nhọn vào phía đùi sau của sư tử. Mũi tên đâm xuyên suốt ra phía đùi trước và bay vút lên không. Sư tử thét lên:
-Ta bị thương rồi!
Sau khi bắn sư tử xong, vị thiện xạ búng dây cung vang lên như sấm. Chó rừng nghe tiếng sư tử gầm và tiếng cung vang rền, liền suy nghĩ: “Bạn ta đà bị bắn, chắc hẳn phải chết, thôi chẳng còn tình bạn gì với vật đã chết, ta muốn đi về hang cũ trong rừng kia.” Rồi nó ngâm hai vần kệ:
Dây cung phát tiếng sấm vang rền,
Manoja, chúa sơn lâm ấy,
Thân hữu của ta, bị giết liền.
2/. Than ôi, ta phải kiếm khu rừng,
Cố sức hết lòng, thật gắng công,
Ta phải tìm về nơi trú ẩn,
Bỗng dưng tình bạn hóa thành không,
Cha:
Say mê, kết hợp ác thân bằng,
Nhìn Mano ấy đang nằm đó,
Do bởi lời khuyên của chó rừng.
Kết giao với bọn ác thân bằng,
Nhìn Mano ấy đang nằm đó,
Máu chảy nhuộm đầy cả tấm thân.
Trong đời tăm tối phải nằm yên,
Không hề nghe được lời khuyên nhủ
Của bạn thật chân, bậc trí hiền.
Khi người ở địa vị trên cao
Lại tin tường bọn người hèn kém,
Nhìn chúa sơn lâm đã ngã nhào!
Chính nó bị bỏ ruồng;
Ai thân người đồng đẳng,
Chẳng hề bị phụ phàng;
Ai phục người tối thượng,
Sẽ mau chóng thịnh hưng.
Vậy tìm người ưu việt,
Để có chốn nương thân.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, chó rừng là Đe-bà-đạt-đa, Manoja là vị Tỷ-kheo thân cận ban ác em gái là Uppalavaṇṇā (Liên Hoa sắc), vợ của sư tử là Tỷ-kheo-ni Khemā (Thái Hòa), sư tử mẹ là mẫu thân Rāhula và sư tử cha chính là Ta.
(TIỀN THÂN SƯTANA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo ( phụng dưỡng cha mẹ mình. (Hoàn cảnh sẽ xuất hiện trong Tiền thân Sāma số 540)
Thời ấy, vua Ba-la-nại thích săn bắn. Một hôm, vua cùng quần thần đông đảo đi vào một khu rừng rộng khoảng một hai dặm, và truyền lệnh cho tất cả mọi người:
- Nếu có con nai nào chạy thoát ở điểm canh giữ của người nào thì người ấy bị phạt số tiền bằng giá con nai.
Sau khi dựng một túp lều được giấu kín bên vệ đường, quần thần dâng nó cho vua dùng. Bầy nai bị chấn động vì tiếng la hét của đám người bao vây nơi trú ẩn của chúng, rồi một con nai chạy về địa điểm vua canh giữ. Vua nghĩ thầm: “Ta muốn bắn nó,” rồi giương cung lên. Con vật biết mưu kế đánh lừa, thấy mũi tên sắp đến gần sườn liền ngã lăn tròn như thể trúng mũi tên. Vua nghĩ: “Ta đã bắn trúng nó và chạy lại bắt nai.”
Nhưng con nai vùng lên lao vụt nhanh như gió. Quần thân và mọi người kia đều cười nhạo vua. ông liền đuổi theo con nai cho đến khi nó mệt nhoài thì rút kiếm chặt nó làm đôi. Rồi kéo con nai lên một khúc gỗ, ông khiêng nó lên như cái đòn gánh, vừa đi vừa nói: “Ta muốn nghỉ ngơi một lát,” ông đến gần một cây đa bên vệ đường và nằm xuống ngủ say.
Một quỷ Dạ-xoa (Yakkha) tên là Makhādeva tái sinh ở cây đa này, được Thiên vương Vessavaṇa (Tỳ-sa-môn) cho phép bắt mọi sinh vật nào
Cứ ở lại đây, ngươi là món mồi của ta.
Rồi nó cầm lấy tay vua. Vua hỏi:
-Ngài là ai?
-Ta là quỷ Dạ-xoa, sinh ra tại đây. Ta bắt mọi người đến nơi đây để ăn thịt.
Vua lấy hết can đảm hỏi:
-Thế ngài chỉ ăn thịt hôm nay hay ăn mãi?
- Ta sẽ còn ăn mãi mọi vật ta bắt được.
-Thế thì hãy ăn con nai này hôm nay và để ta đi về. Từ ngày mai ta sẽ gửi cho ngài một người cùng với một đĩa cơm mỗi ngày.
- Vậy hãy cẩn thận đấy. Hễ ngày nào không gởi ai đến thì ta sẽ ăn thịt ngươi.
- Ta là quốc vương ở Ba-la-nại, chẳng có việc gì ta không làm được cả.
Quỷ Dạ-xoa nhận lời hứa rồi để vua ra về. Khi vua đến kinh thành, ông đem chuyện ấy kể cho vị cận thần nghe và hỏi những gì cần phải làm.
-Tâu Đại vương, có hạn kỳ nhất định nào không?
- Không.
-Thế thì Đại vương đã tính việc sai rồi đấy. Nhưng không sao cả, có rất nhiều tù nhân trong ngục.
- Vậy khanh cố sắp đặt việc này để cứu mạng ta.
Vị cận thần đồng ý, mỗi ngày bắt một tù nhân từ trong ngục gửi ra cho quỷ Dạ-xoa cùng với một dĩa cơm mà không nói gì với kẻ ấy cả. Quỷ Dạ- xoa ăn hết cả cơm lẫn người. Sau một thời gian, các ngục thất đều trống vắng. Vua tìm không ra người đi đưa cơm, lòng run rẫy sợ chết. Vị cận thần an ủi ông và bảo:
-Tâu Đại vương, lòng tham tài sản còn mạnh hơn lòng tham sống. Ta hãy gói một ngàn đồng tiền đặt trên lưng voi, rồi lấy trống truyền lệnh: “Ai muốn đem cơm cho quỷ Dạ-xoa và lãnh số tiền bạc này?”
Vua nghe lời làm theo như vậy. Bồ-tát suy nghĩ: “Ta chỉ làm công được một xu rưỡi mỗi ngày khó lòng phụng dưỡng mẹ. Nay ta muốn lấy số tiền kia trao cho mẹ rồi đi gặp quỷ Dạ-xoa. Nếu ta thắng nó thì tốt, còn nếu không thì mẹ ta cũng sống an nhàn sung túc.” Vì thế, ngài nói chuyện với mẹ, song bà bảo:
Rồi bà ngăn cản ngài hai lần. Nhưng lân thứ ba, ngài không xin phép mẹ nữa mà đến gặp quan quân nói:
- Thưa các quan, hãy đưa ngàn đồng tiền, tôi nhận mang cơm đi.
Rồi đưa cho mẹ ngàn đồng tiền, ngài bảo:
- Mẹ thân yêu, đừng lo buồn, con sẽ thắng quỷ Dạ-xoa và đem hạnh phúc cho mọi người. Con sẽ trở về nhà khiến cho mẹ đang khóc than phải cười to lên đấy.
Rồi chào mẹ xong, ngài cùng quan quân đi yết kiến vua, rồi kính lễ vua và đứng tại đó. Vua hỏi:
- Này thiện nam tử, cậu muốn đem cơm à?
- Tâu Đại vương, phải.
- Thế cậu cần mang theo vật gì bên mình?
- Tâu Đại vương, đôi hài bằng vàng của ngài.
-Tại sao thế?
- Tâu Đại vương, quỷ Dạ-xoa kia chỉ ăn thịt kẻ nào đứng trên mặt đất dưới gốc cây của nó, còn tiểu tử sẽ đứng trên đôi hài, chứ không phải trên mặt đất.
- Thế còn vật gì nữa?
- Tâu Đại vương, chiếc lọng của ngài.
-Tại sao thế?
- Tâu Đại vương, quỷ Dạ-xoa kia chỉ ăn thịt kẻ nào đứng dưới bóng cây của nó, còn tiểu tử đứng dưới bóng chiếc lọng chứ không phải bóng cây.
- Thế còn vật gì nữa?
- Tâu Đại vương, thanh kiếm của ngài.
- Để làm gì?
- Tâu Đại vương, ngay loài quỷ cũng sợ những người mang khí giới trong tay.
- Thế còn gì nữa chăng?
- Tâu Đại vương, cái bát vàng của ngài, đựng đầy ngự thiện dâng lên ngài.
- Này thiện nam tử, tại sao vậy?
- Một người có trí khôn như tiểu tử mà phải ăn cơm gạo thô trong đĩa đất thì không thích họp chút nào.
- Tâu Đại vương, đừng sợ gì cả, tiểu tử nguyện sẽ trờ về hôm nay sau khi chiến thắng quỷ Dạ-xoa và đem lại an lạc cho ngài.
Thế rồi, ngài cầm mọi thứ cần dùng và đi đến nơi ấy. Ngài sắp đặt mọi người đứng không xa nơi ấy rồi mang đôi hài vàng vào chân, đeo thanh kiếm vào đai, che chiếc lọng trên đầu và cầm bát cơm bằng vàng đến gặp Dạ-xoa.
Quỷ Dạ-xoa nhìn ra đường thấy ngài, liền suy nghĩ: “Người này đến đây không giống bọn người đã đến trước kia, vì duyên cớ gì vậy?”
Bồ-tát đứng gần cây, lấy mũi kiếm đẩy đĩa cơm vào dưới bóng cây rồi đứng gần bóng cây, ngâm vần kệ đầu:
Lại thêm thịt nấu thật ngon thơm,
Makha có ở nhà không đấy,
Xin hãy bước ra nhận để ăn!
Với cao lương mỹ vị trên tay,
Cả cơm cùng với thân người nữa,
Này cậu, ta xơi tuyệt lắm thay!
Tiếp theo, Bồ-tát đáp hai vần kệ:
3.Dạ-xoa sẽ mất vật to hơn
Đổi lấy vật này bé con con.
Tất cả mọi người đều sợ chết,
Chẳng còn ai đến biếu cao lương!
4-Vậy ngài sẽ được cấp cao lương
Tinh sạch nêm gia vị ngọt ngon.
Song nếu ăn ta, thì khó kiếm
Một người nào khác đến đem cơm.
Hãy trở lại thăm hiền mẫu nhé,
Ta cho phép cậu bước đi ngay.
6. Lấy gươm, lọng, bát, cậu thanh niên
Hãy nhắm đường đi, cất bước liền,
Thăm mẹ hiền trong niềm phấn khởi,
Cho bà sống hạnh phúc bình yên.
Mong ước toàn gia được phước ân,
Lệnh vua đã thực hành viên mãn,
Tài sản ta nay được hưởng phần.
- Này bạn, xưa kia bạn đã tạo ác nghiệp, bạn tham tàn độc ác, ăn thịt nhiều người nên tái sinh làm quỷ Dạ-xoa. Từ rày về sau đừng giết hại sinh mạng như vậy nữa.
Thế là ngài nêu rõ mọi công đức nhờ giữ giới hạnh và các nỗi khổ đau vì tạo ác nghiệp. Rồi an trú quỷ Dạ-xoa vào Ngũ giới, ngài bảo:
- Này, tại sao bạn ở trong rừng? Mau lên, ta sẽ để bạn cư ngụ cạnh cổng thành và bảo đem cao lương mỳ vị đến cho bạn.
Sau đó, ngài ra đi cùng quỷ Dạ-xoa, bảo nó cầm kiếm cùng nhiều vật khác và đến thành Ba-la-nại. Quân sĩ báo tin Sutana đã trở về cùng quỷ Dạ- xoa. Vua cùng triều thần đi ra đón Bồ-tát và làm chỗ cư trú cho quỷ Dạ-xoa tại cổng thành, rồi sai người đem cao lương mỹ vị cho nó. Xong, vua vào thành, lấy trống truyền lệnh hội họp toàn dân trong thành để tuyên dương công trạng của Bồ-tát và phong ngài chức vụ thống lãnh quân đội. Còn chính vua được an trú vào lời dạy của Bồ-tát, thực hành nhiều thiện sự, bố thí và các công đức khác nên về sau tái sinh cõi Thiên.
- Thời ấy, quỷ Dạ-xoa là Aṅgulimāla (Người đeo vòng ngón tay), vua là Ānanda và hiếu tử kia chính là Ta.
(TIỀN THẦN GIJJHA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ mình.
Một hôm, Bồ-tát đi kiếm thịt đến gần nghĩa địa và sa chân vào bẫy. Ngài không nghĩ đến mình mà chỉ nhớ đến cha mẹ già: “Giờ đây làm sao cha mẹ sống được? Ta chắc hai vị sẽ chết vì không biết ta mắc bẫy, sẽ bơ vơ khốn khổ và héo mòn dần trong hang núi ấy.” Do vậy, ngài ngâm vần kệ đầu than khóc:
Trong chốn hang sâu của núi đồi?
Ta bị buộc chân vào chiếc bẫy,
Làm nô lệ của Nilīya thôi.
Con của thợ săn:
Tiếng chim đưa đến tận bên tai,
Ta chưa từng thấy hay nghe được
Chim biết thốt ra tiếng giống người.
Làm sao thân lão tìm mồi được
Khi thứu trở thành nô lệ người?
Hơn cả một trăm dặm vượt qua,
Vì cớ sao chim không thấy rõ
Lưới kia bẫy nọ thật gần mà?
Thần chết đang đòi hỏi số phần.
Dù có đứng gần bên chiếc bẫy,
Cùng không thấy bẫy đặt dây giăng!
Ở trong hang núi, hãy chăm nom,
về thăm cha mẹ trong an lạc,
Chim được ta cho thỏa ước mong.
Cầu mong hạnh phúc đến nhà chàng!
Ta về với mẹ cha già yếu,
Chăm sóc hai thân ở dưới hang.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, người thợ săn là Channa (Xa-nặc), cha mẹ ta là thân quyên trong hoàng gia và Thứu vương là Ta.
(BIỆT HIỆU CỦA CHÓ RỪNG - TIỀN THÂN DABBHAPUPPHA)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Upananda, một người của bộ tộc Thích-ca (Sākya).
Vị ấy xuất gia theo Giáo pháp, nhưng lại từ bỏ các hạnh tri túc và những đức hạnh khác nên trở thành tham lam. Đầu mùa mưa, ông đến ở thử hai ba tinh xá, để lại một cái dù hay chiếc hài ở một tinh xá, và một chiếc gậy hay bình nước ở một tinh xá khác, rồi chính ông đến an cư ở một tinh xá khác nữa. Ông bắt đầu trú mưa tại một tinh xá ở thôn quê và bảo:
- Chư Tỷ-kheo phải sống tri túc.
Rồi cố ra vẻ như đang làm cho mặt trăng xuất hiện trên trời, ông giải thích pháp môn đưa đến hạnh tri túc, tán thán đời sống tri túc với các nhu cầu tối thiểu. Nghe lời ông, Tăng chúng ném bỏ mọi y bát tốt đẹp, mang bát đất, phấn tào y (y bằng giẻ rách); ông liền đem các thứ kia về tư thất của mình. Khi mùa mưa và lễ Tự tứ (Pavāraṇā) đã xong, ông chất đầy một xe chở đến Kỳ Viên.
Trên đường đi, dừng lại phía sau một tinh xá trong rừng, ông lấy dây leo quấn hai chân và nói:
- Chắc chắn có thể kiếm được vài thứ ở đây.
Rồi ông đi vào tinh xá. Có hai Tỷ-kheo già đã an cư mùa mưa ở đó, họ kiếm được hai tấm y vải thô và một chiếc mền lông mịn, rồi chẳng biết phải chia chúng ra sao, họ hoan hỷ khi thấy ông đến, nghĩ thầm: “Trưởng lão này sẽ chia các vật dụng cho hai ta,” liền nói:
- Này Hiền giả, chúng tôi không thể chia các y phục dùng cho mùa mưa này được, chúng tôi có bàn cãi về việc này, xin Hiền giả chia giùm chúng tôi.
Vị ấy bằng lòng, chia hai tấm y vải thô cho họ, còn ông lấy cái mên, và bảo họ:
Rồi ông bỏ đi. Hai Trưởng lão này thích chiếc mền, liền cùng đi với ông đến Kỳ Viên và kể câu chuyện với chư Tăng hiểu biết luật, rồi hỏi:
- Có đúng là những vị biết Giới luật lại cướp bóc tài sản như vậy chăng?
Tăng chúng thấy đống y bát do Tỷ-kheo Upananda đem đến, liền hỏi:
-Này Hiền giả, Hiền giả thật có đại phước đức, Hiền giả đã tạo được nhiều thực phẩm và y phục thế kia!
Ông đáp:
-Này các Hiền giả, tôi có phước đức gì đâu? Tôi chỉ lấy được các thứ này theo cách như vầy, như vầy.
Rồi ông đem mọi chuyện kể ra hết cho mọi người nghe.
Tại Chánh pháp đường, Tăng chúng nêu vấn đề thảo luận, bảo nhau:
- Này các Hiền giả, Tỷ-kheo Upananda thuộc bộ tộc Thích-ca, rất tham lam tài vật.
Bậc Đạo sư thấy đề tài của các vị, liền bảo:
- Này các Tỷ-kheo, hành vi của Upannanda không phù họp để tinh tấn. Khi một Tỷ-kheo giảng giải hạnh tinh tấn cho người khác thì trước tiên tự mình phải cho phù hợp, rồi mới giáo giới người khác.
Giữ mình đúng mực trước tiên,
Rồi sau thuyết giảng, bậc hiền vị tha.
Bằng cách ngâm vần kệ Pháp cú này, Ngài giải bày Giáo pháp và nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải Upananda chỉ tham lam lần đầu, mà xưa kia kẻ ấy cũng đã cướp bóc tài vật của loài khác nữa.
Rồi ngài kể một chuyện đời xưa.
-Này chàng, thiếp có một niềm ao ước, thiếp muốn ăn cá hồng rohita tươi. Chó rừng đáp:
-Cứ yên lòng, ta sẽ đem cá tươi về cho nàng.
Rồi nó ra phía con sông, quấn chân bằng dây leo đi dọc theo bờ. Lúc
— Con cá này to lắm, vừa đủ cho hai ta.
Rồi nó ngâm vần kệ đâu:
Ta cầu khẩn bạn giúp ta đây,
Ta vừa bắt cá này to lớn,
Song nó kéo ta mạnh thế này!
Móng vuốt bạn cầm vừng mạnh sao!
Chẳng khác đại bàng câu rắn nước,
Ta câu cá nọ nhấc lên cao!
— Bạn chia cá ra nào.
Rồi chúng cãi nhau nhưng không chia cá được phải ngồi xuống, và để cá nằm đó. Lúc ấy, chó rừng vừa bước tới chỗ ấy. Thấy chó, cả hai đều chào rất lễ phép và nói:
— Thưa Tôn ông có lông màu cỏ xám, con cá này do hai chúng tôi bắt được, rồi sinh chuyện cãi nhau vì chúng tôi không biết cách chia cá. Xin Tôn ông chia cá đều hai phần giùm cho.
Rồi chúng ngâm vần kệ thứ ba:
Tôn ông mang áo xám kia ôi!
Xin ông ổn định giùm tranh chấp
Cho thật công bằng giữa cả đôi.
Làm xong sứ mạng thật hòa bình,
Chư Tôn hãy đề điều tranh chấp
Tại hạ công bỉnh ồn định nhanh.
Còn chú Gambhī, thủ cấp rồi,
Phần giữa dành cho ta xử kiện,
Trả công xứng đáng thế này thôi!
- Các ông ăn đầu đuôi cá chứ đừng cãi nhau nữa.
Rồi ngậm khúc giữa vào mồm, nó chạy bay trước mắt cặp rái cá. Chúng ngồi ủ rũ, như thể vừa mất cả ngàn đồng tiền; rồi ngâm vần kệ thứ sáu:
Chắc chắn là vừa đủ cá thôi,
Nay bị chó rừng mang hết thịt,
Chỉ còn để lại khúc đầu đuôi!
Thâu gọn giang sơn trị nước yên,
Mãn nguyện ta nhìn chàng trở lại,
Ngậm đầy trong mỏ cá tươi nguyên!
Làm sao bắt cá giữa dòng sông?
Phu quân, chàng lập kỳ công ấy,
Cho biết vì sao, thiếp ước mong.
Cạnh tranh làm chúng phải suy tàn,
Cạnh tranh, rái cá mất phần hưởng,
Vì vậy Māyā được miếng ngon.
Gia tài của chúng suy tàn hết,
Công khố nhà vua được thịnh hưng.
- Thời ấy, chó rừng là Upananda, hai con rái cá là hai người kia và Thần cây chứng kiến câu chuyện chính là Ta.