Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015 - Tập IV

Tác giả: Hòa thượng - Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 766.

 

Chương 35: CHƯƠNG CHÍN PHẨM CHÍN BÀI KỆ 427. CHUYỆN CHIM THỨU - Phần 1 (trang 731-750)

CHƯƠNG CHÍN
PHẨM CHÍN BÀI KỆ

427. CHUYỆN CHIM THỨU

(TIỀN THÂN GIJJHA)
Được làm bằng đám gỗ chênh vênh...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bất tuân Giới luật.
Chuyện kể rằng vị ấy là thiện gia nam tử và được truyền giới vào Giáo pháp đưa đến giải thoát; được các vị Pháp sư, Giáo sư đầy thiện chí cùng các đồng Phạm hạnh giáo giới như vầy:
-  Hiền giả phải đi tới hay đi lui như vầy, phải nhìn thẳng hay nhìn nghiêng như vầy, cánh tay phải duỗi ra hay co lại như vầy, các y trong và y ngoài phải được mang như vầy, bình bát phải được cầm như vầy. Khi Hiền giả nhận đủ các thứ ăn để nuôi thân, sau khi tự quán sát, Hiền giả phải thọ dụng nó như vầy, hộ phòng các căn như vầy.
Hiền giả phải tiết độ trong ăn uống và tỉnh giác. Hiền giả phải nhận thấy các bổn phận như vầy đối với chư Tăng đến và đi khỏi tinh xá. Đây là mười bốn qui tắc về phận sự của Tỷ-kheo và tám mươi trọng giới phải hoàn thành đúng đắn, và đây là mười ba pháp thực hành Dhuta về nếp sống cẩn trọng. Tất cả các giới điều này phải được hoàn thành một cách nghiêm túc.
Tuy thế, vị ấy bất tuân Giới luật và thiếu kham nhẫn, không chịu thọ giáo một cách kính cẩn và không tuân lời thầy, lại bảo:
-Tôi không chỉ trích các vị. Tại sao các vị nói với tôi như vậy? Tôi biết điều gì ích lợi cho tôi và điều gì không có lợi.
Tăng chúng nghe được sự bất tuân Giới luật của ông liền kể lại các lồi lầm của ông trong lúc các vị ngồi tại Chánh pháp đường.

Bậc Đạo sư bước vào, hỏi các vị đang bàn luận đề tài gì và truyền gọi Tỷ-kheo ấy đến hỏi:     
-  Này Tỷ-kheo, tại sao khi đã được truyền giới vào Giáo pháp đưa đến giải thoát, ông lại không nghe lời dạy của các vị Giáo thọ có thiện ý kia?  Ngày xưa, ông cũng đã bất tuân lời dạy của các trí giả và gặp cuồng phong Verambā thổi thành tro bụi.
Sau đó, Ngài kể lại chuyện đời xưa.
*
Một thuở nọ, Bồ-tát được sinh làm chim thứu (kên kên) trên núi Linh thứu. Bấy giờ, con của ngài là Supatta, vua kên kên, cường tráng, đây dũng lực và có đám tùy tùng nhiều ngàn kên kên. Thứu vương phụng dưỡng song thân. Do có sức mạnh, Thứu vương thường bay rất xa. Chim thứu cha vẫn thường khuyên nhủ:
-  Này con thân, con đừng bay xa quá những điểm này.
Thứu vương đáp:
-  Được lắm, thưa cha.
Nhưng một hôm trời mưa, Thứu vương bay cùng các kên kên khác, rồi rời đàn phía sau, một mình vượt giới hạn đã được khuyên bảo, nên Thứu vương bay vào cuồng phong Verambā và bị thổi tan thành tro bụi.
Với Tối thắng trí, đức Phật ngâm các vần kệ này minh họa các sự kiện trên:
1.Được làm bằng đám gỗ chênh vênh,
Một lối đi xưa cũ dẫn lên
Những đỉnh núi non cao chót vót,
Thứu con nuôi dưỡng các thân sinh.
2.Đôi cánh hùng cường đầy dũng lực,
Thứu đem mỡ rắn tặng song thân,
Khi cha nhìn thứu bay cao quá
Liều lĩnh du hành, vẫy dạy răn:
3.“Khi con quan sát, hỡi con thân,
Quả địa cầu tròn với đại dương
Bao bọc chung quanh, đùng tiến nữa,
Trở vê ngay nhé, khẩn cầu con!”
4-5. Thứu vương thường cất cánh lên mau,
Bay lượn vòng quanh cõi địa câu;
Với nhãn quan tinh tường thâu suốt,
Thứu con thấy rõ các rừng sâu,
Núi non phía dưới cao vời vợi,
Quả đất giống cha tả biết bao:
6-7. Một quả cầu tròn giữa đại dương
Nhưng khi vượt quá giới hạn thông thường,
 Dẫu là chim thứu đầy oai lực,
Một trận đại phong thật nộ cuồng
 Đã thổi thứu tan tành bỏ mạng,
Bất tài không địch nổi cuồng phong.
8-9. Như vậy thứu con bởi bất tuân
Tử vong bỏ mặc cả song thân.
Kẻ nào khinh bỉ kẻ già cả
Chế nhạo lời khuyên của trí nhân,
Cũng chết như chim khinh bậc trí,
Xem thường giới hạn bởi kiêu căng.
-  Vì vậy, này Tỷ-kheo, đừng giống như chim thứu này, mà phải tuân theo lời dạy của những người đầy thiện ý.
Khi được bậc Đạo sư giáo huấn như trên, từ đó về sau vị ấv biết vâng lời thầy.
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
-  Chim kên kên bất tuân lệnh ngày xưa là vị Tỷ-kheo không vâng lời ngày nay và chim cha chính là Ta.

428. CHUYỆN GIÁO HỘI Ở KOSAMBĪ
(TIỀN THẦN KOSAMBĪ)
Khi  giáo hội bị chia hai, ly tán...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Lâm viên Ghosita (Cù-sư- la) gần Kosambī (Kiều-thưởng-di) về một đám người tranh chấp nhau ở Kosambī.
Sự kiện dẫn đến chuyện này có thể tìm được trong phần Luật tạng liên hệ đến Kosambī. Sau đây là tóm tắt câu chuyện:
Tương truyền, thời ấy có hai Tỷ-kheo sống cùng một tinh xá, một vị thông hiểu Giới luật và vị kia thông hiểu Kinh điển. Một hôm, vị thứ hai có dịp đến chỗ rửa mặt xong, đi ra và bỏ sót một ít nước thừa để súc miệng trong cái ghè. Sau đó, vị thông Giới luật đi vào và thấy nước, liền đi ra hỏi bạn xem có phải vị ấy đã để nước lại đó chăng. Ông đáp:
-  Thưa Hiền giả, vâng.
-  Sao, thế Hiền giả không biết đó là lỗi lầm ư?
-  Không, tôi không biết.
-  Này hiền giả, đó là lỗi lầm.
-  Thế thì tôi sẽ sám hối việc ấy.
-  Song nếu Hiền giả không có ý làm việc ấy thì đó không phải lỗi lầm.
Như vậy, vị ấy là người không thấy lỗi lầm trong một việc có lỗi lầm.
Vị tinh thông Giới luật bảo các đệ tử mình:
-  Vị tinh thông Kinh điển này dù đã phạm lỗi lầm lại không biết việc ấy.
Khi gặp các đệ tử của vị Tỷ-kheo kia, họ bảo:
-  Thầy của các vị dù phạm lỗi lầm lại không nhận ra lỗi lầm.
Đám này đi về thưa lại với thầy. Vị ấy bảo:
-  Vị thông Giới luật này trước kia bảo đó không phải lỗi lầm, nay lại bảo đó là lỗi lầm. Vị này là kẻ nói dối.
Đám đệ tử này đi nói với đám kia:
-  Thầy của các vị là kẻ nói dối.

Do đó, hai nhóm gây sự tranh cãi lẫn nhau, về sau, vị thông hiểu Giới luật tìm được cơ hội đưa ra một hình thức tẩn xuất vị Tỷ-kheo đã khôngchịu nhận thấy sự vi phạm Giới luật của mình.
Từ đó về sau, các cư sĩ cung cấp bốn vật dụng cần thiết cho Tăng chúng cũng chia ra hai phe. Các Tỷ-kheo-ni nhận sự giáo huấn của các Tỷ-kheo, các vị Thần hộ pháp, cùng các thân hữu quyến thuộc của họ, cùng chư Thiên lên đến tận cõi Phạm thiên, thậm chí cả đám người ngoại đạo cũng họp thanh hai phái và tiếng huyên náo vang lên đến toàn cõi Phạm thiên.
Sau đó, một Tỷ-kheo đến gần Đức Như Lai và thông báo quan điểm của phe tẩn xuất là: “Người kia bị tẩn xuất theo đúng Chánh pháp.” Và quan điểm của những kẻ theo phe của người bị tẩn xuất là: “Người ấy bị tẩn xuất một cách phi pháp.” Cùng sự kiện, một số người dù bị phe tẩn xuất cấm đoán vẫn tụ họp lại để ủng hộ vị ấy.
Đức Thế Tôn bảo:
-   Có sự chia rẽ, quả thật, có sự chia rẽ trong Giáo hội.
Ngài đến gặp hai phe, nêu rõ sự tai hại trong vấn đề tẩn xuất đối với những người tẩn xuất, cùng sự nguy hại theo sau sự che giấu lỗi lầm đối với phe kia, rồi Ngài ra đi.
Lần khác, khi hội chúng thực hành lễ Bố-tát cùng các Tăng sự khác trong cùng một nơi, trong một khu vực, và lại tranh cãi ở trai đường cùng nhiều nơi khác, Ngài liền đưa ra điều luật rằng họ phải ngồi lại với nhau thảo luận lần lượt từng người một từ mỗi phe.
Khi nghe họ vẫn tranh cãi trong tinh xá, Ngài đến bảo:
-   Thôi đủ rồi, này các Tỷ-kheo, chúng ta không được tranh cãi.
Một vị trong phe phi chính thống không muốn phiền nhiễu đức Thế Tôn, liền thưa:
-   Xin đức Thế Tôn hãy về tinh xá. Mong đức Thế Tôn được an tịnh độc cư, thọ hưởng cực lạc đã chứng đắc ngay tại đời này. Chúng con sẽ tự làm cho chính bản thân ô danh vì cuộc khẩu tranh, luận tranh, đấu tranh giao tranh này.
Nhưng bậc Đạo sư bảo họ:
-   Này các Tỷ-kheo ngày xưa, vua Brahmadatta, quốc vương ở Kāsi, trị vì tại Ba-la-nại, đã chiếm đoạt vương quốc của vua Dīghati ở Kosala và giết vua ấy, trong lúc sống ẩn tích mai danh. Đến khi vương tử Dīghāvu tha
mạng vua Brahmadatta, hai vị trở thành thân hữu trở về sau. Và như vậy, chắc hẳn có nhiều khổ đau và thân ái giữa hai vị vua mang kiếm trượng ấy. Quả thật, này các Tỷ-kheo, các ông cần hiểu rõ rằng các ông đang sống đời tu tập theo Pháp và Luật được khéo giảng, thì các ông có thể tha thứ và tỏ từ tâm đối với nhau.
Giáo huấn Tăng chúng đến lần thứ ba, Ngài bảo:
-  Thôi đủ rồi, này các Tỷ-kheo, không được tranh chấp nữa.
Và khi Ngài không thấy họ không ngừng lại trước lệnh của Ngài, Ngài ra đi và bảo:
-  Quả thật đám người ngu si này giống như bị quỷ ám, chúng không dễ được thuyết phục.
Hôm sau, khi đi khất thực về, Ngài nghỉ trong Hương phòng và sắp đặt phòng cho thứ tự, rồi cầm y bát, Ngài đứng trên không và ngâm các vần kệ này giữa hội chúng:
1. Khi Giáo  hội  bị phân chia hai nhóm,
Dân chúng thường mở lớn miệng kêu vang:
 “Mỗi người đều tự tin tưởng khôn ngoan,
Và nhìn kẻ láng giềng đầy khinh bỉ.”
2. Tâm mê muội, chứa đầy niềm tự thị,
Chúng mở mồm phạm thượng thật si cuồng,
Vậy là do khẩu nghiệp, chúng sai đường,
Chúng không biết ai dẫn đầu ra lệnh.
3. “Người này nhục mạ tôi, người kia đánh
Người thứ ba chiến thắng, cướp bóc tôi!”
Những ai mang tư tưởng ấy trong người
Không hề muốn giảm dần niềm sân hận.
4. “Xưa nó nhục mạ tôi và đánh đấm,
Nó thắng tôi và đàn áp tôi hoài!”
Ai chẳng mang ý tưởng đó trong người,
Sẽ xoa dịu hận thù, đem hòa hợp.
5. Không hận thù, chỉ tình thương đơn độc
Làm hận thù tiêu diệt, luật ngàn năm,
Một số người khinh bỉ pháp điều thân.
Song kẻ biết giải hòa là trí thiện.
6. Nếu những kẻ bị thương trong tử chiến
Cùng những người cướp của, đoạt mạng dân
Và những ai tàn phá nước lân bang,
Nay có thể cùng cựu thù thân thiết.
7.Thế tại sao chúng Tăng không hòa hiệp,
Các ông nên tìm đồng bạn trí hiền,
Kẻ đồng tâm để chung sống bình yên,
Hiểm họa hết, bên người đồng tâm tính,
Ông suốt ngày hân hoan trong thiên đình!
8. Song nếu ông không gặp bạn thân tình,
Thượng sách là ông phải sống một mình,
Như hoàng tử bỏ ngai vàng điện ngọc,
Hay voi già bước lang thang cô độc.
9. Vậy ưu tiên chấp nhận sống độc thân,
Bầu bạn ngu chỉ dẫn đến tranh phân,
Hay đeo đuổi đường đời trong phóng dật,
Như voi nọ trong rừng hoang đi lạc.
*
Khi bậc Đạo sư đã nói như vậy xong và Ngài vẫn không giải hòa được hội chúng này, Ngài liền đi đến làng Bālaka, nơi làm muối, và thảo luận với Tôn giả Bhagu về sự an lạc của độc cư. Sau đó, Ngài lại đến nơi cư trú của ba thiện gia nam tử và nói chuyện với họ về hạnh phúc hòa hợp.
Rồi Ngài du hành đến rừng Pārileyyaka, cư trú tại đó ba tháng và đi về thẳng Sāvatthi chứ không trở lại Kosambī.
Quần chúng cư sĩ ở Kosambī thảo luận với nhau và bảo nhau:
- Hiển nhiên các Tôn giả Tỷ-kheo ở Kosambī đã làm hại chúng ta rất nhiều, bậc Đạo sư bị các vị ấy quấy nhiễu nên ra đi. Chúng ta quyết khôno trân trọng kính chào các vị ấy, cũng không cúng dường vật thực khi họ đến nhà, để rồi họ sẽ ra đi, hoặc hoàn tục, hoặc cầu hòa với bậc Đạo sư
Và họ làm đúng như vậy.
Các Tỷ-kheo ấy bị túng quẩn vì hình thức xử phạt này, liền đến Sāvatthi thỉnh câu đức Thê Tôn tha thứ.

*
Bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
- Thời ấy, vua cha là Đại vương Suddhodana (Tịnh Phạn) Mahāmāyā (Ma-gia) và vương tử Dīghāvu chính lả Ta.

429. CHUYỆN ĐẠI ANH VŨ
(TIỀN THÂN MAHĀSUKA)
Bất cứ khi nào cây trái sinh...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo.
Chuyện kể rằng, vị ấy sống trong rừng gần một làng biên địa ở Kosala  và nhận được lời giáo huấn từ bậc Đạo sư theo các đề tài thiền quán. Dân chúng làm cho ông một am thất trong một nơi họ thường lui tới, cung cấp nơi cư trú cả ngày lẫn đêm và phụng sự ông rất tận tâm chu đáo. Ngay tháng đầu tiên ông an cư mùa mưa, làng ấy bị đốt sạch và dân chúng không còn một hạt thóc nên không thể cúng dường thực phẩm thơm ngon vào bình bát ông; cho nên, mặc dù ông ở trong một nơi thoải mái, ông lại buồn khổ vì thiếu thực phẩm đến độ không thể nhập vào Thánh đạo hay Thánh quả được.
Vì vậy, khi hết ba tháng mưa, ông đến yết kiến bậc Đạo sư, sau những lời ân cần chào hỏi, bậc Đạo sư bày tỏ hy vọng là mặc dù khó khăn về thực phẩm cúng dường, ông cũng có được một nơi an trú dễ chịu. Vị Tỷ-kheo trình Ngài về tình hình đã diễn tiến ra sao. Khi nghe ông có được một trú xứ an lạc, bậc Đạo sư bảo:
-   Này Tỷ-kheo, nếu sự tình là như vậy, một vị tu khổ hạnh nên dẹp bỏ các thói tham đắm, và tri túc với những thức ăn gì mình nhận được để hoàn thành phận sự của người xuất gia. Các bạc trí ngày xưa khi được sinh vào loài súc vật, dù chỉ sống bằng bụi bặm trong cây hư mục mà mình cư trú, cũng đã bỏ mọi tham dục, tự biết sống đủ để ở lại nơi kia và hoàn thành đạo lý về ân tình. Thế thì tại sao ông lại bỏ một nơi cư trú đầy an lạc chỉ vì thức ăn nhận được quá ít ỏi thô sơ?
Và theo lời thinh cầu của vị này, Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, có vô số chim anh vũ (két) sống ở vùng Tuvết sơn trên bờ sông Hằng trong một rừng sung. Vua Anh vù ấy gặp lúc trái cây nơi mình
cư trú đã hết mùa, phải ăn bất cứ cái gì con sót lại, dù là mầm, lá, vỏ cây hoặc giác cây và uống nước sông Hằng, vẫn thấy an lạc và tri túc nơi mình sống.
Do tâm trạng an lạc tri túc này, chiếc ngai của Thiên chủ Sakka rung động. Sakka tìm hiểu nguyên nhân và thấy Anh vũ này. Rồi muốn thử thách công hạnh của chim, ngài dùng thần lực làm cho cây héo tàn, trở thành khúc thân cây mục đầy lỗ hổng đứng trơ vơ bị mưa gió vùi dập và bụi bặm bay từ các lỗ ấy!
Anh vũ vương vẫn ăn bụi cây và uống nước sông Hằng, không đi đâu khác và vẫn đậu trên ngọn cây, chẳng quan tâm gì đến nắng gió.
Thiên chủ Sakka nhận thấy Anh vũ sống rất tri túc, liền tự bảo: “Sau khi nghe chim nói về đức tính của tình bằng hữu, ta sẽ đến ban cho chim một đặc ân và làm phép cho cây sung sinh trái bất tử.”
Vì thế, ngài giả dạng một thiên nga cùng với hoàng hậu của ngài là Sujā đi trước biến hình thành một nữ thần A-tu-la, ngài đến rừng sung kia, đậu trên một khóm cây gần đó và ngâm kệ bắt đầu đàm thoại với Anh vũ:
1. Bất cứ khi nào cây trái sinh,
Bầy chim đói lại đến đầy cành,
Song khi cây đã thành khô héo,
Lập tức bầy chim bỏ chạy nhanh.
Sau lời này, ngài lại ngâm vần kệ thúc giục chim đi chỗ khác:
2. Này ông mỏ đỏ, hãy đi mau,
Ông vẫn ngồi mơ mộng, cớ sao?
Hãy nói ta nghe, xuân điểu hỡi,
Sao ông bám khúc gỗ khô nào?
Chim Anh vũ đáp:
-   Này Thiên nga, do ân nghĩa, ta không rời bỏ cây này.
Rồi chim ngâm hai vần kệ:
3-   Những ai thân thiết tự ngày xuân
Biết rõ mọi điều thiện, chánh chân
Dầu sống, chết hay khi khổ lạc
 Đều không hề bỏ mặc thân bằng.
4- Ta muốn ân cần giữ thiện tâm
Với cây kết bạn đã lâu năm,
Ta mong sống, dẫu lòng không nỡ
Rời bỏ cây khô đã chết dần.
Sakka nghe chim nói, rất hoan hỷ, vừa ca ngợi chim vừa muốn ban cho chim một điều ước, liền ngâm hai vần kệ:
5.    Ta biết chim giao hữu thật tình
Trí nhân chắc chắn phải hoan nghênh,
Ta ban chim thứ gì mong muốn,
Anh vũ, ước cho thỏa ý mình.
Nghe vầy, Anh vũ vương ngâm vần kệ thứ bảy nói lên điều mình ước:
6.   Thiên nga, nếu bạn muốn ban ân
Mong ước cho cây sống lại dần
Lần nữa vươn lên sức mạnh cũ,
Quả ngon tươi mát mọc đầy thân.
Rồi Thiên chủ Sakka ngâm vần kệ thứ tám ban đặc ân này:
7. Bạn nhìn! Cây quý quả sai đầy,
Thích hợp cho chim ở chốn này,
Lần nữa vươn lên sức mạnh cũ,
Quả ngon ngọt mát tươi thay!
Cùng với các lời này, Sakka bỏ lốt ngỗng, thị hiện phép thần thông cùng hoàng hậu Sujā, lấy tay múc nước sông Hằng rảy vào thân cây sung. Lập tức, cây mọc lên cành lá sum suê, đầy trái ngọt như mật, tạo thành một cảnh tượng kỳ diệu như đỉnh núi Ngọc Bích lồ lộ.
Anh vũ thấy vậy, vô cùng hoan hỷ, ngâm vần kệ thứ chín tán thán Thiên chủ Sakka:
8. Ước mong Thiên chủ, mọi Thiên thần,
Đều hưởng thọ tràn ngập phước ân,
Hạnh phúc như chim đang thọ hưởng
 Khi nhìn cảnh tượng đẹp huy hoàng.
Sau khi ban điều ước cho Anh vũ và làm phép để cây sung mọc trái bất tử, ngài cùng hoàng hậu Sujā trở về cõi của ngài.
Để minh hoạ chuyện này, các vần kệ xuất phát từ Trí tuệ tối thắng được thêm vào đoạn cuối:
9. Ngay khi Anh vũ chúa cầu mong,
Lần nữa cây kia trổ trái dần,
Đế-thích cùng bà hoàng biến mất
Về vườn Thiên lạc cõi Thiên thần.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư bảo:
- Như vậy, này Tỷ-kheo, các bậc trí này xưa dù sinh làm súc vật cũng dứt bỏ tham ái. Thế tại sao nay ông đã được thọ giới trong Giao pháp tôi thượng này, lại còn theo các thói xan tham? Hãy về ở lại chỗ ấy.
Rồi Ngài trao cho vị này một đề tài thiên quán và nhận diện tiên thân:
- Thời ấy, Sakka là Anuruddha (À-na-luật-đà) và Anh vũ vương chính là Ta.
Vị Tỷ-kheo trở về và nhờ thiền quán đã đắc Thánh quả (A-la-hán).

430. CHUYỆN TIỂU ANH VŨ
(TIỀN THÂN CULASUKA)
Nhìn cây vô số ở quanh đây...
Chuyện này bậc Đạo sư kể tại Kỳ Viên liên hệ phẩm Veranjā của Luật tạng.
Sau thời an cư mùa mưa tại Veranjā, khi bậc Đạo sư lên đường dẫn đến Sāvatthi, Tăng chúng ngồi tại Chánh pháp đường thảo luận và bảo nhau:
-  Này các Hiền giả, đức Như Lai vốn là một vị quý tộc Sát-đế-lỵ được bảo dưỡng tế nhị, dầu đã thành Phật có đủ thần thông lực, vẫn theo lời thỉnh câu của một Bà-la-môn ở Veranjā an cư ba tháng với vị ấy. Rồi do áp lực của Ác ma, Ngài không nhận được thực phẩm cúng dường từ tay vị Bà-la- môn ấy, thậm chí một ngày thôi, Ngài liền từ bỏ mọi tham dục và cứ ở lại nơi ấy suốt ba tháng sống bằng nước lã và một ít cám xay. Kỳ diệu thay là hạnh tri túc của các đức Như Lai!
Khi bậc Đạo sư đến hỏi đề tài thảo luận của các vị, Ngài bảo:
-  Này các Tỷ-kheo, không lạ gì ngày nay Như Lai đã bỏ hết mọi tham dục, vì ngày xưa khi được sinh làm súc vật, Ngài cũng xả ly tham dục.
Và sau đó, Ngài kể một chuyện quá khứ. Bấy giờ, toàn thể câu chuyện cũng được kể lại với đầy đủ chi tiết giống hệt như chuyện trước.
*
Sakka:
1. Nhìn cây vô số ở quanh đây
Toàn thể xanh tươi, trái mọc đầy,
Cớ sao Anh vũ còn đeo đẳng
Cây đã héo khô tội nghiệp này?
Anh vũ:
2. Chúng ta hưởng thọ đã lâu năm
Trái ngọt ngon mà cây đã mang
Vậy dẫu trái nay không còn nữa,
Cây cần phải được sự quan tâm.
Sakka:
3. Cây chẳng còn sinh trái, lá nào,
Than ôi! Cây đã chết, vì sao
Nay chim còn trách bầy chim bạn
Rằng chúng bay đi hết đã lâu?
Anh vũ:
4.Chúng yêu cây bởi trái cây thôi,
Nay trái cây không có nữa rồi,
Bọn ích kỷ ngu si tội nghiệp,
Thân tình ân nghĩa tếch mù khơi!
Sakka:
5.Ta đây công nhận mối ân tình,
Chim có lòng chung thủy tốt lành,
 Đức hạnh như là Anh vũ chúa,
Trí nhân mãi mãi sẽ hoan nghênh.
6.   Ta muốn giờ đây ta tặng chim
 Điều gì chim ước nguyện trong tim,
Ta cầu chim nói cho ta biết
Điều ước làm tâm được phỉ nguyền?
Anh vũ:
7.   Mong cây này lại có cơ may
Sinh sản lá tươi, trái trĩu đầy,
Ta sẽ vô cùng hoan hỷ thấy
Bầy chim tìm được bảo tàng này!
8.   Thế rồi cây ấy được Sakka
Rảy nước hồi sinh để mọc ra
Cành lá sum suê đầy bóng mát
 Xinh tươi khả ái vẫn như xưa.
9.Ước mong Thiên chủ, các Thiên thần
Đều hưởng thọ tràn ngập phước ân
Hạnh phúc như chim đang thọ hưởng
 Khi nhìn cảnh tượng đáng hân hoan!
10. Như  vậy là cây trái được sinh
Nhờ lời Anh vũ nguyện ân tình,
Sakka trở lại cùng hoàng hậu
An hưởng vườn Thiên lạc hiển vinh
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo sư nhận diện tiền thân:
-  Thời ấy, Sakka là Anuruddha và Anh vũ vương chính là Ta.

431. CHUYỆN NAM TỬ HĀRITA
(TIỀN THÂN HĀRITA)
Hāri hiền hữu, trẫm nghe răng...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bất mãn.
Bấy giờ, Tỷ-kheo này trở nên bất mãn sau khi nhìn thấy một nữ nhân phục sức lộng lẫy, nên cứ để cho lông tóc, móng tay chân dài ra và muốn hoàn tục. Khi ông miễn cưỡng bị các vị Giáo thọ và Giám hộ đưa đi yết kiến bậc Đạo sư, và được Ngài hỏi xem có đúng là ông thối thất chăng, và tại sao như vậy, ông đáp:
-  Thưa vâng, bạch Thế Tôn, chính vì uy lực của dục tham sau khi nhìn thấy một nữ nhân xinh đẹp.
Bậc Đạo sư bảo:
-  Này Tỷ-kheo, tham dục hủy hoại công đức, hơn nữa, rất đáng nhàm chán, nó làm cho con người tái sinh vào địa ngục; thế thì sao tham dục này lại không đưa đến sự suy tàn của ông? Bởi vì trận cuồng phong vùi dập đỉnh núi Sineru (Tu-di) vẫn không ngần ngại cuốn đi một ngọn lá khô héo. Chính vì tham dục này, những người thực hành theo tri kiến và trí tuệ đã đắc năm Thắng trí và tám Thiền chứng, dẫu là Thánh nhân vĩ đại, vẫn không đủ khả năng ổn định tâm tư nên sa đọa đánh mất thiền lực vi diệu.
Rồi ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh ờ một lang trọng mọt gia đình Bà-la-môn có tài sàn đến tám triệu đồng, và do màu vàng ánh của ngài, cha mẹ đặt tên ngài là Harittacakumāra (Nam tử Kim sắc). Khi lớn khôn, và đã được giáo dục tại Takkasilā, ngài trở thành người gia chủ. Vừa khi cha mẹ từ trần, ngài đi thanh tra đủ các kho báu của mình và suy nghĩ: “Tài sản kho báu tiếp tục tồn tại, còn những người tạo ra
nó lại mất cả rồi. Ta cũng phải tan thành tro bụi khi chết.”
Như vậy, do nỗi sợ chết báo động, ngài thực hành đại bố thí, rồi vào vùng Tuyết sơn sống đời tu hành, đến ngày thứ bảy ngài thành tựu các Thắng trí và các Thiền chứng. Ngài sống ở đó một thời gian bằng củ quả rừng, rồi xuống núi tìm muối và giấm, dần dần ngài đến tận Ba-la-nại.
Ngài sống trong ngự viên, và ngày hôm sau, khi khất thực ngài đến cửa cung vua. Vua rất hoan hỷ khi thấy ngài nên đã truyền mời ngài vào ngồi trên vương tọa dưới bóng mát của chiếc lọng trắng và cúng dường ngài đủ thứ cao lương mỹ vị.
Khi lời nói lời tùy hỷ công đức, vua vô cùng đẹp ý hỏi:
—   Bạch Tôn giả, ngài sắp đi đâu?
-     Tâu Đại vương, chúng tôi tìm một nơi an cư mùa mưa.
Vua bảo:
—   Thế thì tốt lắm, bạch Tôn giả.
Rồi sau buổi điểm tâm, vua cùng đi với ngài đến ngự viên, truyền dựng am thất ban ngày lẫn ban đêm cho ngài ở, chỉ định người giữ ngự viên làm hầu cận của ngài, rồi vua kính chào ngài ra về. Từ đó, bậc Đại sĩ thường xuyên ăn uống ở cung vua và sống tại nơi ấy suốt mười hai năm liền.
Một hôm, vua đi dẹp loạn ở biên giới nên đã giao phó hoàng hậu chăm sóc Bồ-tát và bảo bà:
-     Đừng xao lãng việc phụng sự “Phước điền” của chúng ta.
Từ đó trở về sau, hoàng hậu tự tay phục vụ bậc Đại sĩ rất chu đáo.
Một hôm, hoàng hậu đã chuẩn bị thực phẩm của ngài xong, và vì ngài đến muộn, nên bà đi tắm nước hương thơm ngát, choàng chiếc y bằng lụa mỏng manh mềm mại, rồi mở cửa thượng lầu nằm xuống một vương sàng nhỏ để cho gió lùa trên thân thể bà.
Sau đó, Bồ-tát đắp hạ y và thượng y, cầm bình bát, du hành qua không gian đi vào cửa sổ ấy. Khi hoàng hậu vội vàng đứng dậy vì nghe tiếng sột soạt của các tấm y bằng vỏ cây trên thân ngài, chiếc y bằng lụa mỏng rơi khỏi người bà. Một đối tượng lạ thường đập vào mắt bậc Đại sĩ. Rồi một dục tưởng đã ẩn trong tâm ngài từ vô lượng kiếp, chợt bừng dậy như một con rắn nằm trong hộp, xua tan thiền lực của ngài.
Rồi không đủ khả năng ổn định tư tưởng, ngài đến chụp lấy hoàng hậu bằng đôi tay và hai vị lập tức kéo màn che phủ quanh người. Sau khi đã
phạm tà dục với bà, ngài thọ thực và trở về ngự viên. Từ đó về sau, ngày nào ngài cũng đến làm như vậy.
Tà hạnh của ngài vang dậy khắp kinh thành. Các cận thần của vua dâng sớ tâu trình vua: “Nhà khồ hạnh Hārita đang hành động như vậy, như vậy.”
Vua suy nghĩ: “Họ nói như vậy để ly gián chúng ta,” và vua không tin chuyện ấy.
Khi vua đã bình định vùng biên địa xong, liền trở về Ba-la-nại và sau buổi diễn binh oai nghi khắp kinh thành, vua đến gặp hoàng hậu và hỏi:
—  Có thật Thánh nhân khổ hạnh Hārita đã phạm tà dục với Ái hậu chăng?
-  Tâu Chúa thượng, quả đúng vậy.
Vua vẫn không tin lời bà và suy nghĩ: ‘Ta sẽ hỏi chính vị ấy.” Rồi đi đến ngự viên, vua vái chào ngài, ngồi kính cẩn một bên và ngâm vần kệ đầu để hỏi chuyện:
1.   Hāri hiền hữu, trẫm nghe rằng
 Tôn giả nay đang sống lỗi lầm,
Trẫm chẳng tin lời đồn đại ấy,
Ngài không phạm tội ý, thân chăng?
Ngài suy nghĩ: “Nếu ta nói ta không phạm tội lỗi, vị vua này sẽ tin ta, nhưng trên thế gian này, không có một căn cứ nào vững chắc bằng nói sự thật. Người nào từ bỏ sự thật, dù ngồi trong Bồ-đề đạo tràng linh thiêng cũng không thể đạt quả Phật. Vậy ta cần nói sự thật.”
Trong vài trường hợp, một vị Bồ-tát có thể sát sinh, lấy của không cho, phạm tà dục và uống rượu nồng, nhưng vị ấy không được phép nói dối đi kèm với sự lừa phỉnh vi phạm chân lý của vạn vật. Vì thế, ngài ngâm vần kệ thứ hai chỉ nói lên sự thật:
2. Ta phạm ác hành, hỡi Đại vương,
Đúng như ngài đã được nghe rằng,
Mắc vào tà thuật trong trần thế,
Ta đã đi sai lạc bước đường.
Nghe vậy, vua ngâm vần kệ thứ ba:
3.   Trí tuệ uyên thâm của thế nhân
Hoài công vô ích, chẳng xua tan
Dục tham bùng dậy trong lòng dạ
 Của bậc trí nhân đã lạc đường.
Sau đó, Hārita nêu rõ cho vua thấy uy lực của dục tham qua vần kệ thứ tư:
4.   Bốn ác dục này ở thế gian
Uy quyền lấn áp cứ lan tràn:
Tham, sân, vô độ và si ám,
Tri kiến không sao đứng vững vàng.
Vua nghe liền ngâm vần kệ thứ năm:
5.   Thánh hạnh tràn đầy với trí minh
Hāri hiền giả đáng tôn vinh!
Hiền giả Hārita ngâm tiếp vần kệ thứ sáu:
6. Ác tâm, tham dục do liên kết,
Hủy hoại trí nhân hướng Thánh hành.
Sau đó, vua ngâm vần kệ thứ bảy khuyến nhủ vị ấy quẳng bỏ mọi tham dục:
7.   Vẻ đẹp trong tâm tịnh sáng ngời
Bị hư vì ác dục sinh sôi,
Quẳng ngay, hạnh phúc đang chờ đón,
Quần chúng tuyên dương trí tuệ ngài.
Khi ấy, Bồ-tát đã phục hồi năng lực thiền định và quán sát sự đau khổ của tham dục, ngài ngâm vần kệ thứ tám:
8. Vì tham dục trói buộc thân này,
Sinh sản cho ta quả đắng cay,
Ta quyết cắt sâu cho tận gốc
Mọi mầm tham dục khởi lên đây.
Nói vậy xong, ngài xin phép vua; rồi sau khi  được chấp nhận, ngài về thảo am tập trung nhãn lực vào đề tài và nhận định; sau đó, bước ra khỏi am, ngồi bắt chéo chân trên không và giảng Chánh pháp cho vua, ngài bảo:
-  Tâu Đại vương, ta đã tạo nên sự chỉ trích của quần chúng vì ta cư trú một nơi mà ta không nên cư trú. Nhưng giờ đây, xin Đại vương hãy tỉnh giác hộ phòng. Còn ta sẽ trở về núi rừng thoát ly mọi ô nhiễm của nữ sắc.
Rồi giữa những giọt nước mắt và tiếng than khóc của vua, ngài trở về Tuyết sơn, rồi không gián đoạn thiền định, ngài lên cõi Phạm thiên.
Bậc Đạo sư biết toàn thể câu chuyện và bảo:
9. Như vậy, Hāri bậc trí nhân
Đấu tranh vì Chánh pháp kiên cường,
Vừa khi rời bỏ niềm tham dục,
Hướng đến Phạm thiên tiến thẳng đường.
*
Sau khi ngâm vần kệ do Trí tuệ tối thắng, Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Vào lúc kết thúc các Sự thật, vị Tỷ-kheo cỏ tâm the tục ấy đã đắc Thánh quả.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
—  Thời bấy giờ, vua là Ānanda và Hārita chính là Ta.

/29
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây