Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015 - Tập IV

Tác giả: Hòa thượng - Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2015. Số trang: 766.

 

Chương 36: 432. CHUYỆN CẬU BÉ CÓ TÀI NHẬN DẤU CHÂN - Phần 2 (trang 751-770)

432. CHUYỆN CẬU BÉ CÓ TÀI NHẬN DẤU CHÂN
(TIỀN THÂN PADAKUSALAMĀNAVA)
ta bị cuốn bởi sông Hằng...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong khi trú tại Kỳ Viên về một cậu bé.
Người ta đồn, cậu bé ấy là con của một gia chủ tại Sãvatthi, chỉ có bảy tuổi đã có tài nhận ra dấu chân. Bấy giờ, cha cậu bé có ý định thử tài con, liền đi đến nhà người bạn mà không cho cậu biết. Cậu bé chang cân hỏi cha đã đi đâu, cứ theo vết chân của cha cậu, đến dứng trước mặt cha. Vì thế, một hôm cha cậu hỏi:
- Khi cha ra đi mà không nói với con, làm thế nào mà con biết cha đi
đâu?
- Thưa cha, con nhận ra dấu chân của cha. Con có tài về chuyện này.
Sau đó, cha cậu lại muốn thử cậu, liền ra khỏi nhà sau khi ăn sáng, đi
vào nhà kế cận, từ đó qua một nhà khác, từ nhà thứ ba ông lại quay về nhà mình, rồi sau đó đi ra cổng bắc, xong đi một vòng quanh thành phố từ phải sang trái. Khi đến Kỳ Viên, ông đảnh lễ bậc Đạo sư, rồi ngồi xuống nghe Pháp. Cậu bé hỏi cha ở đâu, và người nhà báo:
-Ta không biết.
Cậu lần theo dấu chân cha bắt đầu từ nhà bên cạnh đi theo đúng con đường cha cậu đã đi qua. Sau khi đảnh lễ bậc Đạo sư, cậu đứng trước mặt cha. Và khi cha hỏi làm sao con đến đây được, cậu đáp:
- Con nhận ra dấu chân cha và lần theo dấu ấy đến đây.
Người cha nói:
- Bạch Thế Tôn, thằng bé này có tài nhận ra dấu chân. Muốn thử nó con đã đến đây theo cách như vầy, như vầy. Nó không thấy con ở nhà cứ lần theo dấu chân đến đây.
Bậc Đạo sư bảo:
- Không lạ gì việc nhận ra dấu chân dưới đất. Các bậc trí nhân ngày xưa nhận ra dấu chân trên không gian.

Và theo lời thỉnh cầu, Ngài kể một chuyện quá khứ
*
Thời xưa, dưới triều vua Brahmadatta ở Ba-la-nại, vị chánh hậu bị vua chất vấn sau khi phạm tội tà dục, liền tuyên thệ:
-      Nếu thần thiếp phạm tội với Chúa thượng, thần thiếp sẽ trở thành một con quỷ cái Dạ-xoa có mặt ngựa.
Sau khi chết, bà trở thành con quỷ cái có mặt ngựa sống trong hang đá ở một khu rừng rậm dưới chân núi, và thường bắt những người qua lại trên con đường từ biên giới đông sang tây để ăn thịt. Chuyện kể rằng, sau khi phục vụ Thiên vương Vessavaṇa (Tỳ-sa-môn) suốt ba năm, quỷ cái này được phép ăn thịt người trong một khu vực dài ba mươi dặm, rộng năm dặm.
Một hôm, một vị Bà-la-môn giàu sang, đẹp trai được một đoàn tùy tùng đông đảo hộ tống đi lên con đường ấy. Dạ-xoa thấy chàng liền cười lớn chạy xuống chụp chàng, còn đám tùy tùng chạy trốn cả.
Với tốc lực nhanh như gió, quỷ cái bắt được chàng Bà-la-môn ném lên lưng nó và đưa vào hang. Do xúc chạm với chàng trai, quỷ cái bị lòng dục chi phối và cảm thấy yêu mến chàng, nên thay vì ăn thịt chàng, nó lại lấy chàng làm chồng và cả hai sống hòa hợp với nhau.
Từ đó, mỗi khi quỷ cái bắt được đàn ông, nó lấy áo quần, lúa gạo. dầu mỡ cùng với mọi thứ khác phục vụ chàng đủ món cao lương mỹ vị, còn nó vẫn ăn thịt người.
Khi nào nó đi xa, nó sợ chàng trốn thoát, nên vẫn lấy hòn dá lớn đậy miệng hang trước khi đi. Trong thời gian họ sống an vui như vậy, thì Bồ-tát vừa giã từ đời trước và nhập vào mẫu thai của quỷ cái với vị Bà-la-môn. Sau mười tháng, quỷ cái sinh một con trai, nó vô cùng thương yêu cả vị Bà- la-môn lẫn hài nhi, nên nuôi nấng họ chu đáo. Dần dần, khi cậu bé lớn lên, quỷ cái đặt con vào trong hang với cha, rồi đóng cửa lại.
Một hôm, Bồ-tát biết mẹ đã đi xa liền giở hòn đá lên và đưa cha ra ngoài. Khi quỷ cái trở về, hỏi ai đã giở hòn đá, cậu bé đáp:
-      Thưa mẹ, chính con, vì cha và con không thể ngồi trong tối mãi.
Do thương con, quỷ cái không nói lời nào nữa. Một hôm, Bồ-tát hỏi cha:
-      Thưa cha, miệng cha khác với miệng mẹ, vì sao vậy?
-   Con ơi, mẹ con là quỷ Dạ-xoa sống bằng thịt người, còn cha và con là người.
-   Nếu vậy, tại sao ta sống ở đây? Mau lên, chúng ta quyết trở về nơi chốn loài người.
-   Con ơi, nếu ta cố chạy trốn, mẹ con sẽ giết chết cả hai ta đấy.
Bồ-tát an ủi cha và bảo:
-   Cha đừng sợ, việc đem cha trở về chốn loài người là phận sự của con.
Hôm sau, khi mẹ cậu đã ra đi, cậu đem cha chạy trốn.
Khi quỷ cái trở về thấy thiếu họ, nó liền chạy như gió bắt họ lại và nói:
-   Này chàng Bà-la-môn, tại sao chàng bỏ chạy, chàng có thiếu gì ở đây chăng?
-   Nàng ơi, xin đừng giận ta. Con nàng đem ta đi theo nó đấy.
Quỷ cái không nói gì thêm, do lòng thương con, nó an ủi hai cha con và mang họ trở về hang sau vài ngày bay vùn vụt.
Bồ-tát suy nghĩ: “Mẹ ta chắc hẳn phải có một ranh giới hoạt động. Giả sử ta hỏi mẹ về ranh giới mà mẹ có quyền hạn, rồi ta sẽ đi trốn bằng cách vượt qua ranh giới đó.”
Vì vậy, một hôm, ngồi kính cẩn bên mẹ, ngài hỏi:
-   Mẹ ơi, những gì thuộc về mẹ đều truyền cho con, vậy mẹ hãy nói cho con biết ranh giới vùng đất của ta.
Quỷ cái liền cho biết mọi phạm vi đất đai núi rừng ở mọi hướng và chỉ rõ khu vực dài ba mươi dặm, rộng năm dặm ấy, xong lại bảo:
-   Hãy xem, nó nhiều như vậy đấy con à.
Sau hai ba ngày, khi mẹ đã vào rừng, ngài cõng cha lên vai và chạy nhanh như gió theo dấu hiệu mẹ ngài đã cho biết, ngài đến bờ sông làm ranh giới. Quỷ cái trở về thấy thiếu họ liền đuổi theo.
Bồ-tát mang cha ra giữa sông, còn quỷ cái đứng bên bờ thấy họ đã vượt phạm vi của nó, đành phải đứng lại và kêu:
-   Con yêu quý ơi, hãy đến đây cùng với cha con. Mẹ có lỗi lầm gì nào? Có việc gì không vừa lòng con về phương diện nào? Xin chàng hãy trở về mau!
Quỷ cái van xin chồng con như vậy.
Vị Bà-la-môn đã qua bên kia sông. Quỷ cái lại khẩn cầu con:
-   Con yêu quý ơi, đừng làm như vậy. Hãy trở lại mau!
-     Mẹ ơi, cha và con là người, còn mẹ là quỷ Dạ-xoa. Cha và con không thể ở mãi với mẹ được.
-     Thế con không muốn trở lại à?
-     Không, mẹ ơi!
-     Vậy nếu con không muốn trở lại mà sống trên thế giới loài người khổ lắm con ạ, những người không biết nghề gì thì không thể sống được. Mẹ có phép thuật cao cường, nhờ thần lực đó, ta có thể theo dõi dấu chân của người đã đi qua sau mười hai năm. Điều này sẽ làm kế sinh nhai của con. Này con, hãy nhận lấy phép thuật vô giá này!
Mặc dù lòng nặng trĩu đau buồn, do lòng thương con, quỷ cái cũng trao thần chú cho con. Bồ-tát đứng giữa sông chắp hai tay lại kính cẩn nhận thần chú và vái chào mẹ ngài:
-     Mẹ ơi, con xin từ giã mẹ.
Quỷ cái bảo:
-     Con ơi, nếu con không trở lại, mẹ không thể sống được.
Nó liền đấm vào ngực và ngay lập tức do sầu não vì con, tim nổ tan nát ra nên nó chết tại chỗ.
Bồ-tát biết mẹ đã chết, liền gọi cha và đi làm giàn hỏa thiêu xác mẹ. Sau khi dập tắt lửa, ngài cúng nhiều loại hoa đủ màu sắc, vừa than khóc, vừa cùng cha trở về Ba-la-nại.
Quân hầu tâu trình vua:
-     Một cậu thanh niên có tài nhận ra dấu chân đang đứng chờ ở cửa.
Khi vua ra lệnh ngài vào chầu, ngài bước vào cung kính vái chào vua.
Vua hỏi:
-     Này Hiền hữu, khanh biết nghề gì?
-     Tâu Chúa thượng, tiểu thần biết theo dõi dấu chân của người đã trộm cắp tài vật cách mười hai năm trước và bắt lấy họ.
Vua bảo:
-     Thế thì vào đây hầu hạ trẫm.
-     Tiều thần muốn phục vụ Chúa thượng với tiền công mỗi ngảy một ngàn đồng.
-     Tốt lắm, này Hiền hữu, nhất định khanh sẽ phục vụ trẫm.
Rồi vua ban cho ngài một ngàn đồng tiền mỗi ngày.
Một hôm, vị tế sư hoàng gia trình vua:
-  Tâu Chúa thượng, chàng thanh niên chưa sử dụng xảo thuật để làm gì cả nên ta không biết chàng có tài hay không, vậy bây giờ ta quyết thử tài chàng.
Vua sẵn sàng chấp nhận. Hai vị thông báo cho các vị thủ kho và lấy các châu báu có giá trị nhất từ lầu thượng xuống, rồi sau khi đi lẩn quẩn ba vòng quanh cung điện, họ đặt cái thang trên nóc tường và theo đó đi ra ngoài.
Sau đó, họ vào Pháp đình, ngồi xuống rồi trở ra đặt cái thang trên tường và leo xuống đi vào thành. Khi đến bờ hồ nước, họ đi vòng quanh ba vòng rất trang nghiêm, rồi thả các báu vật vào hồ và trèo lên lầu thượng như cũ.
Hôm sau có tiếng huyên náo và nhiều người kêu:
-  Các báu vật đã bị mất trộm khỏi cung rồi.
Vua giả vờ không biết gì, triệu Bồ-tát đến bảo:
-  Này Hiền hữu, nhiều báu vật vừa bị mất trộm khỏi cung, ta phải tìm ra dấu vết.
-  Tâu Chúa thượng, đối với một người có khả năng theo dấu vết bọn trộm cắp và thu hồi bảo vật cách mười hai năm trước, thì chẳng có gì thần kỳ khi tìm được tài vật chỉ mất sau một ngày một đêm. Tiểu thần quyết đem lại đủ, xin Chúa thượng yên tâm.
-  Vậy Hiền hữu hãy thu hồi báu vật.
-  Tâu Chúa thượng, được lắm.
Ngài nói xong đi đảnh lễ hương hồn mẹ, rồi vừa niệm thần chú vừa đứng yên trên thượng lầu, rồi trình vua:
-  Tâu Chúa thượng, dấu chân của bọn trộm sẽ được tìm ra.
Sau đó, theo dấu chân vua và vị tế sư, ngài vào cung thất, từ đó ra đi, ngài bước xuống khỏi thượng lầu và sau ba vòng đi quanh hoàng cung, ngài đến gần cái hồ. Đứng bên hồ, ngài bảo:
-  Tâu Chúa thượng, bắt đầu ở nơi này từ bức tường, tiểu thần thấy dấu chân trên không. Xin đem cho tiểu thần một cái thang.
Sau khi nhờ đặt cái thang sát tường, ngài leo xuống và vẫn tiếp tục theo dõi dấu vết, ngài đến Pháp đình. Rồi trở vào cung, ngài bảo đăt cái thang sát tường và từ đó ngài leo xuống đi đến hồ nước. Sau khi đi quanh hồ nước ba lần, ngài bảo:
-  Tâu Chúa thượng, bọn trộm đã vào hồ này.
Và vừa lấy báu vật ra như thể chính ngài đặt chúng vào đó ngài dâng vua và trình:
-  Tâu Chúa thượng, hai đạo tặc này là người đặc biệt, chúng đã vào
cung bằng cách này.
Quần thần búng ngón tay biểu lộ hân hoan cực độ và rất nhiều khăn quàng tung vẫy lên. Vua suy nghĩ: “Có lẽ chàng trai này theo dõi dấu chân nên biết nơi bọn trộm cất báu vật, nhưng chàng không bắtt được chúng. Sau đó, vua phán:
-  Hiền hữu đã mang lại ngay báu vật được bọn trộm mang đi, nhưng khanh có thể bắt bọn trộm và đưa chúng cho trẫm chăng?
-  Tâu Chúa thượng, bọn trộm ở đây, chúng không ở đâu xa.
-  Chúng là ai thế?
-  Tâu Đại vương, bất cứ ai thích đều có thể làm kẻ trộm cả. Đại vương đã thu hồi báu vật rồi, sao Đại vương còn muốn bắt trộm làm gì nữa? Xin Đại vương đừng hỏi chuyện ấy.
-  Này Hiền hữu, trẫm ban cho khanh mỗi ngày một ngàn đồng tiền, vậy hãy đem bọn trộm đến cho trẫm.
-  Tâu Chúa thượng, khi đã thu hồi báu vật, thì cần gì bắt bọn trộm nữa?
-  Này Hiền hữu, đối với mọi người, bắt bọn trộm còn quan trọng hơn thu hồi báu vật.
-  Thế thì, tâu Chúa thượng, tiểu thần sẽ không tâu với Chúa thượng: “Bọn trộm là những người này, người nọ,” nhưng tiểu thần sẽ kể một chuyện xảy ra đã lâu. Nếu Chúa thượng thông thái, Chúa thượng sẽ biết ý nghĩa của nó.
Rồi sau đó, ngài kể một chuyện cổ.
*
CHUYỆN VŨ CÔNG PĀṬALA
-  Tâu Đại vương, ngày xưa có một vũ công tên là Pāṭala sống không xa thành Ba-la-nại, trong một ngôi làng bên bờ sông. Một hôm, y vào Ba- la-nại cùng với vợ, và sau khi kiếm tiền được nhờ múa hát, y ăn cơm uống rượu no say vào dịp lễ hội chấm dứt.
Trên đường về làng cũ, y đến bờ sông vừa ngồi ngắm dòng nước chảy vừa uống rượu nồng Trong lúc đang say không biết mình sức yếu, y bảo: Ta sẽ buộc ống sáo lớn vào cổ và đi xuống sông.” Y dắt vợ trong tay bước dần xuống sông. Nước vào trong các lỗ ống sáo, rồi sức nặng của ống sáo
làm y bắt đầu chìm xuống.
Nhưng khi vợ thấy y chìm dần, nàng bỏ mặc y, bước lên khỏi sông và đứng trên bờ.
Vũ công Pāṭala lúc chìm lúc nổi và bụng trướng lên vì uống nước. Vì vậy, vợ y suy nghĩ: “Chồng ta sắp chết, ta muốn xin chàng một bài hát và sẽ kiếm sống nhờ hát giữa đám đông,” và nói:
—  Chàng ơi, chàng sắp chìm xuống nước, xin hãy cho thiếp một bài hát, nhờ đó thiếp tìm ra cách nuôi thân.
Rồi nàng ngâm vần kệ:
1. Pāṭa bị cuốn bởi sông Hằng, 
Ca vũ tài hoa tiếng lẫy lừng,
Chàng hỡi! Chàng trôi theo sóng nước,
Xin chàng cho thiếp khúc ca ngâm.
Lúc ấy, vũ công Pāṭala nói:
-  Nàng ơi, làm sao cho nàng một khúc ca bây giờ đây? Nước vốn là nguồn cứu khổ cho con người nay đang giết ta.
Và y ngâm một vần kệ:
        2. Những người đang bất tỉnh mê man,
Nhờ tưới nước vào để cứu thương,
Ta bị chết ngay trong sóng nước,
Nơi nương tựa đã hóa tai ương!
Bồ-tát muốn giải thích vần kệ này, bảo:
-  Tâu Đại vương, giống như nước là nơi nương tựa của mỗi con người, cũng vậy là vua chúa đối với dân. Nếu hiểm họa phát sinh từ vua chúa, thì còn ai đề phòng được hiểm họa ấy nữa? Tâu Đại vương, đây là một vấn đề bí mật. Tiểu thần vừa kể một câu chuyện mà người hiền trí có thể hiểu được. Xin Đại vương cố hiểu nó.
-  Này Hiền hữu, trẫm không hiểu chuyện bí mật như thể này đâu. Hãy bắt bọn trộm đến cho trẫm.
Sau đó, Bồ-tát nói:
-  Tâu Đại vương, thế thì xin hãy nghe chuyện này và sẽ hiểu.
Rồi ngài lại kể một chuyện khác.
*
CHUYỆN NGƯỜI THỢ GỐM
-   Tâu Đại vương, ngày xưa, trong ngôi làng ngoài cổng thành Ba-la-nại, có một người thợ gốm thường tìm đất sét đem về làm đô gốm, và bao giờ cũng lấy đất sét ở một nơi mà y đào thành một cái hố sâu vào một hang núi.
Bấy giờ, một hôm, y đang đào đất sét, một cơn giông bão trái mùa bùng lên làm mưa rơi tầm tã, gây ngập lụt và làm sụp một bên hố khiến y bị vỡ đầu. Y liền ngâm vần kệ, khóc than rền rĩ:
3.Cái vật này nhờ hạt nảy mầm
Để nuôi sống tất cả người trần,
Đã làm ta vỡ đầu ra đấy,
Chỗ dựa thành tai họa bản thân.
-   Tâu Đại vương, giống như đại địa cầu vốn là nơi nương tựa của loài người, lại làm vỡ đầu chú thợ gốm, cũng vậy, khi vua vốn như là nơi nưong tựa của toàn dân, lại đứng lên đóng vai kẻ trộm, thì còn ai có thể đề phòng hiểm họa ấy nữa? Tâu Đại vương, thế Đại vương có nhận ra tên trộm giả dạng trong câu chuyện này chăng?
-   Này Hiền hữu, chúng ta không cần ý nghĩa ẩn kín trong đó. Hãy nói rõ: “Đây là tên trộm,” và bắt nó dẫn đến giao cho trẫm.
Vẫn bảo vệ nhà vua và không nói thành lời: “Chính Đại vương là tên trộm,” ngài lại kể một chuyện khác.
*
CHUYỆN NGỌN LỬA
Tâu Đại vương, ngay chính kinh thành này, có một nhà người kia bị cháy. Y ra lệnh một người khác vào nhà đem tài sản của y ra. Đến khi chính chủ nhà này vào nhà và đem đồ vật ra thì cánh cửa chợtt đóng lại. Y bị khói tỏa mù mịt không thể tìm đường thoát ra và bị ngọn lửa lên cao hành hạ đau đớn, y ở trong nhà khóc vừa than vừa ngâm vần kệ này
4. Cái vật làm tan vỡ giá băng
Và thiêu đốt hạt giống khô cằn
 Đang thiêu hủy tứ chi ta đó
Chỗ dựa thành tai họa khổ thân.
-   Tâu Đại vuơng, có một người cũng giống như ngọn lửa, vốn là nơi nưong tựa của quần chúng, lại đi ăn trộm môt số lớn châu báu. Xin Đại
vương đừng hỏi tiểu thần về tên trộm này nữa.
-   Này Hiền hữu, cứ đưa tên trộm đến cho trẫm.
Vẫn không nói rõ cho vua chính vua là kẻ trộm, ngài lại kể một chuyện nữa.
*
CHUYỆN BỘI THỰC
-   Tâu Đại vương, ngày xưa, chính tại kinh thành này có một người ăn thái quá nên không thể tiêu hoá thức ăn. Đau đớn điên cuồng, y ngâm vần kệ than khóc:
5. Thức ăn nuôi sống biết bao người
Đạo sĩ, La-môn ở giữa đời,
Đã giết chết ta đây trọn vẹn,
Nơi nương tựa hóa khổ đau rồi.
-   Tâu Đại vương, có một người vốn như lúa gạo, là nơi nương tựa của toàn dân, lại ăn trộm tài vật. Khi tài vật đã được thu hồi, tại sao còn hỏi về tên trộm làm gì?
-   Này Hiền hữu, nếu khanh có tài thì cố đem tên trộm đến cho trẫm.
Ngài kể một chuyện khác để làm cho vua hiểu.
*
CHUYỆN GIÓ THỔI
-   Tâu Đại vương, ngày xưa, ngay chính kinh thành này có ngọn gió thổi lên làm gãy tay chân một người. Y ngâm vần kệ than khóc:
6. Những bậc trí nhân vẫn nguyện cầu
Gió lành tháng sáu thổi lên mau.
Gió nay làm tứ chi ta gãy,
Chỗ dựa thành tai họa khổ đau!
-   Tâu Đại vương, như vậy quả thật hiểm nguy phát xuất từ nơi nương tựa của thần. Xin hãy hiểu chuyện này.
-   Hiền hữu, hãy đem tên trộm cho trẫm.
Để làm cho vua hiểu, ngài lại kể một chuyện khác.
CHUYỆN CÀNH CÂY
-Tâu Đại vương, ngày xưa, trên triền núi Tuyết Sơn có một cây mọc lên chĩa ra nhiều nhánh làm nơi trú ẩn vô số chim muông. Một hôm, hai cành cọ xát vào nhau. Khói bốc ra từ đó và các đốm lửa rơi xuống. Thấy vậy, chim chúa ngâm vần kệ này:
7. Lửa phát sinh ra ở ngọn cây
Chúng ta an trú bấy lâu nay,
Mau lên, giải tán bầy chim nhé,
Chỗ dựa thành nơi hiểm họa đầy.
-  Tâu Đại vương, giống như cây kia là nơi nương tựa của chim muông, cũng vậy, vua là nơi nương tựa của  thần dân. Nếu         vua đóng vai kẻ trộm, thì ai còn đề phòng hiểm họa ấy nữa? Xin Đại vương lưu     ý điều này.
-Này Hiền hữu, cứ đem tên trộm đến cho trẫm.
Sau đó, ngài lại kể một chuyện khác nữa.
*
CHUYỆN GIẾT MẸ GIÀ
-  Tâu Đại vương, trong một làng ở Ba-la-nại, về phía tây một nhà quý tộc, có con sông đầy cá sấu hung dữ, gia đình ấy chỉ có một trai. Lúc cha mất, cậu con chăm sóc mẹ già chu đáo.
Dù con trai không muốn, bà mẹ vẫn đem một cô gái quý tộc về làm vợ chàng. Ban đầu, nàng tỏ ra yêu thương mẹ chồng, nhưng về sau dần dần nàng có đủ con trai con gái đông đúc, nàng lại muốn trừ khử bà đi.
Mẹ của nàng cũng ở cùng nhà này. Trước mặt chồng, nàng tìm ra đủ mọi lỗi lầm của mẹ chồng để làm cho chồng có ác cảm với bà và bảo:
-  Thiếp không thể nuôi mẹ chàng được nữa. Chàng phải giết mẹ đi.
Khi chàng bảo:
-  Sát nhân là chuyện hệ trọng, làm sao ta có thể giết mẹ được?
Nàng đáp:
-  Khi nào mẹ chàng ngủ rồi, chúng ta sẽ đem bà đi, luôn cả giường chiếu đồ đạc, rồi ném bà vào sông cá sấu. Cá sấu sẽ kết liễu đời bà
-  Thế mẹ nàng ở đâu?
-  Mẹ thiếp ngủ cùng phòng với mẹ chàng.
-  Thế thì nàng đi đánh dấu vào chiếc giường mẹ ta nằm bằng cách
buộc sợi dây thừng vào đó.
Nàng làm như vậy rồi bảo:
-  Thiếp đã đánh dấu lên đó rồi.
Người chồng đáp:
-  Hãy đợi ta một lát, để mọi người đi ngủ trước đã.
Rồi chàng nằm xuống giả vờ ngủ; sau đó, đi buộc sợi dây thừng vào giường mẹ vợ. Sau đó, chàng đánh thức vợ dậy, cả hai cùng đi khiêng bà mẹ lẫn tất cả giường chiếu đồ đạc ném xuống sông. Bầy cá sấu giết chết bà ăn thịt ngay tại chỗ.
Hôm sau, nàng khám phá mọi việc đã xảy ra cho chính mẹ mình, liền nói:
-  Chàng ơi, mẹ thiếp đã chết rồi, nay ta hãy giết mẹ chàng.
Chàng bảo:
-  Được lắm. Chúng ta làm một giàn hỏa tại nghĩa địa, rồi thả bà vào đó để giết bà.
Thế là hai vợ chồng khiêng bà ra nghĩa địa trong lúc bà ngủ và đặt bà tại đó. Rồi người chồng hỏi vợ:
-  Nàng có đem lửa theo không?
-  Chàng ơi, thiếp đã quên rồi.
-  Vậy đi tìm lửa đem về đây.
-  Chàng ơi, thiếp không dám đi, còn nếu chàng đi, thiếp không dám ờ lại đây. Vậy chúng ta cùng đi nhé.
Khi họ đi rồi, bà già tỉnh giấc vì gió lạnh, thấy đây là nghĩa địa, bà suy nghĩ: “Chúng nó muốn giết ta, chúng đã đi tìm lửa. Chúng không biết ta mạnh dạn ra sao đâu.”
Bà liền lấy một tử thi đặt lên giường và lấy khăn phủ kín, rồi chạy đi trốn trong hang núi ở nơi ấy. Hai vợ chồng đem lửa về, tưởng tử thi ấy là bà già, họ đốt xác rồi ra về.
Có một kẻ trộm kia giấu một gói đồ vật trong hang núi ấy, lúc trở về thấy bà già, y suy nghĩ: “Đây chắc là quỷ Dạ-xoa. Gói đồ đạc của ta bị quỷ ám.” Thế là y đi tìm thầy bùa trừ tà.
Thầy bùa đọc thần chú và đi vào hang. Bà già bảo:
-  Ta không phải là quỷ Dạ-xoa, nào chúng ta cùng hưởng số báu vật này.
-  Làm sao tin được chuyện này?
-  Cứ đặt lưỡi ông trên lưỡi ta đây.
Thầy bùa làm theo, bà già cắn một khúc lưỡi của thầy và nhả xuống đất. Thầy bùa suy nghĩ:” Chắc chắn đây là quỷ Dạ- xoa.” Thầy bùa vừa chạy vừa la to với cái lưỡi chảy máu ròng ròng. Hôm sau, bà già mặc phục sạch sẽ và đi lấy gói báu vật đem về nhà. Nàng dâu thấy bà vội hỏi:
-        Mẹ ơi, mẹ tìm gói này ở đâu thể?
—     Con yêu quý ơi, hễ ai bị đốt cháy trên giàn hỏa trong nghĩa địa này đều tìm được một gói như vậy.
-   Mẹ yêu quý ơi, thế con có thể tìm được gói này chăng?
-   Nếu con cũng làm như ta thì con cũng có được.
Thế rồi, nàng không nói gì với chồng, và trong lòng ước muốn   có được số châu báu để đeo, nàng đi đến dó tự thiêu sống. Hôm sau, chồng nàng thấy vợ vắng, liền hỏi:
-   Mẹ yêu quý ơi, giờ này sao con dâu mẹ chưa đến?
-Này đồ bất nhân kia, người chết làm sao trở về được?
Rồi bà già ngâm vần kệ:
8.Một gái xuân xanh đẹp biết bao
Với vòng hoa tráng đội trên đầu
Dầu thơm sực nức chiên-đàn tỏa,
Đã được ta ngày trước đón dâu.
Nương tử hân hoan mong ngự trị
Trong nhà ta ở tự bao lâu,
Con dâu đuổi mẹ di nơi khác,
Chỗ dựa thành tai họa thảm sầu!
-   Tâu Đại vương, giống như con dâu đối với mẹ chồng cũng vậy vua là nơi nương tựa cùa toàn dân. Nếu hiểm họa xuất phát từ dó thì ta có thể làm gì được nữa? Xin Đại vương hãy chú ý điều này.
-   Này hiền hữu, trầm không hiểu những việc khanh nói với trẫm. Cử đem tên trộm lại đây cho trẫm.
Ngài suy nghĩ: “Ta muốn che chở vua,” rồi ngài lại kể một chuyện khác.
*
CHUYỆN ĐUỐI CHA GIÀ
-   Tâu Đại vương, ngày xưa, ngay trong kinh thành này, một người kia
sinh con trai đúng như lời nguyện cầu. Khi dứa con ra đời, người cha vui mừng hớn hở vì ý tưởng có được con trai, nên yêu quí nó lắm.
Khi đứa trẻ lớn lên, người cha cưới vợ cho con rồi dần dần ông già yếu không làm được việc nữa. Vì thế, con ông bảo:                                                                                   
-  Cha không làm việc được nữa, cha phải ra khỏi đây.
Rồi nó đuổi cha ra khỏi nhà.
Ông cha hết sức chật vật kiếm sống bằng nghề hành khất, vừa ngâm vần kệ vừa khóc than:
          9.Kẻ mà ta ước muốn sinh ra,
                     Cũng chẳng hoài công mong dợi kia
                      Lại đuổi ta đi, nơi trú ẩn
                     Hóa thành tai họa khổ thân ta.
-  Tâu Đại vương, giống như người cha già phải được đứa con khỏe mạnh chăm sóc, cũng vậy, là toàn dân phải được vua bảo vệ, giờ đây mối hiểm họa lại xuất phát từ vua, người bào vệ toàn dân. Tâu Đại vương, xin hãy hiểu từ việc này rằng kẻ trộm là người như vậy, như vậy.
-  Trẫm không hiểu việc này, dù đó là sự thực hay không phải sự thực. Hoặc là ngươi phải mang kẻ trộm đến đây cho trẫm, hoặc chính ngươi là kẻ trộm ấy.
Vua cứ bảo chàng thanh niên như vậy mãi. Vì thế, ngài hỏi vua:
-  Tâu Đại vương, Đại vương thực sự muốn kẻ trộm bị bắt chăng?
-  Đúng vậy, Hiền hữu.
-  Thế thì tiểu thần sẽ công bố giữa quần chúng rằng kẻ trộm là người như vầy, như vầy.
-  Hãy làm như vậy, này Hiền hữu.
Khi nghe vua nói, ngài suy nghĩ: “Vua này không cho phép ta che chở nữa. Ta sẽ bắt tên trộm bây giờ.”
Khi quần chúng đã tụ tập đầy đủ, ngài ngâm vần kệ với họ:
10. Này dân thành thị đến thôn làng
Tề tựu lắng nghe tất cả rằng:
Kìa! Nước lạnh nay đang bốc cháy,
Chốn bình an phát xuất kinh hoàng.
Đại vương, Đạo sĩ cùng than vãn
 Quốc độ bị cường đạo phá tan.
Vậy mọi người dân lo tự vệ,
Nơi nương lựa bỗng hóa tai nàn.
Khi quần chúng nghe nói vậy, họ suy nghĩ: Vị vua nay, mặc dù phải bảo vệ thần dân, lại đổ lỗi cho nguời khác. Sau khi chính tay vua bỏ báu vật vào hồ, vua lại bảo đi tìm kẻ trộm! Để cho vua khỏi đóng vai kẻ trộm trong tương lai, chúng ta phải giết hôn quân vô đạo này.”
Vì thế, họ đứng lên với trượng, chùy trong tay đánh vua và vị tế sư cho đến chết tại chỗ. Rồi họ làm lễ quán đảnh (rày nước thánh phong vương) Bồ-tát và đưa ngài lên ngôi.
*
Sau khi kể chuyện này để làm sáng tỏ các Sự thật, bậc Đạo sư bảo:
- Này cư sĩ, không kỳ diệu gì khi nhận ra dấu chân trên mặt đất, vì các bậc trí ngày xưa còn nhận ra chúng trên không nữa.
Lúc kết thúc các Sự thật, vị cư sĩ cùng con trai đắc Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
—  Thời ấy, người cha là Kassapa (Ca-diếp) và chàng thanh niên có tài nhận dấu chân chính là Ta.

433 CHUYỆN VỊ KHỐ HẠNH CA-DIẾP NHIỀU LÔNG TÓC
(TIỀN THÂN LOMASAKASSAPA)
Đại vương sẽ giống hệt Indra...
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỷ-kheo có tâm thế tục.
Bậc Đạo sư hỏi vị ấy có thật ông đang mơ tưởng chuyện thế tục chăng, và khi ông công nhận là đúng như vậy, bậc Đạo sư bảo:
-  Này Tỷ-kheo, ngay cả người đạt danh vọng tối cao đôi khi cũng phạm vào một việc ô danh. Những tội lỗi như thế làm ô uế những vị thanh tịnh, huống nữa là một kẻ như ông.
Rồi Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày xưa, vương tử Brahmadatta, con vua Brahmadatta ở Ba-la-nại, và con trai vị tế sư hoàng gia tên là Kassapa là đôi bạn đồng học mọi nghệ thuật tại nhà một giáo sư. Dần dần, khi vua cha băng hà, thái tử lên trị vì quốc độ. Kassapa nghĩ: “Hiền hữu ta đã lên làm vua và sẽ ban đại quyền lực cho ta. Song ta có cần gì quyền lực! Ta muốn giã từ đức vua cùng song thân và trở thành vị khổ hạnh.”
Vì vậy, ngài vào vùng Tuyết sơn sống đời tu hành, vào ngày thứ bảy ngài thành đạt các Thắng trí và các Thiền chứng và tự kiếm sống bằng những thứ nhặt được giữa đồng hoang. Quần chúng đặt cho ngài biệt danh nhà khổ hạnh Lomasakassapa (Ca-diếp có nhiều lông tóc).
Vì hành hạ thân xác, ngài trở thành vị khổ hạnh khắc nghiệt cao độ. Do công năng khổ hạnh này, cung của Thiên chủ Sakka (Đế-thích) rúng động. Sakka suy xét duyên cớ, quan sát ngài và suy nghĩ: “Vị khổ hạnh này nhờ công năng tỏa nhiệt độ mãnh liệt như thế, có thể khiến ta rớt khỏi ngai Đế- thích. Ta sẽ phá hủy khổ hạnh của vị ấy sau khi bí mật hội kiến với vua Ba-la-nại."

Nhờ thần lực của một vị Thiên chủ, Đế-thích vào cung của vua Ba-la- nại lúc nửa đêm và chiếu sáng toàn thể cung thất với hào quang trên thân; vừa đứng trên không trước mặt vua, Thiên chủ vừa thức vua dậy và nói:
-   Thưa Đại vương, dậy đi.
Vua hỏi:
-Ngài là ai?
Thiên chủ đáp:
-Ta là Sakka.
-   Ngài đến đây vì duyên cớ gì?
-   Thưa Đại vương, Đại vương có muốn quyền ngự trị duy nhất toàn cõi Diêm-phù-đề (Ấn Độ) này chăng?
-   Dĩ nhiên trẫm muốn.
Nghe thế thiên chủ bảo:
-   Vậy hãy đưa Lomasakassapa về đây và ra lệnh cho vị ấy làm lễ tế đàn bằng cách giết thú vật, rồi Đại vương sẽ trở thành vĩ đại như Thiên chủ Sakka (tức Indra), thoát khỏi già chết và cầm quyền khắp cõi Diêm-phù-đề.
Rồi ngài ngâm vần kệ đầu:
1. Đại vương sẽ giống hệt Indra,
Sẽ chẳng chết đi, cũng chẳng già,
Ví thử Kassapa nhận lệnh
Tế đàn sinh vật tại cung vua.
Nghe lời ngài, vua sẵn sàng chấp thuận. Sakka bảo:
-   Thế thì đừng chậm trễ.
Rồi ngài biến mất.
Hôm sau, vua triệu vị quốc sư tên Sayha đến bảo:
-   Này Tôn giả, xin đến gặp thân hữu Lomasakassapa của trẫm và nhân danh trẫm nói với người như vầy: “Nếu Đại vương khuyến dụ được ngài làm lễ hiến tế sinh vật, Đại vương sẽ trở thành vị chúa độc nhất ở toàn cõi Diêm-phù-đề và sau đó sẽ ban ngài nhiều vùng lãnh thổ như ý ngài muốn. Vậy xin ngài cùng đi với tôi về làm lễ tế đàn.”
Vị ấy đáp:
-   Tâu Đại vương, xin vâng.
Sau đó, dùng trống lệnh truyền tìm chỗ vị khổ hạnh cư trú, và khi có người kiểm lâm bảo: Tiểu thần biết,” Sayha liền đi theo sự hướng đẫn của
y cùng một đoàn tùy tùng đông đảo, đến kính lễ vị hiền nhân và vừa cung kính ngồi một bên, vừa trình thông điệp của vua. Vị hiền nhân liền bảo:
-  Này Sayha, Tôn giả nói gì vậy?
Rồi ngài ngâm bốn vần kệ từ chối vị này:
2. Không hải đảo nào giữa đại dương
Được người canh giữ thật an toàn
Hòng mong lôi cuốn ta, Tôn giả,
Vào việc bạo tàn đại bất lương.
3. Lòng tham lợi dưỡng với vinh danh,
Tội ác từ đây vẫn phát sinh,
Đưa đến khổ ưu không gián đoạn,
Ác hành tai hại đáng chê khinh!
4.Thà làm kẻ khốn khó ly gia,
Khất thực kiếm ăn khắp mọi nhà,
Hơn phải tạo nên điều tội lỗi,
Sẽ mang ô nhục trút đầu ta.
 5. Thà cầm bình bát ở trong tay
 Để tránh thật xa tội lỗi này,
Hơn chiếm được toàn quyền quốc độ
 Nhờ hành động ác độc như vầy.
Sau khi nghe ngài nói, vị quốc sư ra về trình vua. Vua suy nghĩ: “Nếu vị ấy không chịu đến đây thì ta làm gì được?” rồi ngồi im lặng. Nhưng nửa đêm, Thiên chủ Sakka lại đến đứng trên không và bảo:
-  Thưa Đại vương, tại sao Đại vương không truyền gọi ẩn sĩ Lomasakassapa về và ra lệnh vị ấy làm lễ hiến tế súc vật?
-  Khi được lệnh truyền gọi, vị ấy đã từ chối về đây.
-  Thưa Đại vương, hãy trang điểm cho công chúa Candavatī (Nguyệt Nương), ái nữ cùa Đại vương, và nhờ chính tay Sayha đưa nàng đi và bảo vị ấy: “Nếu Tôn giả muốn về dâng tế lễ, Chúa thượng sẽ ban thưởng công nương này làm vợ ngài.” Rõ ràng vị ấy sẽ sinh lòng say mê công chúa và về đây
Vua sẵn sàng chấp thuận và hôm sau nhờ chính tay Sayha đưa công chúa đi. Sayha đem công chúa đến đó, và sau lời chào hỏi thông thường cùng ca ngợi vị hiền giả, vị quốc sư bảo đưa đến trình diện với ngài nàng công chúa diễm lệ khả ái như tiên nữ cung kính đứng xa xa.
Vị khổ hạnh mất ngay giới đức khi nhìn thấy nàng và chỉ nhìn thế thôi, ngài đã tiêu tan hết thiền lực. Vị quốc sư thấy ngài đã đắm say luyến ái nàng, liền bảo:
-  Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả muốn hiến tế, Chúa thượng sẽ ban công chúa này về làm vợ ngài.
Ngài rung động vì mãnh lực của tham dục liền hỏi:
-  Chắc chắn Chúa thượng sẽ ban nàng cho ta chứ?
-  Đúng vậy, nếu ngài làm tế lễ, Chúa thượng sẽ ban nàng cho ngài.
-  Tốt lắm. Nếu ta được nàng, ta sẽ làm lễ hiến tế.
Rồi đem nàng đi cùng ngài ngay lúc ấy với các chòm tóc bện của một vị khổ hạnh và mọi thứ khác, ngài leo lên chiếc vương xa lộng lẫy đi về Ba- la-nại. Còn vua, ngay khi nghe tin ngài đang chắc chắn đến đó, liền chuẩn bị lễ đàn ở hố hiến tế sinh vật.
Khi thấy ngài đã đến, vua bảo:
-  Nếu Hiền hữu dâng lễ hiến tế, trẫm sẽ sánh ngang với Thiên chủ Indra; và khi tế lễ hoàn tất, trẫm sẽ ban công chúa cho Hiền hữu.
Vị khổ hạnh Kassapa sẵn sàng chấp thuận.
Vì thế hôm sau, vua cùng công chúa Candavatī đi đến hố hiến tế sinh vật. Tại đó có đủ loại súc vật bốn chân như voi, ngựa, bò đực và các loài khác đặt thành một dãy. Ẩn sĩ Kassapa lãnh việc hiến tế bằng cách giết chết tất cả bọn chúng.
Lúc ấy, thần dân tụ tập quanh đó bảo:
-  Hỡi Tôn giả Lomasakassapa, việc này không thích hợp cũng không xứng đáng với ngài, tại sao ngài làm như vậy?
Và vừa than vừa khóc, họ vừa ngâm hai vần kệ:
6. Nhật, nguyệt đều mang đại lực thần,
Thủy triều không nhượng lực phàm trần
 La-môn, Đạo sĩ đầy oai lực,
Song vẫn kém xa lực nữ nhân.
7. Nguyệt Nương cũng vậy, đã làm cho
 Ca-diếp hiền nhân mắc tội to,
Thúc giục ngài theo lời Chúa thượng
 Tế đàn sinh vật tại cung vua.
Vào lúc này, để bắt đầu tế lễ, Kassapa nhấc bảo kiếm lên để đánh vào
cổ vương tượng. Con voi thấy thanh kiếm, kinh hoàng vì sợ chết, liền rống thật lớn. Khi nghe tiếng voi rống, các súc vật kia, cả bầy voi ngựa, bò đực vì sợ chết, đồng rống lên thật lớn và quần chúng cũng kêu thét lên.
Kassapa nghe các tiếng rống kia, lòng xúc động và nghĩ lại các chòm tóc bện của mình. Lúc ấy, ngài nhờ nhớ đến các chòm tóc, râu và lông phủ khắp ngực và toàn thân, đầy hối hận, ngài kêu lớn:
-        Than ôi, ta đã phạm ác nghiệp không xứng đáng với tính cách của ta. Rồi ngài ngâm vần kệ thứ tám bày tò xúc động của mình:
8. Ác nghiệp này ta đã muốn làm,
               Chính là kết quả của long tham,
               Cái mầm dục vọng đang tăng trưởng,
               Gốc rễ nó, ta quyết cắt ngang.
Sau đó vua phán:
-  Này Hiền hữu, đừng sợ, hãy dâng tế lễ và ngay bây giờ trẫm sẽ ban cho Hiền hữu công chúa Candavatī, cùng với vương quốc của trẫm và cả một đống châu báu cao ngất nữa.
Nghe thế, ẩn sĩ Kassapa đáp:
-  Tâu Đại vương, ta không muốn tội ác này tràn ngập tâm ta.
Rồi ngài ngâm vần kệ kết thúc:
    9. Đáng ghét bao tham dục thế thường,
               Thà theo khổ hạnh tốt lành hơn,
               Ta làm ẩn sĩ nguyền ly dục,
               Ngài giữ nước nhà với Nguyệt Nương.
Cùng với những lời này, ngài tập trung vào một đối tượng thiền quán. Khi phục hồi được định lực đã mất, ngài ngồi bắt chéo chân trên không, thuyết pháp cho vua, khuyên nhủ vua tinh cần làm thiện sự và bảo vua hủy bỏ tế đàn cùng ban lệnh ân xá cho quần chúng. Rồi thế theo lời thỉnh cầu của vua, ngài bay lên không trở về nơi an trú của mình. Trong thời gian ngài còn sống, ngài tu tập các Phạm trú viên mãn (Tứ vô lượng tâm) và được sinh lên Phạm thiên giới.
*
Sau pháp thoại, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật. Lúc kết thúc các Sự thật, vị Tỷ-kheo có tâm thế tục đã đắc Thánh quả (A-la-hán).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Thuở ấy, vị đại quốc sư là Sāriputta và vị khổ hạnh Lomasakassapa chính là Ta.
/29
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây