Đại Tập 61 - Bộ Kinh Tập VIII - Số 639tt->655
Kinh điển / ấn phẩm thuộc chủ đề Tam Tạng Kinh » Kinh Điển Đại Thừa, Kinh Tạng Bắc Truyền » Bộ Kinh Tập, Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, gồm 24 chương/phẩm, dày 1005 trang, xuất bản năm 2000.
Tác giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Dịch giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 311.
Đoạn kinh văn này tổng kết tất cả những điều trang nghiêm vừa được diễn giảng ở trên: Phật quang, thọ mạng, Thanh Văn, Bồ Tát. Tuy văn tự giống hệt đoạn văn kết ở trên, nhưng ý nghĩa có khác. Trong đoạn tiểu kết trước, chỉ kết về y báo trang nghiêm. Đoạn này kết lại chánh báo trang nghiêm: trong cõi nước Cực Lạc, hóa chủ, hóa bạn thảy đều vô lượng thù thắng trang nghiêm, không điều gì không là do công đức nguyện hạnh thù thắng chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà tạo thành.
2. ĐẶC KHUYẾN ƯNG CẦU VÃNG SANH DĨ PHÁT NGUYỆN (riêng khuyên phải nên cầu vãng sanh để phát nguyện)
2.1. Vãng sanh giai đắc bất thoái (hễ vãng sanh đều được bất thoái chuyển)
Chánh kinh:
Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí.
(Lại này Xá Lợi Phất! Chúng sanh sanh về cõi nước Cực Lạc đều là bậc Bất Thoái Chuyển)
Giải:
Đã giảng xong y báo, chánh báo trang nghiêm cõi Cực Lạc, trong đoạn này, Đức Phật bèn dẫn dụ chúng sanh phát sanh lòng tin phát nguyện cầu được vãng sanh, hòng đạt được nhân thù thắng xuất thế vô thượng, ngõ hầu vượt ngang ra khỏi tam giới, viên chứng ba thứ Bất Thoái, vĩnh viễn giải quyết xong vấn đề sanh tử, rốt ráo thành Phật.
Để làm được điều này, nếu còn nấn ná trong cõi Sa Bà, phải đoạn sạch cả ba Hoặc. Hơn nữa, cõi này lắm chướng duyên gây thoái thất, khó lòng hoàn thành. Vì thế, trước khi khuyến hóa thính chúng phát nguyện,
Đức Phật đặc biệt phô bày nhân duyên thù thắng của cõi Cực Lạc để người nghe sanh lòng hâm mộ, hăm hở phát nguyện cầu sanh.
Những người mới sanh về cõi Cực Lạc, dẫu là mới đến vẫn đều sẽ đạt được địa vị bất thoái nên bảo là “chúng sanh sanh giả”.
“A Bệ Bạt Trí”: Còn phiên là A Duy Việt Trí, Hán dịch là Bất Thoái Chuyển, gồm có ba loại: Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, Niệm Bất Thoái, trong phần luận về thể dụng của kinh đã bàn qua, ở đây không nhắc lại.
Ngoài ba thứ Bất Thoái nói trên, Ngài Khuy Cơ còn xướng ra năm thứ bất thoái: Tín Bất Thoái, Vị Bất Thoái, Chứng Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, Phiền Não Bất Thoái, nhưng không giải thích rõ.
Căn cứ trên công hạnh của người niệm Phật, lại có bốn loại Bất Thoái:
1) Niệm Bất Thoái: người niệm Phật chẳng những niệm đến mức đạt được Sự nhất tâm bất loạn, mà còn có thể tiến nhập Lý Nhất Tâm Bất Loạn (hai thứ Sự và Lý nhất tâm bất loạn này đã được giải thích tỉ mỉ trong sách Yếu Giải), phá vô minh, hiển Phật Tánh. Chánh nhân Phật Tánh hiển hiện nên Lý Tâm phát khởi, chứng được Pháp Thân đức. Liễu nhân Phật Tánh hiển hiện khiến Huệ Tâm sanh khởi, chứng được Bát Nhã đức. Duyên nhân Phật Tánh hiển hiện khiến thiện tâm phát khởi, chứng Giải Thoát đức. Viên chứng ba thứ Phật Tánh như thế, phát trọn vẹn ba thứ tâm như thế, chứng trọn vẹn ba đức như thế, khai Phật tri kiến, sanh trong Thượng Phẩm Thượng Sanh nơi cõi Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ, chứng được một phần Thường Tịch Quang Tịnh Độ. Đó là Niệm Bất Thoái.
2) Hạnh Bất Thoái: Người niệm Phật chẳng những đoạn được Kiến, Tư, Phiền Não, sanh trong cõi Phương Tiện Hữu Dư
Tịnh Độ, lại còn có thể hồi Tiểu hướng Đại, từ Không xuất Giả, đi vào cõi tục độ sanh, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, sanh trong Thật Báo Tịnh Độ, chứng một phần Thường Tịch Quang Tịnh Độ, làm bầu bạn cùng với hàng Bất Thoái Bồ Tát. Đấy là Hạnh Bất Thoái.
3) Vị Bất Thoái: Tu hành trong thế giới Sa Bà, tất nhiên phải đoạn Kiến Tư Hoặc, phá Ngã Chấp, chứng Chân Đế, mới an trụ nơi Vị Bất Thoái. Nhưng đối với cõi Cực Lạc, chẳng cần phải đoạn hoặc chứng chân, chỉ cần nhất tâm niệm Phật, lâm chung mười niệm liền được vãng sanh, sanh trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư, đến khi hoa nở gặp Phật, niệm niệm cầu thành Phật đạo. Đấy là Niệm Bất Thoái. Thường gặp Phật nghe pháp, ưa thích tu hạnh Đại Thừa, liền chứng Hạnh Bất Thoái, cùng các vị thượng thiện nhân luôn ở chung một chỗ, đó là Vị Bất Thoái. Đây chính là điểm đặc biệt thù thắng nhất của cõi Tịnh Độ, chỉ cần vãng sanh Cực Lạc, ba thứ Bất Thoái đều tự nhiên viên thành.
4) Cứu Cánh Bất Thoái: Hết thảy chúng sanh chẳng cần biết là hữu tâm hay vô tâm, chẳng luận là nhất tâm hay tán tâm, chẳng kể là chỉ một lần xưng niệm thánh hiệu Di Đà hay thánh hiệu của chư Phật phương khác, đều tạo thành chân nhân thành Phật. Dù chỉ nghe người khác xưng niệm Phật hiệu cũng tạo thành thiện căn, rốt ráo sẽ thành Phật. Đấy gọi là Cứu Cánh Bất Thoái.
Trong kinh A Di Đà đây, khi nói đến A Bệ Bạt Trí là nói đến ba thứ Bất Thoái đầu tiên.
Nếu xét về địa vị thì:
a) Sơ Quả trong Tạng Giáo, Kiến Địa trong Thông Giáo, Sơ Trụ trong Biệt Giáo, Sơ Tín trong Viên Giáo đều mới đoạn
được Kiến Hoặc, mới chứng nhập Thánh Vị, không còn lui sụt xuống địa vị phàm phu, nên gọi là Vị Bất Thoái.
b) Địa vị Bồ Tát trong Thông Giáo, Thập Hạnh trong Biệt Giáo, Thập Tín trong Viên Giáo không những đoạn được Kiến Hoặc còn phá được Trần Sa, rộng độ chúng sanh, chẳng lui sụt xuống địa vị Nhị Thừa, nên gọi là Hạnh Bất Thoái.
c) Địa vị Sơ Địa trong Biệt Giáo, Sơ Trụ trong Viên Giáo vừa mới đoạn được vô minh, thấy được Phật Tánh, đắc Vô Sanh Nhẫn, tâm tâm tự nhiên lưu nhập Diệu Giác Tánh Hải, nên gọi là Niệm Bất Thoái.
Nói tóm lại: Phải đoạn được Kiến Hoặc mới chứng Vị Bất Thoái. Phải đoạn Trần Sa Hoặc mới chứng Hạnh Bất Thoái. Đoạn sạch Vô Minh Hoặc mới chứng Niệm Bất Thoái. Đó là điểm chung của mọi cõi Phật. Thế nhưng trong cõi Cực Lạc, dù là ngũ nghịch thập ác đi nữa mà chịu hồi tâm phát nguyện vãng sanh, dẫu thuộc vào hạ hạ phẩm, vẫn có thể viên chứng ba thứ Bất Thoái! Nếu chẳng do đại nguyện vĩ đại của đức A Di Đà cảm thành như thế, lẽ nào lại được như vậy ư? Khắp cả mười phương thế giới, trọn không đâu có được phương tiện thù thắng, lạ lùng nhường ấy! Trong khắp các giáo pháp, cũng chẳng có pháp môn nào thù thắng, mầu nhiệm khôn sánh thế ấy!
Sách Thập Nghi Luận giảng rõ:
“Có năm nhân duyên nên được bất thoái:
1) Được đại bi nguyện lực của Phật Di Đà nhiếp trì, nên được Bất Thoái.
2) Phật quang thường chiếu nên Bồ Đề tâm niệm niệm tăng trưởng. Vì thế được Bất Thoái.
3) Nước, chim, rừng cây, tiếng gió reo, tiếng nhạc tự nhiên vang vọng đều có thể diễn nói pháp âm mầu nhiệm, khiến người nghe thường niệm Tam Bảo. Vì thế được Bất Thoái.
4) Các bạn hữu thuần là Bồ Tát nên được Bất Thoái.
5) Thọ mạng vĩnh kiếp, ngang bằng với thọ mạng của Phật, nên được Bất Thoái”.
Ngài Khuy Cơ lại bảo có năm nhân duyên khiến người sanh trong cõi Cực Lạc sẽ không bị thoái chuyển:
1) Do không bịnh nên không bị sự khổ trói buộc.
2) Không gây tạo những hạnh trái nghịch chánh pháp.
3) Thường đọc tụng, nghe giảng kinh pháp.
4) Thường nghĩ làm việc lành.
5) Luôn hòa thuận, không gặp các sự kình chống, trái ý, tranh chấp.
Như vậy, lời cổ đức dạy: “Tu hành thì Niệm Phật là ổn đáng nhất” quả thật chẳng ngoa! Vãng sanh liền được viên chứng ba thứ Bất Thoái chính là kết quả của lời nguyện thứ 17 trong 48 đại nguyện.
Chúng sanh cõi Sa Bà được phân làm ba loại, trong kinh thường gọi là Tam Tụ. Tụ có nghĩa là tụ họp lại, hay còn có nghĩa là xếp vào cùng loại:
1) Tà Định Tụ: gồm những kẻ không tin Phật pháp, bác không nhân quả.
2) Bất Định Tụ: gồm những chúng sanh tuy tín ngưỡng Phật pháp, nhưng lòng tin không kiên định, lúc tiến, lúc lùi, không nhất định. Hàng Bồ Tát ở địa vị Thập Tín còn bị gọi là Mao Đạo Bồ Tát, tức là đạo nghiệp tu hành của họ giống như những sợi lông theo gió cuốn bay lơ lửng trong không trung. Gió là ví cho cảnh giới. Hàng Bồ Tát chưa đạt đến địa vị Thập Tín chưa thể tự mình làm chủ, gặp được cảnh giới Phật pháp thì tinh tấn tu hành, gặp cảnh giới ngũ dục, ắt sẽ liền biếng nhác, thoái đọa.
Do tinh tấn chẳng nhất định như thế nên vẫn thuộc về Bất Định Tụ.
3) Chánh Định Tụ: gồm những bậc đã chứng từ địa vị Sơ Trụ kể đi, vĩnh viễn chẳng sanh khởi tà tri, tà kiến, đối với chánh pháp đã sanh tâm quyết định, nên gọi là Chánh Định Tụ.
Chúng sanh vãng sanh cõi Cực Lạc đều thuộc về Chánh Định Tụ vì đã viên chứng ba thứ Bất Thoái.
Xét theo Lý, “bất thoái” biểu thị tự tánh thường trụ.
2.2. Bổ xứ toán số mạc trắc (Chẳng thể tính toán nổi số lượng những vị Nhất Sanh Bổ Xứ):
Chánh kinh:
Kỳ trung đa hữu Nhất Sanh Bổ Xứ. Kỳ số thậm đa, phi thị toán số sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng vô biên a tăng kỳ thuyết.
(Trong số đó, có nhiều vị Nhất Sanh Bổ Xứ. Số [các vị Bổ Xứ] ấy rất nhiều, chẳng thể tính toán để biết được nổi, chỉ có thể dùng [con số] vô lượng vô biên a tăng kỳ để nói)
Giải:
Không những người vãng sanh về Cực Lạc là hạng Bất Thoái, trong ấy còn có chẳng thể tính đếm nổi các vị đã đạt đến địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ.
Nhất Sanh Bổ Xứ chính là địa vị Đẳng Giác Bồ Tát, tức là những vị trong một đời sẽ kế tiếp thành Phật. Chẳng hạn như Di Lặc Bồ Tát hiện đang ngự trong nội viện cung trời Đâu Suất, sẽ tiếp nối Phật Thích Ca thành Phật trong cõi Sa Bà. Đẳng Giác Bồ Tát còn một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá hết, nên còn phải sanh một đời nữa, đoạn được phẩm sanh tướng vô
minh ấy mới có thể chứng đắc địa vị Diệu Giác (tức là Phật Quả). Bởi thế, gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ.
Nếu xét theo cõi Sa Bà này, thì vô minh gồm có bốn mươi hai phẩm. Bồ Tát chứng Sơ Vị trong Viên Giáo đã có thể đoạn được vô minh, lần lượt trải qua các địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, trong mỗi địa vị phá được một phẩm vô minh, đến địa vị Đẳng Giác phá được tất cả bốn mươi mốt phẩm vô minh; nhưng vẫn còn sanh tướng vô minh chưa phá sạch.
Chúng sanh cõi Cực Lạc đều là Bất Thoái đã là điều thù thắng chẳng thể nghĩ bàn so với mọi cõi Phật khác. Thế mà cõi ấy lại còn có chẳng thể tính đếm nổi số lượng các vị Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát như thế thì thật là thù thắng vượt xa mọi cõi Phật khác, thù thắng bậc nhất trong mọi điều thù thắng, không còn có thể dùng lời lẽ nào để tán thán, xưng dương được nữa!
Cứ thử tạm nghĩ: từ lúc phát tâm tu hành, tu đến viên mãn địa vị Thập Tín, chứng được Vị Bất Thoái, chẳng biết phải tu hành bao kiếp, thật là khó khăn; huống hồ chứng đắc Hạnh Bất Thoái và Niệm Bất Thoái lại càng khó khăn biết dường nào! Đến như địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ, cả cõi Sa Bà này, chỉ có mình đức Di Lặc Bồ Tát. Thế mà cõi Cực Lạc lại có tối thiểu là vô lượng vô biên a tăng kỳ vị Nhất Sanh Bổ Xứ thì thật là một điều kỳ tuyệt, duy nhất trong mười phương cõi Phật vậy!
Hỏi: Bổ Xứ Bồ Tát ở vào địa vị Á Thánh, sẽ kế ngôi làm Phật. Thế mà Phật A Di Đà thọ mạng vô lượng vô biên kiếp dài lâu. Khi Phật diệt độ, Quán Âm rồi đến Thế Chí lần lượt nối ngôi thành Phật, vị nào thọ mạng cũng cực dài lâu. Thế mà lại có quá nhiều vị Nhất Sanh Bổ Xứ như thế thì đến khi nào mới có thể kế ngôi thành Phật được?
Đáp: Mười phương có vô lượng thế giới, đương nhiên sẽ có vô lượng chư Phật. Chư Phật nhập Niết Bàn thì đương nhiên sẽ
có vô lượng Bồ Tát kế ngôi thành Phật. Các vị Nhất Sanh Bổ Xứ cõi Cực Lạc sẽ kế ngôi thành Phật trong vô lượng thế giới mười phương, chứ đâu cứ nhất định phải thành Phật trong cõi Cực Lạc!
Xét về Lý, Nhất Sanh Bổ Xứ biểu thị ý quyết định thành Phật.
2.3. Chánh khuyến phát nguyện vãng sanh(khuyên nên phát nguyện vãng sanh):
Chánh kinh:
Xá Lợi Phất! Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ.
(Xá Lợi Phất! Chúng sanh nghe vậy, hãy nên phát nguyện sanh về cõi ấy. Vì cớ sao thế? Được cùng với vị thượng thiện nhân như thế ở cùng một chỗ).
Giải:
Đây là đoạn kinh văn Đức Phật chánh thức khuyến hóa nên phát nguyện vãng sanh Cực Lạc. Nói cách khác, ở đây đức Phật nêu ra điều kiện tiên quyết thứ hai để được vãng sanh: Nguyện. Dù có lòng tin sâu xa vào sự thù thắng trang nghiêm cõi Cực Lạc, nhưng vẫn không chịu phát nguyện thì sẽ trọn chẳng bao giờ được vãng sanh! Vì thế, cần phải phát nguyện.
“Chúng sanh văn giả”: Ngoại trừ Đức Phật ra, tất cả đều gọi là “chúng sanh”. Nói chung, chúng sanh gồm trong chín pháp giới: sáu pháp giới của lục đạo phàm phu chúng sanh, hai pháp giới của hàng Nhị Thừa, và một pháp giới của các vị Bồ Tát. “Văn” có nghĩa là đã nghe những công đức thù thắng mầu
nhiệm của y báo, chánh báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc như trên đã giảng.
“Ưng đương phát nguyện”: Hai chữ “ưng đương” (phải nên) chính là lời răn dạy đinh ninh, ân cần của đấng Thích Tôn. Ý nói: Những người hữu duyên đã được nghe pháp này, hãy nên mau phát nguyện cầu sanh. Bởi thế, kinh chép là “ưng đương phát nguyện”.
Câu “nguyện sanh bỉ quốc” là nói đến chí nguyện cầu sanh Cực Lạc. Đây chính là đức Bổn Sư bi tâm khẩn thiết, chỉ sợ chúng sanh nghe giảng rồi như gió thoảng bên tai, chẳng chịu do nghe pháp sanh khởi lòng tin, do tin phát nguyện vãng sanh, đánh mất duyên thù thắng vô thượng, nên cứ đau lòng rát miệng ân cần khuyến dụ nhiều phen!
Trộm nghĩ: nhân quả mười phương nào ngoài Nguyện. Cổ đức từng nói: “Hữu nguyện cánh thành”. Mỗi một sự trang nghiêm thù thắng khôn sánh của cõi Cực Lạc cũng đều do đại nguyện vĩ đại của đức Di Đà cảm thành. Người vãng sanh cõi ấy cũng chẳng thể không nương vào nguyện lực của chính mình và của Phật để được vãng sanh. Mọi sự trên thế gian này đều do ý nguyện mà thành, huống hồ là chuyện vãng sanh Cực Lạc!
“Sở dĩ giả hà?” là lời hỏi ngược lại để thâu tóm ý của đoạn văn trên, hàm ý: Vì sao Phật lại đặc biệt khuyến hóa phát nguyện vãng sanh? Cõi Sa Bà này, Phật cũng là hóa chủ, can cớ chi lại muốn xa lìa cõi này sanh về cõi ấy? Mười phương có vô lượng cõi Phật, cần gì cứ phải khăng khăng nguyện sanh cõi Cực Lạc?
Tiếp đó, Phật giải thích: vì cõi ấy có vô lượng vị thượng thiện nhân như đã thuật ở trên cùng tụ họp ở chung một chỗ. Đấy chính là nhân duyên thù thắng để un đúc thiện nghiệp thù thắng, tạo thành sự thành tựu ba thứ Bất Thoái không cõi nào
khác có được, nên phải đặc biệt phát nguyện sanh trong cõi Cực Lạc.
Chữ “thượng thiện nhân” chỉ các vị Bồ Tát, Nhất Sanh Bổ Xứ v.v... Cõi trời tuy lành nhưng vẫn chưa ra khỏi sanh tử. Nhị Thừa dẫu lành nhưng vẫn còn chấp vào Không Tịch. Do đó, đều chẳng thể gọi là Thượng Thiện được. Chỉ có những vị từ hàng Bồ Tát đã phá vô minh, thấy được Pháp Thân cho đến các vị Nhất Sanh Bổ Xứ mới đáng gọi là “thượng thiện”. Do số lượng các vị như vậy rất nhiều nên bảo là “chư thượng thiện nhân”.
Còn có thể hiểu “thượng thiện nhân” là từ ngữ chỉ chung tất cả thánh phàm cõi Cực Lạc. Nói vậy, ắt sẽ có kẻ cật vấn: “Chúng sanh cõi Cực Lạc chẳng phải chỉ gồm có một loài, nào là hạng đới nghiệp vãng sanh, thậm chí còn có kẻ ngũ nghịch, thập ác, lâm chung thập niệm vãng sanh, lẽ đâu đều gọi tất cả là thượng thiện nhân?”
Xin đáp: Đều gọi là thượng thiện nhân vì tất cả đều đã chứng Bất Thoái, đều sẽ rốt ráo thành Phật vậy.
Cõi Sa Bà ngũ trược đầy dẫy, lắm chướng duyên, thường chịu đủ mọi nỗi khổ, chánh báo, y báo biến đổi vô thường, khó thành tựu đạo nghiệp xuất thế. Cõi Sa Bà này dẫu cũng là Phàm Thánh Đồng Cư, nhưng khi Phật đã nhập diệt, muốn gặp gỡ các vị Bồ Tát, các thánh giả Nhị Thừa cũng là điều thiên nan, vạn nan. Vì vậy, dẫu là Phàm Thánh Đồng Cư, nhưng tựa hồ chỉ là cái danh xuông. Thêm nữa, ma chướng trùng trùng. Có vô lượng các loài ma, thiên sai vạn biệt, nhưng nếu nói đại lược, có hai loại ma:
1) Ngạnh ma (ma cứng): tức là những kẻ oan gia đối đầu, ganh ghét, đố kỵ, gây chướng ngại, khiến chúng ta chẳng thể khéo dụng công tu hành.