Đại Tập 57 - Bộ Kinh Tập IV - Số 490->584
Kinh điển / ấn phẩm thuộc chủ đề Tam Tạng Kinh » Kinh Điển Đại Thừa, Kinh Tạng Bắc Truyền » Bộ Kinh Tập, Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh, gồm 54 chương/phẩm, dày 1046 trang, xuất bản năm 2000.
Tác giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Dịch giả: Bửu Quang Tự Đệ Tử Như Hòa Hợp. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 311.
được nổi này. Ngài làm được cả hai điều rất khó thực hiện ấy nên bảo là “thậm nan” (rất khó).
4. PHÁP CHÚNG LỄ THOÁI
Chánh kinh:
Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư tỳ kheo, nhất thiết thế gian: thiên, nhân, A-tu-la đẳng văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.
(Phật nói kinh này xong, Xá Lợi Phất và các tỳ kheo, hết thảy thế gian: trời, người, a tu la v.v... nghe lời Phật dạy, hoan hỷ tin nhận, làm lễ mà lui).
Giải:
Đây chính là đoạn cuối cùng kết thúc kinh này, nhằm hiển thị ý: thính chúng đều được lợi ích, hoan hỷ tin nhận, phụng hành.
“Nhất thiết thế gian”: Hai chữ “nhất thiết” chỉ chung cả khí thế gian (vật chất), hữu tình thế gian (những loài có tình thức, có tri giác) và trí chánh giác thế gian (Phật). Chữ Thế chỉ thời gian, chữ Gian chỉ không gian. Như vậy, “nhất thiết thế gian” hàm ý hết thảy muôn vật trong vũ trụ, tất cả sinh linh, hết thảy chúng sanh trong sáu đường.
Trong từ ngữ “thiên, nhân, a tu la đẳng”, chữ “đẳng” là từ để lược xưng tất những chủng loại quỷ thần chưa được liệt kê cụ thể. Nói đầy đủ ra, gồm có tám bộ đại chúng. Ngoài trời và rồng ra, có sáu chúng như sau:
1) Dạ Xoa (còn phiên là Dược Xoa): Hán dịch là Khinh Tiệp (nhanh nhẹn, nhẹ nhàng), là một loài quỷ thường bay lượn trong không trung, thích ăn nuốt huyết nhục.
2) Càn Thát Bà (còn phiên là Kiện Đạt Phược, Ngạn Đạt Phạ): Hán dịch là Tầm Hương (tìm mùi thơm), là thần âm nhạc trong cõi trời Đao Lợi.
3) A Tu La (còn phiên là A Tố La, A Tố Lạc): Hán dịch là Phi Thiên (chẳng phải trời) hay Vô Đức. Loài này có phước báo, thần thông hơn hẳn loài người. Nam A Tu La hình dáng xấu xí, nữ A Tu La diện mạo vô cùng đẹp đẽ. Do kiếp trước hay tu hạnh bố thí, nhưng tâm hay sân hận, kiêu mạn, nên kiếp này được hưởng phước báo như chư thiên, nhưng thân hình thô kệch, thích đánh nhau với chư thiên.
4) Ca Lâu La (còn phiên là Yết Lỗ Noa): Hán dịch là Kim Sí Điểu (chim cánh vàng), là một loài chim rất to, hai cánh có màu vàng ròng, xòe ra rộng đến ba trăm ba mươi sáu vạn dặm. Loài chim này thường thích bắt rồng để ăn.
5) Khẩn Na La (còn phiên là Khẩn Nại Lạc, Kim Nại Lạc): Hán dịch là Nghi Thần. Hình dáng của họ giống như loài người, nhưng trên đầu có sừng, là thần chuyên chủ việc hát xướng của cõi trời.
6) Ma Hầu La Già (còn phiên là Mạc Hô Lạc Già, Ma Hổ La Nga): Hán dịch là Đại Mãng, thân người đầu rắn, cũng là một loại nhạc thần.
Hiểu theo Lý, Thiên có nghĩa là người sáng suốt, trong sạch, tự tại; Nhân là người khéo nhẫn nhục.
Trong Tự Phần, kinh nêu tên mười sáu vị A La Hán, bốn vị Bồ Tát và chư thiên chúng. Trong phần kết của Lưu Thông Phần, chỉ nêu tên Ngài Xá Lợi Phất và nói đại lược hết thảy thế gian. Đấy là vì trong Tự Phần, nêu tên những vị thánh giả tiêu biểu để phô diễn pháp đức. Trong Lưu Thông Phần, chỉ nhắc lại tên Ngài Xá Lợi Phất là ngụ ý: muốn tiếp thọ pháp này phải là
bậc có trí huệ đệ nhất, phải có trí huệ đệ nhất mới có thể lưu truyền, hoằng dương được pháp này.
Thêm nữa, ở đây chỉ nhắc đến tỳ kheo chứ không nói đến ba chúng tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, là vì tỳ kheo chính là chủ thể để duy trì Phật pháp. Nhắc đến tỳ kheo thì đương nhiên là đã bao quát cả tứ chúng. Hiểu sâu hơn, do tỳ kheo là bậc đoạn trừ phiền não, lấy việc khất thực để tạm nuôi dưỡng xác thân, khất pháp để trưởng dưỡng huệ mạng, nên ở đây kinh chỉ nhắc đến tỳ kheo là ngụ ý: người muốn hành trì, hoằng dương pháp môn này phải gắng dụng công tu tập cho nội tâm được yên tịnh (đoạn trừ phiền não, sống bằng hạnh nghiệp thanh tịnh). Tỳ kheo là chánh nhân của A La Hán, La Hán là quả của hạnh tỳ kheo.
Hơn nữa, Ngài Xá Lợi Phất địa vị cao tột trong các vị tỳ kheo, đã chứng quả A La Hán. Do đó, câu “cập chư tỳ kheo” đi liền ngay sau tên Ngài Xá Lợi Phất là nhằm ngụ ý: Quả (A La Hán) tương ứng với nhân (hạnh tỳ kheo).
Hai chữ “hoan hỷ” biểu thị tâm ý vui sướng, mừng rỡ. Vẻ mặt rạng rỡ là Hoan, tâm ý vui sướng là Hỷ. Hết thảy chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, trầm luân trong biển khổ sanh tử, thọ sanh trong khắp sáu đường, xoay vần thọ khổ không biết ngày nào ra. Ngày nay, cơ cảm thành tựu, nhân duyên chín muồi, đức Thế Tôn rủ lòng đại từ, đại bi, không ai hỏi tự giảng ra pháp phương tiện tối thắng, tối giản dị, nhanh chóng, thẳng tắt nhất để vãng sanh Cực Lạc, hưởng thọ mọi điều an lạc, khác nào mắc bệnh trầm kha lâu ngày chợt gặp thuốc hay, hỏi sao chẳng ai không sung sướng, mừng rỡ vô lượng?
“Tín thọ”: không những tin tưởng, ghi nhớ kỹ vào tận đáy lòng, lại còn đúng như pháp miên mật hành trì.